Bản án số 65/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 65/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phước Long (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 65/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Duy Thị B yêu cầu ông Nguyễn Khắc G và bà Nguyễn Hồng P trả tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆNPHƯỚC LONG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 65/2020/DS-ST
Ngày: 29 – 9 – 2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Chiếu
2. Ông Trần Văn Phước
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Ngân Thư Tòa án nhân dân huyện
Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham
gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long
xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 268/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 12
năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 150/2020/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Duy Thị B, sinh năm 1964; Địa chỉ: ấp M, V, huyện P,
tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trịnh Thanh
N, sinh năm 1974 – Là Luật sư của Văn phòng Luật sư Trịnh Thanh M thuộc Đoàn
Luật tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Số A khóm B, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc G, sinh m 1960 Nguyễn Hồng P,
sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Đỗ Văn M, sinh m 1964; Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc
Liêu.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Duy Thị B, sinh năm 1964;
Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2019)
(Có mặt)
3.2. Chị Nguyễn Dân Ph, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp M, V, huyện P, tỉnh
Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2019, lời khai trong hồ vụ
án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Duy Thị B trình bày:
Vào ngày 21/3/2017, bà có cho vợ chồng ông G và bà P vay số tiền
50.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, khi nhận tiền thì P tự viết giấy
biên nhận vay tiền đề ngày 21/3/2017 và ký tên vào biên nhận đưa cho bà giữ. Sau
đó khoảng 05 - 06 tháng, thì bà tiếp tục cho vợ chồng ông G P vay thêm số
tiền 150.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, trực tiếp cầm tiền đưa cho
P nhận, mặt ông G chứng kiến. Lần vay tiền này hai bên không m biên
nhận, chỉ nói miệng. Nhưng sau đó vợ chồng ông G đã thừa nhận nợ của tại
giấy vay mượn tiền ngày 28/01/2019 âm lịch.
Ngoài ra, chị Nguyễn Dân Ph (là con dâu của ông G P) ntiền
cụ thể: vào ngày 02/01/2018 âm lịch chị Ph mượn bà số tiền 40.000.000đ; ngày
01/10/2018 âm lịch mượn 30.000.000đ; ngày 15/11/2018 âm lịch mượn
50.000.000đ. Ngoài ra, chị Ph còn nhờ chơi m 01 chưng hụi tháng
5.000.000đ (do bà Phan Hồng T làm chủ), mỗi tháng khui một lần, chị Ph nhờ
hốt hụi đầu được số tiền 80.000.000đ, đưa tiền cho chị Ph nhận vào ny
09/10/2018 âm lịch. Các lần mượn tiền nhận tiền hụi thì chị Ph đều tự viết giấy
vay nợ tên vào scủa bà. Ngoài ra, chị Ph còn mượn số tiền 20.000.000đ
nhưng khi mượn không làm giấy tờ hết. Tổng cộng chPh nợ bà số tiền
220.000.000đ. Toàn bộ khoản nợ của chị Ph thì vợ chồng ông G và bà P đã nhận sẽ
trả thay chị Ph cho tại giấy vay mượn tiền o ngày 28/01/2019 âm lịch. Như
vậy, tổng cộng vợ chồng ông G và bà P nợ bà là 420.000.000đ. Từ khi vay tiền đến
nay thì vợ chồng ông G không đóng lãi và cũng không trvốn. Đối tiền hụi
hốt hụi m cho Ph thì Ph đưa cho số tiền 5.000.000đ để đóng một kỳ hụi.
Ngoài ra không có trả cho bà khoản nào khác.
Nay yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Khắc G và Nguyễn
Hồng P trả cho số tiền vay 420.000.000 đồng không yêu cầu nh lãi.
Ngoài ra bà không còn yêu cầu gì khác.
xác định số tiền này tài sản chung của vợ chồng bà. Ông M thống nhất
theo yêu cầu của bà, không có ý kiến nay yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Nguyễn Khắc G, Nguyễn Hồng P người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Dân Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
3
* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Trịnh Thanh
N trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Khắc G Nguyễn Hồng P
nghĩa vụ trả cho bà B số tiền 420.000.000 đồng và tiền lãi trong giai đoạn chậm thi
hành án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán Hội
đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã
thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng. Ông G, P, chị Ph chưa chấp hành
khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà B,
buộc ông G P nghĩa vụ trả cho B, ông M stiền 415.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà B đối với số tiền 5.000.000đ.
Về án phí: Ông G bà P phải chịu án p20.600.000 đồng. B phải chịu
300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nGên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên a, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền thtục tố tụng: Bà B khởi kiện yêu cầu ông G P
trả tiền vay, ông G và P đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn c vào khoản
6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước
Long thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông G, P chị Ph đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng
mặt ông G, P chị Ph đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu của đương sự: B yêu cầu ông G P trcho số tiền
420.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà B cung cấp
bản gốc Biên nhận vay tiền ngày 21/3/2017 (bút lục 140) vay số tiền 50.000.000
đồng chữ của P giấy vay mượn tiền ngày 28/01/2019 (bút lục 105)
gồm tiền mượn của ông G P 150.000.000 đồng, nhận thay nợ mượn nợ
hụi của chị Nguyễn Dân Ph (con dâu của ông G và bà P) số tiền 220.000.000 đồng,
tổng cộng 370.000.000 đồng, hứa cuối m 2019 trả 200.000.000 đồng còn
lại năm 2020 trả hai lần, có chữ ký của ông G và bà P. Ông G và bà P đã được Tòa
án thông báo về yêu cầu khởi kiện của B nhưng ông G P không đến Tòa
án và cũng không có ý kiến gì đối với u cầu của bà B. Tại Kết luận giám định số
68/GĐ-2020 ny 03/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự ng an tỉnh Bạc Liêu
(bút lục số 144-145) kết luận: “1. Chữ ký mang tên “Nguyễn Hồng P” trên các tài
liệu cần giám định hiệu A1, A2 so với chữ của Nguyễn Hồng P trên các tài
4
liệu mẫu so sánh hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ra; 2. Chữ viết tên
“Nguyễn Hồng P” dưới mục “Người làm biên nhận” trên tài liệu cần giám định ký
hiệu A1 và tại dòng 25 trên tài liệu cần giám định hiệu A2 so với chữ viết tên
“Nguyễn Hồng P” dưới mục “TM.BAN CHẤP HÀNH” trên tài liệu mẫu so sánh
ký hiệu M1 do cùng một người viết ra; 3. Chữ ký mang tên “Nguyễn Khắc G” dưới
mục “người mượn nợ” trên tài liệu cần giám định hiệu A2 so với chữ của
Nguyễn Khắc G trên tài liệu mẫu so sánh hiệu M5 do cùng một người ra.”
Căn cứ o kết luận giám định P tên vào biên nhận vay tiền ngày
21/3/2017 và giấy vay mượn tiền ngày 28/01/2019, ông G có ký tên vào vay mượn
tiền ngày 28/01/2019. Như vậy, việc ông G và P vay tiền của B nhận nợ
thay cho chị Ph thực tế xảy ra. Ông G bà P vay của B tổng số tiền
200.000.000 đồng nên ông G P trách nhiệm trả cho B phù hợp theo
Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
[4] Đối với khoản nợ của chị Nguyễn Dân Ph: Xét thấy chị Ph là người mượn
tiền của B thì chị Ph phải nghĩa vụ trả cho B, tuy nhiên như đã phân ch
trên thì căn cứ giấy vay mượn tiền ngày 28/01/2019, ông G P đã nhận trả nợ
thay khoản nợ của chị Ph cho B số tiền 220.000.000 đồng và bà B đồng ý. Điều
này cũng phù hợp theo Điều 370 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên
nghĩa vụ thể chuyển giao nghĩa vụ cho bên thế nghĩa vụ nếu được bên quyền
đồng ý,…”. Như vậy, nghĩa vụ trả nợ cho bà B của chị Ph đã được chuyển giao cho
ông G bà P nên ông G và bà P có nghĩa vụ trả nợ cho bà B thay cho chị Ph. Tại
Biên bản lấy lời khai ngày 08/01/2020, B xác định đối với số tiền 80.000.000
đồng chị Ph đưa cho B nhận số tiền 5.000.000 đồng nên khi buộc ông G
P trả tiền phải đối trừ lại số tiền 5.000.000 đồng mà chị Ph đã trả cho B, ông
G P chnghĩa vụ trả nợ thay cho chị Ph số tiền còn nợ 215.000.000
đồng.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ căn cứ chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của bà B, bà B xác định số tiền ông G và bà P nợ là tài sản
chung của vợ chồng bà B nên buộc ông G và P có nghĩa vụ trả cho bà Bông
M số tiền 415.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bà B yêu cầu ông G và
P trả số tiền 5.000.000 đồng. B không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra xem
xét giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn
cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về chi pgiám định 4.510.000 đồng. Ông G P phải chịu chi phí
giám định là 4.510.000 đồng. Bà B đã dự nộp số tiền 4.510.000 đồng nên buộc ông
G và bà P có nghĩa vụ trả lại cho bà B số tiền 4.510.000 đồng.
[8] Về án phí: Ông G và bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải
trả cho B 20.600.000 đồng. B phải chịu án phí trên yêu cầu không được
chấp nhận là 300.000 đồng. Các đương sự khác không phải chịu án phí.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 370, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Duy Thị B đối với ông
Nguyễn Khắc G Nguyễn Hồng P. Buộc ông Nguyễn Khắc G Nguyễn
Hồng P nghĩa vụ trcho Duy Thị B ông Đỗ Văn M số tiền 415.000.000
đồng (Bốn trăm mười lăm triệu đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu của Duy Thị B yêu cầu ông Nguyễn Khắc G
và bà Nguyễn Hồng P trả số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
3. Về chi phí giám định 4.510.000 đồng. Ông Nguyễn Khắc G
Nguyễn Hồng P phải chịu chi phí giám định 4.510.000 đồng. Duy Thị B đã
dự nộp số tiền 4.510.000 đồng nên buộc ông Nguyễn Khắc G Nguyễn Hồng
P có nghĩa vụ trả lại cho bà Duy Thị B số tiền 4.510.000 đồng.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Khắc G và bà Nguyễn Hồng P phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm là 20.600.000 đồng. Bà Duy Thị B phải chịu án phí 300.000 đồng. Bà B
đã d nộp số tiền tạm ứng án phí 10.400.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0004535 ngày 16/12/2019 tại Chi cục Thi hành án n shuyện
Phước Long nên được đối trừ và B được nhận lại số tiền 10.100.000 đồng.
5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6
7. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không mặt tại phiên tòa thì thời
hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Phước Long;
- Chi cục THADS huyện Phước Long;
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Yến Ly
Tải về
Bản án số 65/2020/DS-ST Bản án số 65/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất