Bản án số 63/2025/DS-ST ngày 11/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 63/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 63/2025/DS-ST ngày 11/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 63/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lưu Thị A "Yêu cầu xác định quyền sở hữu thi hành án" Trương Thị Kim V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 63/2025/DS-ST
Ngày: 11-9-2025
V/v tranh chấp yêu cầu xác định
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài
sản, phân chia tài sản để thi hành
án
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Minh Quang
2. Bà Lâm Thị Ngọc Huệ
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang - Thư Tòa án nhân dân Khu vực
6 Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn M Vi - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 Tây Ninh xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2022 về
việc “Tranh chấp yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản
chung để thi hành án” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-DS
ngày 20 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Lưu Thị Á, sinh năm 1958; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Trương Thị Kim V, sinh năm 1981; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Đinh Thị Lệ C, sinh năm 1970; (có mặt)
2/ Ông Đinh Thanh H, sinh năm 1981; (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
3/ Ông Lê Văn M, sinh năm 1970; (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- 2 -
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Lưu Thị Ánh N sau:
Theo Bản án số 24/2020/DS-ST ngày 23/6/2020 của a án nhân dân huyện Cần
Đước, tỉnh Long An buộc Trương Thị Kim V trách nhiệm trcho Á số tiền
238.000.000 đồng tiền lãi suất chậm thi hành án. Nhưng V không tự nguyện thi
hành án nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước xác minh thì thấy rằng ông
Đinh Thanh H chồng V đứng tên thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp B,
xã T và trên thửa đất có căn nhà của vợ chồng bà V.
Do đó để đảm bảo quyền lợi của bà Á, bà Á khởi kiện đối với bà V yêu cầu Tòa án
xác định phần quyền sở hữu, quyền tài sản của V trong thửa đất số 828, tờ bản đồ số
05, tọa lạc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An, nay xã T, tỉnh Tây Ninh và căn nhà có trên
thửa đất để làm cơ sở thi hành án cho bà Á.
Bà Á không biết rõ nguồn gốc thửa đất số 828, nhưng bà Á có nghe nói là cha ruột
của ông H cho vợ chồng ông H, V, tài sản được trong thời k hôn nhân tài sản
chung của vợ chồng bà V, ông H.
Bị đơn bà Trương Thị Kim V trình bày như sau:
V ông H về chung sống với nhau từ năm 2000, thực hiện việc đăng
kết hôn theo quy định pháp luật. Vào m 2020, ông H có nộp đơn ly hôn với V,
nhưng Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H, từ đó cho đến nay ông H và bà
V không có làm thủ tục ly hôn nữa và vẫn tiếp tục chung sống với nhau.
Về nguồn gốc thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp B, xã T là của cha chồng
cho riêng ông H từ trước khi vợ chồng tiến tới hôn nhân. Năm 2005, cha chồng m thủ
tục sang tên cho ông H được đứng tên đối với thửa đất số 828 thì chỉ cho một mình ông
H, trên hợp đồng tặng cho chỉ tên ông H, khi ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cũng chỉ có tên ông H. Ông H và bà V cũng không có làm văn bản thỏa thuận
thửa đất số 828 trở thành tài sản chung của vợ chồng ông H, bà V.
Trước giờ công việc chính của V phụ nấu đám tiệc, còn thửa đất số 828 thì
do ông H trực tiếp canh tác, V không phụ canh lúa cùng ông H, nhưng vợ chồng
ông H cùng sinh sống trên thửa đất này. Ban đầu nhà lá, sau nhiều năm nhà lá sập
xệ, hư dột rất nhiều, mỗi khi trời mưa, vợ chồng ông H V phải ra nhà chị ruột của ông
H nhờ. m 2018, ông H n toàn bộ thửa đất 828 cho Đinh Thị Lệ C chị ruột
của ông H. Ông H nói bán lấy tiền cất lại ncho con đi học, V không biết ông
H bán thửa đất số 828 bao nhiêu tiền, ông H cũng không nói cho V biết. Toàn bộ số
tiền bán đất do ông H quản lý. Tiền bán đất ông H sử dụng để cất nhà như hiện nay, ông
H nói là bà C cho cất nhà trên thửa đất số 828 vì ông H và bà C là chị em ruột.
Sau khi ông H bán đất thì ông H giao đất cho C canh c lúa, vợ chồng ông H
thì ở trên phần đất nền thuộc thửa đất số 828.
Bà V xác định thửa đất số 828 là tài sản riêng của ông H, không phải tài sản chung
của vợ chồng ông H V nên V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Á. V
không tài sản riêng nào khác để thi hành án cho Á, V cũng đã nhiều lần đề nghị
bà Á cho bà V trả dần hàng tháng từ 1.000.000 – 1.500.000 đồng nhưng bà Á không đồng
ý. Hiện nay công việc của V là phụ nấu đám tiệc thu nhập trung bình là từ 4.000.000
4.500.000 đồng/tháng.
Vì vậy, bà V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Á.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Lệ C trình bày:
- 3 -
Năm 2018, ông H cần tiền cho con đi học n kêu bán thửa đất số 828, C thấy
vậy mới mua lại thửa đất 828 với giá 1.750.000.000 đồng muốn giữ đất lại cho gia
đình. C ông H làm giấy tay mua bán đất ngày 01/8/2019, C đã giao đủ tiền
cho ông H ông H cũng đã giao đất cho C quản sử dụng. Sau khi bán đất cho
C, C thấy ông H không chỗ ở, ông H lại em ruột của C nên C đồng ý để
cho ông H tiếp tục lại trên thửa đất số 828 đồng ý cho ông H y dựng nhà kiên cố
trên thửa đất số 828.
Bà C và ông H chưa làm thủ tục sang tên thửa đất số 828 cho C đứng tên nhưng
ông H đã đưa bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 828 cho C
giữ. Do giữa ông H C chị em ruột nên C chưa sang tên liền thửa đất số 828,
trong trường hợp sau này con của ông H đi làm có tiền trả lại tiền cho bà C thì C cũng
đồng ý trả đất lại cho ông H hoặc con ông H.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Á, C đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện
của Á thửa đất y ông H đã bán cho bà C rồi, còn việc ông H C chưa sang
tên quyền tự do của C ông H. C xác định không yêu cầu Tòa án công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H C C thấy không cần
thiết, bà C và ông H sẽ tự thỏa thuận với nhau.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Thanh H trình y tại biên bản
lấy lời khai ngày 19/8/2025 như sau:
Thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp B, T của cha ruột tặng cho riêng
ông H, không phải tài sản chung vợ chồng của vợ chồng tạo lập. Phần đất y ông H đã
chuyển nhượng cho Đinh Thị Lệ C chị ruột của ông H với giá 1.750.000.000
đồng, lập giấy tay ngày 01/8/2019, ông H đã nhận tiền đầy đủ giao toàn bộ giấy tờ
đất giao đất cho C nhưng do ông không nhà nên C cho ông H cất nhà trên
thửa đất y. Việc Á khởi kiện không đúng thửa đất y tài sản riêng của ông H
ông H đã chuyển nhượng cho C, đã giao đất cho C. Do tài sản quyền sử dụng
đất tài sản thửa đất số 828 ông H đã chuyển nhượng cho C nên ông H không còn
liên quan đến phần này, ông H đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết
vụ án tại tòa án các cấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn M trình bày tại biên bản lấy
lời khai ngày 19/8/2025 như sau:
Thửa đất số 828, tờ bản đồ 05, tọa lạc ấp B, T ông M cùng với vợ
Đinh Thị Lệ C nhận chuyển nhượng từ ông Đinh Thanh H đã trả tiền nhận đất. Hiện
nay, Lưu Thị Ánh khởi K thì ông M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Á,
ông M thống nhất với trình y của C, C được toàn quyền quyết định trong vụ án
này. Do ông M bận việc gia đình nên ông M đề nghị cho Tòa án ông M được vắng mặt
trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án các cấp.
Đại diện Viện kiểm t nhân dân Khu vực 6 Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: từ khi thụ vụ án cấp thẩm cho đến thời điểm hiện tại thì Thẩm phán,
Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung: Xác định thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.524m², loại đất
lúa căn nhà trên đất, tài sản gắn liền với đất tài sản chung của vợ chồng ông Đinh
Thanh H và bà Trương Thị Kim V.
Về án phí: đương sự chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.
- 4 -
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1]. Nguyên đơn bà Lưu Thị Ánh khởi K yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu,
quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án” đối với Trương Thị
Kim V nơi cư trú tại ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (trước đâyấp B, xã T, huyện C, tỉnh
Long An) nên căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 1
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính,
Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 Tây Ninh.
[1.2]. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Thanh H, ông Văn M
yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông M, ông H.
[2]. Về nội dung: Bà Lưu Thị Á yêu cầu Tòa xác định quyền sở hữu tài sản, quyền
sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án của vợ chồng Trương Thị Kim
V, ông Đinh Thanh H là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp
B, T, huyện C, tỉnh Long An, nay ấp B, T, tỉnh Tây Ninh tài sản trên đất để
đảm bảo thi hành án cho Á số tiền 238.000.000 đồng tiền lãi suất chậm thi hành án
theo Bản án số 24/2020/DS-ST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước,
tỉnh Long An.
[2.1] Xét thấy, căn cứ Công văn số 654/CV-UBND ngày 06/8/2025 của y ban
nhân dân T thể hiện V ông H đăng kết hôn tại y ban nhân dân T vào
ngày 04/6/2002 được cấp Giấy chứng nhận kết n số 74/2002, nên xác định thời kỳ
hôn nhân của V ông H được xác lập từ ngày 04/6/2002. Trong quá trình giải quyết
vụ án, V lời trình bày trong m 2020, ông H nộp đơn ly hôn với V tại Tòa
án nhân dân huyện Cần Đước nhưng Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H
và vợ chồng tiếp tục chung sống cho đến nay là phù hợp với Bản án hôn nhân gia đình số
82/2020/HNGĐ-ST ngày 03/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long
An.
[2.2] Về tài sản quyền sử dụng đất tại thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc
ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An, nay ấp B, T, tỉnh y Ninh, cả V, ông H
C đều cho rằng đây tài sản riêng của ông H được cha ruột cụ Đinh Ngọc C1 cho
riêng và do ông H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử căn cứ
vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 828 do ông H đứng
tên thì vào ngày 17/11/2005, cụ C1 ông H đã kết hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số 3510.CN đối với thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.524m
2
, tọa
lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An, theo đó, bên chuyển nhượng là cụ C1, bên nhận chuyển
nhượng ông H, tại các điều khoản được nêu trong hợp đồng nêu trên không thể hiện
nội dung cụ C1 cho riêng ông H thửa đất y, hợp đồng được y ban nhân dân T
chứng thực. Đến ngày 10/01/2006, ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất 828, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 115222 do Ủy ban
nhân dân huyện C cấp, số vào sổ cấp GCN số H00499 tại mục II Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thể hiện nguồn gốc sử dụng đất là nhận quyền sử dụng đất do chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Như vậy, thời điểm ông H nhận chuyển nhượng được đứng tên trong thời kỳ
hôn nhân giữa V ông H. Tại biên bản xác minh ngày 31/7/2025, trưởng ấp B, T
- 5 -
cung cấp thông tin V ông H sinh sống trên thửa đất tranh chấp từ khi kết hôn cho
đến nay, nên căn cứ xác định V sinh sống ổn định cùng chồng, cùng quản lý, sử
dụng thửa đất.
Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014: Tài sản chung của vợ
chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập trong thời kỳ hôn nhân tài sản khác
vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung, cũng như tài sản vợ, chồng
nhận được trong thời khôn nhân, trừ trường hợp được tặng cho, thừa kế riêng hoặc
thỏa thuận là tài sản riêng theo quy định tại Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
Trong trường hợp quyền sử dụng đất do vợ, chồng có được sau khi kết hôn giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên một người thì vẫn được coi tài sản chung
của vợ chồng, trừ khi có căn cứ chứng minh.”
[2.3] Mặt khác, căn cứ vào hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 828, tờ bản đồ số 05 nêu trên thì vào ngày 21/01/2019, Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 bên nhận thế chấp Bên A ông Đinh Thanh H, Trương Thị Kim V
bên thế chấp Bên B đã kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Tại Điều 1 của
Hợp đồng thế chấp nội dung Bên B đồng ý thế chấp cho bên A các tài sản của Bên A
nêu tại Điều 2 Hợp đồng thế chấp…”. Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quy định về tài
sản sản thế chấp “a. Loại tài sản thế chấp: quyền sử dụng đất;
b. Mô tả tài sản thế chấp:
Quyền sử dụng đất số thửa đất 828
Tờ bản đồ số 05, địa chỉ: xã T, huyện C, tỉnh Long An…
c. Hồ pháp chứng minh quyền sử dụng và/hoặc quyền sở hữu TSTC của bên
B gồm có: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 115222 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp ngày 10/01/2006, số vào sổ cấp GCN số H00499…”
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất này được Văn phòng C2 công chứng ngày
21/01/2019, số công chứng 492, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD. Tại phiên tòa, bà V xác
định bà V có ký tên vào hợp đồng thế chấp.
Từ những nội dung thể hiện tại hợp đồng thế chấp y căn cứ xác định ông H,
bà V đã xác định thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05 là tài sản chung của ông H, bà V.
[2.4] Tại Bản án hôn nhân gia đình số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 03/9/2020 của
Tòa án nhân dân huyện Cần Đước và tại phiên tòa hôm nay, bà V trình bày bà V là người
tạo ra thu nhập nhiều hơn ông H, các khoản chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, việc chăm
sóc nuôi dạy con cái đều do V quán xuyến, nên căn cứ xác định V cũng
công sức quản lý, duy trì đời sống gia đình, đóng góp vào duy trì tạo lập tài sản chung.
Đối với căn nhà trên thửa đất số 828, theo phía V, C ông H trình bày
được xây dựng từ nguồn tiền chuyển nhượng thửa đất 828, tiền riêng của ông H, tuy
nhiên, V xác định vchồng cùng sinh sống tại căn nhà y không lập văn bản
thỏa thuận căn nhà tài sản riêng theo quy định tại Điều 47, Điều 48 Luật hôn nhân gia
đình, nên không căn cứ xác định căn nhà trên thửa đất số 828 tài sản riêng của ông
H.
Hơn nữa, tại Bản án hôn nhân gia đình số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 03/9/2020 của
Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, V, ông H đều trình y vợ chồng tự thỏa thuận về
tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết Bản án tuyên xử không chấp nhận yêu cầu
- 6 -
khởi kiện ly hôn của ông Đinh Thanh H nên vấn đề về tài sản chung giữa V ông H
chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Từ những nội dung được phân tích tại các mục [2.1]; [2.2]; [2.3] và [2.4] Hội đồng
xét xử xét thấy có căn cứ xác định thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp B, T,
huyện C, tỉnh Long An, nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh và căn nhà có trên thửa đất là tài
sản chung của bà V, ông H.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đinh Thị Lệ C trình bày C đã nhận chuyển nhượng thửa đất số 828 theo giấy sang
nhượng đất ngày 01/8/2019, nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2025 C xác
định C không làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa C ông H nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, C
tranh chấp thì được quyền nộp đơn khởi kiện bằng một vụ án khác.
[4] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát Khu vực 6 Tây Ninh, phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: 32.500.000 đồng. Bà V phải chịu và hoàn trả lại cho bà Á.
[6] Về án phí: Bà V chịu án phí không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều
147; Điều 157; Điều 165; khoản 1 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá sản Luật hòa giải
đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 74 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Ánh đối V1 bị đơn
Trương Thị Kim V về việc yêu cầu xác định phần quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản,
phân chia tài sản chung để thi hành án.
Xác định quyền sử dụng đất tại thửa đất số 828, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp B,
T, tỉnh y Ninh (trước đây là ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 115222, số vào sổ cấp GCN H 00499 ngày 10/01/2006 do Ủy
ban nhân dân huyện C cấp cho ông Đinh Thanh H đứng tên và căn nhà có trên thửa đất là
tài sản chung của ông Đinh Thanh H và bà Trương Thị Kim V.
2. Chi phí tố tụng: 32.500.000 đồng. Trương Thị Kim V phải chịu trách
nhiệm hoàn lại cho bà Lưu Thị Ánh .
3. Về án phí: Trương Thị Kim V phải chịu án phí dân sự thẩm 300.000
đồng.
- 7 -
4. Về quyền kháng cáo: Bản án thẩm, đương sự mặt quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định đựơc thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND Khu vực 6 – Tây Ninh;
- Phòng THA.DS Khu vực 6 – Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
Nguyễn Võ Thu Xuân
Tải về
Bản án số 63/2025/DS-ST Bản án số 63/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2025/DS-ST Bản án số 63/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất