Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 60/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 25 tháng 5 năm 2026, bị đơn Dương Trung H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 60/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 27-08-2026
V/v tranh chấp: “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con, chia tài
sản khi ly hôn; tranh chấp về
vay tài sản; tranh chấp về
chuyển quyền sở hữu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Ông Trương Vĩnh Hữu
Nguyễn Ái Đoan
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Hà Thúy Thảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 tháng 8 ngày 27 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
35/2026/TLPT-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về vay tài sản; tranh chấp
về chuyển quyền sở hữu”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 113/2026/HNGĐ-ST ngày 12
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1252/2026/QĐ-PT
ngày 20 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thùy D, sinh ngày 24/02/1992 (có mặt);
Địa chỉ cư trú: Số H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở hiện nay: Số B, ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Dương Trung H, sinh năm 1986 (có mặt);
2
Địa chỉ cư trú: Số H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965 (có mặt);
2. Dương Văn H1, sinh năm 1964 (có mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Số H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969 (có mặt);
4. Trần Thị T1, sinh năm 1969 (xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Số B, ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn Dương Trung H, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Nguyễn Ngọc T, Dương Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D trình bày:
Về hôn nhân: Khoảng năm 2015, anh chị thông qua mai mối của người
lớn, đến ngày 09/4/2015 âm lịch, cha mhai bên đồng ý tổ chức lễ cưới cho
anh chị; ngày 21/3/2016, vợ chồng đi đǎng kết hôn theo quy định của pháp
luât được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang (cũ) cấp giấy
chứng nhận đăng kết hôn số 48. Sau khi vợ chồng kết hôn, chị về nhà cha
mẹ chồng sinh sống tại số H, khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Ðồng Tháp
(cũ). Lúc đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc sinh ra được hai con tên
Dương Duy L, sinh ngày 29/4/2016 Dương Ngọc Khánh T2, sinh ngày
03/4/2019.
Đồng thời, trong ngày cưới vợ chồng anh chị được cha mẹ bên chồng
cho 10 chỉ và 24kara, loại 9999 và cha mẹ bên nhà chồng đi tiền đồng
20.000.000đồng; cha mẹ ruột của chị cho vợ chồng 10 chỉ và 24kara, loại 9999.
Sau đám cưới, vợ chồng anh chị mua 01 chiếc ghe đục, trọng tải khoảng
08 tấn giống, giá mua ghe khoảng 720.000.000đồng; sau này, vợ chồng làm
ăn tiền mua thêm 01 chiếc ghe đục, trọng tải khoảng 07 tấn giống, giá
mua 350.000.000đồng và vợ chồng tiếp tục mua thêm chiếc chẹt giá mua
115.000.000đồng. Hiện nay do chồng chị tên Dương Trung H quản lý, sử dụng
03 chiếc ghe này. Trong khoảng thời gian vợ chồng chung sống mua hai
chiếc ghe đục một chiếc chẹt để vợ chồng làm phương tiện kinh doanh cho
gia đình; tuy nhiên, vợ chồng vẫn còn thiếu vốn làm ăn nên chị về nhà cha
ruột tên Nguyễn Văn H2 hỏi mượn tiền của cha nhiều lần, tổng cộng số tiền
3
mượn là 300.000.000đồng.
Khoảng năm 2020 dương lịch, chị anh H bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn,
thường xuyên tranh cãi, tuy chung sống một nhà nhưng chồng chị không quan
tâm đến vợ các con, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm
sống, chồng chị thường vắng nhà, chị nghi ngờ anh Dương Trung H mối
quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, cuộc sống chung không
mang lại hạnh phúc, chị đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được nên chị và anh
Dương Trung H đã sống ly thân từ ngày 04/7/2025 cho đến nay, khi đi chị dẫn
con gái tên Dương Ngọc Khánh T2 về nhà cha mruột sống tạm, từ khi chị về
đến nay chồng chị vẫn không quan tâm, không hàn gắn. Nay nhận thấy không
thể duy tquan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn
gắn được nên nay chị yêu cầu ly hôn với anh Dương Trung H.
Về nuôi con chung: 02 người con chung tên Dương Duy L, sinh ngày
29/4/2016 và Dương Ngọc Khánh T2, sinh ngày 03/4/2019, chị xin thay đổi
yêu cầu, yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung tên Dương Ngọc Khánh T2,
còn Dương Duy L thống nhất giao cho anh Dương Trung H nuôi dưỡng; về cấp
dưỡng: Không yêu cầu cấp dưỡng (hiện nay, con lớn sống với cha, còn đứa nhỏ
sống với chị).
Về tài sản chung: Chị yêu cầu chia các tài sản như sau: 02 chiếc ghe đục
01 chiếc chẹt, trị giá khoảng 800.000.000đồng, chị yêu cầu anh Dương
Trung H chia cho chị được hưởng 50% giá trị tài sản với số tiền
400.000.000đồng, chị thống nhất giao toàn bộ tài sản này cho anh Dương
Trung H tiếp tục sở hữu, quản lý, sử dụng.
Về người khác nợ: Nguyễn Ngọc T nợ vợ chồng chị số tiền
720.000.000đồng và yêu cầu Nguyễn Ngọc T trả cho chị số tiền được hưởng
là 50%, thành tiền 360.000.000đồng.
Về nợ chung: Vợ chồng chị nợ ông Nguyễn Văn H2 (Cha ruột), sinh
năm 1969; địa chỉ trú tại số B, ấp P, C, tỉnh An Giang số tiền
300.000.000đồng. Chị yêu cầu chia đôi số nợ và chị đồng ý trả cho ông Nguyễn
Văn H2 số tiền 150.000.000đồng, n anh Dương Trung H phải trả cho ông
Nguyễn Văn H2 số tiền 150.000.000đồng.
Bị đơn anh Dương Trung H do người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp Tăng Thị L1 trình bày:
Thống nhất với tất cả lời trình bày về quá trình hôn nhân giữa anh Dương
Trung H với chị Nguyễn Thùy D. Năm 2016, anh Dương Trung H kết hôn với
4
chị Nguyễn Thùy D. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống hạnh phúc đến nay
đã gần 10 năm, trong cuộc sống chung cũng tranh cãi, cũng mâu thuẫn,
nhưng chỉ những mâu thuẫn nhỏ, không đến mức ly hôn, anh Dương Trung
H còn rất thương vcon, giữa anh, chị không rạn nứt cả, nên anh ơng
Trung H yêu cầu được đoàn tụ vợ chồng, không thống nhất ly hôn.
Về nuôi con chung: 02 người con chung tên Dương Duy L, sinh ngày
29/4/2016 Dương Ngọc Khánh T2, sinh ngày 03/4/2019; anh Dương Trung
H yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị Nguyễn Thùy D
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con (hiện nay, con lớn sống với anh Dương
Trung H, còn đứa nhỏ sống với chị Nguyễn Thùy D).
Về chia tài sản chung: Anh Dương Trung H không thống nhất với toàn
bộ yêu cầu của chị Nguyễn Thùy D với do 02 chiếc ghe đục 01 chiếc
ghe chẹt tài sản chung, hoàn toàn không đúng sự thật vì: 01 chiếc ghe đục
mang biển số AG-0855-TS mua vào năm 2018 với số tiền 700.000.000đồng
(khi đó bán 02 lượng vàng cưới với số tiền 72.000.000đồng, với gthị trường
36.000.000đồng/lượng; phần còn lại là 628.000.000đồng, được ba mẹ ruột của
anh tên bà Nguyễn Ngọc T ông Dương Văn H1 hỗ trợ cho mượn để trả). Về
giấy tờ ghe khi đó anh Dương Trung H đã nhờ ông Nguyễn Văn H2 (Ba vợ)
đứng tên tài sản với do: Ba vợ anh nói ghe giấy tờ chủ tỉnh An Giang
nếu chuyển về Đồng Tháp khác tỉnh phải ra ngoài bộ sang tên mới được, rất tốn
chi phí, nên anh Dương Trung H đã đồng ý để ông Nguyễn Văn H2 (ba vợ)
đứng tên dùm; 01 Chiếc ghe biển số ĐT-14400 mua vào năm 2024 với số tiền
350.000.000đồng cũng được sự hỗ trợ cho mượn vốn của ba mẹ ruột anh tên
Nguyễn Ngọc T ông Dương Văn H1 với số tiền 175.000.000đồng, trong
đó anh đồng sở hữu với anh Đặng Văn N 50%/ghe đồng nghĩa mỗi người
chi trả 175.000.000đồng sau đó ngày 10/05/2025 anh đã đồng ý bán phần
hùn của anh trên chiếc ghe cho anh Đặng Văn N với số tiền 150.000.000đồng
anh đang eo hẹp tài chính; 01 chiếc ghe sắt (chiếc chẹt) anh mua vào năm
2022 cũng được ba mẹ ruột anh tên Nguyễn Ngọc T và ông Dương Văn H1
hỗ trợ cho mượn với số tiền 115.000.000đồng anh cũng đã bán vào tháng
6/2025 với số tiền 70.000.000đồng, do bán phà đã hỏng (bán sắt vụn)
người mua là anh N1 số điện thoại: 0819 249 276.
Về phần nợ: Vợ anh khai mẹ ruột anh Nguyễn Ngọc T nợ
720.000.000đồng, anh hoàn toàn không biết không đúng sthật, nếu được
chia thì anh thống nhất nhận.
Về nợ chung: Theo đơn kiện, vợ anh khai nợ ông Nguyễn Văn H2
5
(Ba vợ) với số tiền 300.000.000đồng anh hoàn toàn không biết, số nợ đó
vô căn cứ. Đối với việc chị Nguyễn Thùy D yêu cầu mẹ anh trả s tiền
720.000.000đồng thì anh cũng không biết. Nếu có nợ thật thì anh thống nhất để
lại cho mẹ anh, mẹ anh chỉ cần trả ½ số tiền cho chị Nguyễn Thùy D.
Ngoài ra, anh ơng Trung H yêu cầu ông Nguyễn Văn H2 chuyển
quyền sở hữu (sang tên) giấy đăng ký ghe cho anh Dương Trung H đứng tên.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Dương Trung H thống nhất trình bày của
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H2 trình bày:
Do nghĩa tình cha con, nên mỗi lần con thiếu vốn làm ăn, không có tiền xoay sở
nên ông cho con mượn nhiều lần, mỗi lần vài triệu, vài trăm nghìn đồng, vài
chục triệu, nhiều lần, tổng cộng số tiền hai con mượn của ông
300.000.000đồng nhưng Dương Trung H cho rằng Dương Trung H không biết.
Tuy nhiên, ông cho con mượn không giấy tờ, không bằng chứng nên nay ông
không yêu cầu Nguyễn Thùy D hay Dương Trung H trách nhiệm trả số tiền
này cho ông. Tuy nhiên, có 01 chiếc ghe của ông đứng tên giấy đăng ghe,
hiện do Dương Trung H đang quản lý, sử dụng. Nếu Nguyễn Thùy D, Dương
Trung H trả cho ông 300.000.000đồng thì ông sẽ sang tên chiếc ghe.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu chị Nguyễn Thùy
D, anh Dương Trung H, mỗi người trách nhiệm trả cho ông số tiền
150.000.000đồng, thì ông sẽ đồng ý chuyển quyền sở hữu (sang tên) giấy đăng
ký ghe cho anh Dương Trung H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc T ông
Dương Văn H1 do người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trình bày: Đối với
việc Nguyễn Thùy D trình bày Nguyễn Ngọc Thanh T3 số tiền
720.000.000đồng là không đúng, vì bà không có thiếu tiền hụi vợ chồng
Nguyễn Thùy D. Sau khi Toà án mở đoạn ghi âm thì bà có mượn hụi và hốt hụi
để lo cho vợ chồng nó, ai ngờ nó tính toán mà ghi âm như vậy. Bà chỉ còn thiếu
02 chân hụi 2.000.000đồng và chầu 12 lần là mãn hụi, nên bà chỉ còn thiếu tiền
hụi của Nguyễn Thùy D 48.000.000đồng. Năm 2018, vợ chồng cho vợ
chồng D, H mượn số tiền 628.000.000đồng để mua chiếc ghe đục biển số AG
0855 TS, với giá 700.000.000đồng; D, H bán 20 chỉ vàng cưới là
72.000.000đồng mượn thêm của vợ chồng s tiền 628.000.000đồng.
Nguồn tiền vợ chồng bà cho mượn là tiền bán lúa Đông X hỏi thêm tiền bên
ngoài để đưa cho D, H mua ghe. Vợ chồng H, D mượn ông H2 (cha ruột của D)
6
mua dùm ghe An Giang. T mang tiền qua An Giang đưa cho mẹ ruột của
D T1 số tiền 628.000.000đồng; đưa không giấy tờ. Sau đó, ông H2
mua ghe đã giao cho H sử dụng chở mướn giống cho người ta. Ông H2
đứng tên ghe nói mua ghe An Giang sang tên cho H Đồng Tháp khó
khăn nên H chưa đi sang tên. Do đó đến nay vợ chồng D, H còn nợ chúng tôi số
tiền là 628.000.000đồng.
Năm 2024, vợ chồng ông cho D, H mượn tiền mua 01 chiếc ghe đục
350.000.000đồng ợn 110.000.000đồng mua 01 chiếc chẹt, tổng cộng
460.000.000đồng. Đến năm 2025 D, H bán ghe đục là 350.000.000đồng, bán
chẹt là 70.000.000đồng, tổng cộng là 420.000.000đồng lỗ 40.000.000đồng
nhưng đã trả lại cho vợ chồng bà số tiền 100.000.000đồng, còn thiếu lại
360.000.000đồng, nhưng do vợ chồng nó bán ghe lỗ, nên vợ chồng ông chỉ yêu
cầu trả 320.000.000đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, vchồng ông Dương Văn H1 yêu cầu Nguyễn
Thùy D phải trả số tiền 474.000.000đồng và Dương Trung H phải trả số tiền
474.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T1 trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của chồng tên Nguyễn Văn H2. Ngoài ra, không ý
kiến, yêu cầu gì thêm.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 113/2026/HN-ST ngày 12
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 Đồng Tháp áp dụng
khoản 2, 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147,
Điều 157, 158, 227 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khoản 2
Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân snăm
2025; các Điều 158, 213, 220 235 của Bộ luật dân snăm 2015; các Điều
33, 38, 55, 59, 60, 81, 82 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều
26 và Điều 27 của Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chị Nguyễn
Thùy D và anh Dương Trung Hiếu thuận T4 ly hôn.
Về nuôi con chung:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chị Nguyễn Thùy D được
tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Dương Ngọc
7
Khánh T2, sinh ngày 03/4/2019 (Cháu Dương Ngọc Khánh T2 nguyện vọng
đang sống chung với chị Nguyễn Thùy D); anh Dương Trung H được tiếp
tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Dương Duy L,
sinh ngày 29/4/2016 (Cháu Dương Duy L nguyện vọng đang sống chung
với anh Dương Trung H).
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét,
giải quyết.
Chị Nguyễn Thùy D cùng các thành viên gia đình không được cản trở
anh Dương Trung H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
tên Dương Ngọc Khánh T2 ngược lại, anh ơng Trung H cùng các thành
viên gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thùy D trong việc thăm nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Dương Duy L.
Về chia tài sản chung: 02 chiếc ghe 01 chiếc chẹt với tổng giá trị
800.000.000đồng (T5 trăm triệu đồng), trong đó, 01 chiếc ghe đục 01
chiếc chẹt đã bán, còn lại 01 chiếc ghe do anh Dương Trung H trực tiếp quản
lý, sử dụng.
Chị Nguyễn Thùy D được chia giá trị tài sản chung với số tiền
400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Buộc anh Dương Trung H trách nhiệm chia giá trị tài sản chung cho
chị Nguyễn Thùy D với số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Anh Dương Trung H được chia hiện vật tài sản quyền sở hữu chiếc
ghe biển số AG 0855-TS.
Về người khác nợ: Buộc Nguyễn Ngọc T phải trả cho chị Nguyễn
Thùy D tiền hụi còn thiếu là 24.000.000đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu của anh Dương Trung H.
8
Buộc ông Nguyễn Văn H2 phải chuyển quyền sở hữu chiếc ghe đục
theo giấy chứng nhận đăng tàu số đăng ký” AG 0855 TS cho anh
Dương Trung H theo quy định của pháp luật.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H2.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thùy D; chị Nguyễn Thùy D
thống nhất trả cho ông Nguyễn Văn H2 số tiền 150.000.000đồng (Một trăm
năm mươi triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Dương Văn H1 và
Nguyễn Ngọc T.
Anh Dương Trung H thống nhất trả cho ông Dương Văn H1 số tiền
mượn (vay) còn thiếu 237.000.000đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Anh Dương Trung H thống nhất trả cho bà Nguyễn Ngọc T số tiền mượn
(vay) còn thiếu 213.000.000đồng (Hai trăm mười ba triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, bị đơn Dương Trung H đơn kháng cáo
yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gm: Ông H yêu cầu Toà án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp sửa bản án thẩm. Yêu cầu Toà phúc thẩm xử chia tài
sản chung của vợ chồng đối với chiếc ghe biển số AG-0855-TS gtrị định giá
380.000.000đồng. Chia cho chị Nguyễn Thùy D 1/2 giá trị tài sản
190.000.000đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D chia tài sản
chung đối với 01 chiếc ghe ĐT-14400 định giá 350.000.000đồng đối với 01
chiếc ghe sắt (chiếc chẹt) định giá 70.000.000đồng.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Dương Văn H1, bà Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo yêu cu Tòa án cp phúc
thm gii quyết bao gm: Ông H1, T yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xử chấp nhận yêu cầu độc lập của ông - bà, buộc chị Nguyễn Thị Thùy D
9
trả nợ tiền mượn mua ghe cho ông bà số tiền là 474.000.000đồng.
oTại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn Dương Trung H, người quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Dương Văn
H1, Nguyễn Ngọc T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng
quy định của pháp luật. Các đương sự ng chấp hành theo đúng quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án yêu cầu kháng cáo: Về hôn nhân con chung.
Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên không đặt
ra xem xét. Đối với tài sản chung 01 chiếc ghe đục Tòa án thẩm đã xét xử
căn cứ, đúng pháp luật. Đối với chiếc ghe còn lại chiếc chẹt anh H cho
rằng anh hùn tiền với ông N để mua ghe là không có cơ sở. Căn cứ vào hợp đồng
mua bán ghe giữa anh H ông N, sở xác định chiếc ghe này tài sản
chung của anh H chD, do phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Đối với chiếc
chẹt thì anh H cũng không chứng cứ chứng minh là tài sản riêng của anh H,
do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh H. Đối với kháng cáo của bà
T, ông H1: Như đã phân tích trên, do T, ông H1 không chứng cứ chứng
minh chị D mượn tiền, nên án thẩm đã xét xử căn cứ. Đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn Dương Trung H,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn H1, bà Nguyễn Ngọc T,
lời trình bày của các đương sự kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý
kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về vay tài sản; tranh
chấp về chuyển quyền sở hữu căn cứ, đúng theo pháp luật. Sau khi t
xử thẩm thì bị đơn Dương Trung H, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Dương Văn H1, Nguyễn Ngọc T kháng cáo bản án trong thời hạn
luật định, anh H nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ, ông H1 T
được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
10
[2] Về nội dung vụ án: Thông qua mai mối, được sự thống nhất của hai
bên gia đình nên chị D và anh H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, có tổ
chức lễ cưới đăng kết hôn theo qui định. Vợ chồng chị D anh H
02 con chung tên Dương Duy L, sinh ngày 29/4/2016 Dương Ngọc Khánh
T2, sinh ngày 03/4/2019. Anh chị sống hạnh phúc phúc đến năm 2020 thì
phát sinh mâu thuẫn ly thân. Quá trình giải quyết vụ án giai đoạn thẩm
thì chị D anh H đã thỏa thuận được với nhau về việc thuận tình ly hôn và nuôi
con chung, đã được Tòa án thẩm ghi nhận sthỏa thuận của các đương sự.
Các bên hiện đang tranh chấp với nhau về tài sản chung nợ chung của vợ
chồng. Sau khi tòa án sơ thẩm xét xử thì anh H, ông H1, bà T kháng cáo bản án
sơ thẩm.
[3] Trước hết, đối với quan hệ hôn nhân và con chung giữa chị D anh
H đã được Tòa án thẩm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nên Tòa
án phúc thẩm không đặt ra xem xét. Đối với phần yêu cầu độc lập của ông
Nguyễn Văn H2, Trần Thị T1 thì sau khi Tòa án thẩm xét xử các đương
sự cũng không kháng cáo, Tòa án phúc thẩm cũng không đặt ra xem xét.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ơng Trung H về việc Yêu cầu
Toà phúc thẩm xử chia tài sản chung của vợ chồng đối với chiếc ghe biển số
AG-0855-TS giá trị định giá là 380.000.000đồng. Chia cho chị Nguyễn Thùy D
1/2 giá trị tài sản 190.000.000đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
chị D chia tài sản chung đối với 01 chiếc ghe ĐT-14400 định giá
350.000.000đồng đối với 01 chiếc ghe sắt (chiếc chẹt) định giá
70.000.000đồng.
[4.1] Căn cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ thể hiện chiếc ghe AG-0855-
TS đã được Tòa án thẩm xác định đây là tài sản thuộc sở hữu chung của v
chồng chị D anh H, buộc ông H2 (Cha chị D) làm thủ tục sang tên cho anh H
được sở hữu và chia luôn cho anh H tài sản này, đồng thời anh H phải thối chia
cho chị D số tiền 190.000.000đồng. Sau khi xét xthẩm tchị D, ông H2
cũng không kháng cáo đối với quyền sở hữu của chiếc ghe AG-0855-TS. Xét
thấy, bản án thẩm đã xét xử chia tài sản chiếc ghe AG-0855-TS như trên
có căn cứ, đúng pháp luật.
[4.2] Xét yêu cầu kháng cáo của anh H về việc tranh chấp tài sản chung
vợ chồng là chiếc ghe ĐT-14400 định giá 350.000.000đồng và đối với 01 chiếc
ghe sắt (chiếc chẹt) định giá 70.000.000đồng. Tài liệu trong hlời
trình bày của các đương sự cùng thể hiện, chiếc ghe ĐT-14400 chiếc chẹt
được vợ chồng mua vào năm 2018. Anh H cho rằng đây không phải tài sản
11
chung của vợ chồng. Tuy nhiên, lời trình bày của anh H không được chị D thừa
nhận. Hội đồng xét xử nhận thấy, tài sản này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân,
được khai thác sử dụng chung trong cuộc sống hàng ngày. Căn cứ theo qui định
tại khỏan 3 Điều 33 của Luật hôn nhân gia đình đã qui định “...3. Trong trường
hợp không căn cứ để chứng minh tài sản vợ, chồng đang tranh chấp
tài sản riêng của mỗi bên thì i sản đó được coi tài sản chung..”. Do đó,
Tòa án thẩm xác định đây tài sản chung của vợ chồng chia đôi
căn cứ, đúng pháp luật.
[4.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H chứng minh bằng tài khoản sao
ngân hàng, từ ngày 02/01/2025 đến ngày 27/7/2025 anh H nhiều lần chuyển
khoản cho chị D số tiền 126.470.000đồng. Anh H cho rằng đây nguồn tiền
bán ghe + chiếc chẹt và chuyển khoản cho chị D. Chị D cũng chứng minh bằng
bảng sao kê tài khỏan ngân ng từ ngày 05/01/2025 đến ngày 30/4/2025 chị D
13 lần chuyển khỏan cho anh H số tiền 219.500.000đồng. Xét thấy, trong
thời gian này anh H và chị D nhiều lần chuyển khoản tiền cho nhau, nên xác
định đây là nguồn tiền vợ chồng cùng làm ăn trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, lời
trình bày của anh H cho rằng lấy tiền từ nguồn bán ghe + chẹt đưa cho chị D
không schấp nhận. Anh H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ
gì mới để chứng minh, không có cơ sở để châp nhận yêu cầu kháng cáo của anh
H.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Dương Văn H1, Nguyễn Ngọc T
yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử chấp nhận yêu cầu độc lập của
ông bà, buộc chị Nguyễn Thị Thùy D trả nợ tiền ợn mua ghe cho ông số
tiền 474.000.000đồng. Xét thấy, trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ giai
đoạn sơ thẩm thì ông H1, bà T không có chứng cứ chứng minh đã cho vợ chồng
anh H chị D mượn số tiền (628.000.000đồng + 320.000.000đồng) =
948.000.000đồng. Anh H thừa nhận nợ cha mẹ ruột số tiền trên. Chị D không
thừa nhận nợ. Tòa án sơ thẩm đã ghi nhận việc anh H tự nguyện trả cho ông H1
237.000.000đồng trả cho T số tiền 213.000.000đồng. Xét thấy, đây
quyền tự định đoạt của anh H nên Tòa án sơ thẩm ghi nhận là phù hợp. Ông H1
T không chứng minh được nợ chung của anh H - chị D, nên Tòa án
thẩm đã không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông H1 bà T đòi chị D phải trả
số tiền 474.000.000đồng đúng pháp luật. Ông H1 T kháng o nhưng
cũng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh, nên kháng cáo của
ông H1, T không sở, không được Hội đồng xét xphúc thẩm chấp
nhận.
12
[6] Từ những căn cứ như trên, xét kháng cáo của anh H, ông H1, T
không có cơ sở, không được chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên
bản án sơ thẩm theo qui định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
thì phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là căn
cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, chấp nhận ý kiến đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát.
[9] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo của anh H, nên anh H
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định. Riêng đối với ông H1, T
được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 158, 213, 220 và 235 của Bộ luật dân sự năm 2015; các
Điều 33, 38, 55, 59, 60, 81, 82 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Điều 26 Điều 27 của Nghquyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Dương Trung H, ông
Dương Văn H1, Nguyễn Ngọc T. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình
thẩm số 113/2026/HN-ST ngày 12 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Đồng Tháp.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.1. Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chị
Nguyễn Thùy D và anh Dương Trung Hiếu thuận T4 ly hôn.
2.2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chị
Nguyễn Thùy D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung tên Dương Ngọc Khánh T2, sinh ngày 03/4/2019 (Cháu Dương Ngọc
Khánh T2 nguyện vọng đang sống chung với chị Nguyễn Thùy D); anh
Dương Trung H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
13
chung tên Dương Duy L, sinh ngày 29/4/2016 (Cháu Dương Duy L nguyện
vọng và đang sống chung với anh Dương Trung H).
2.3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem
xét, giải quyết.
Chị Nguyễn Thùy D cùng các thành viên gia đình không được cản trở
anh Dương Trung H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
tên Dương Ngọc Khánh T2 ngược lại, anh ơng Trung H cùng các thành
viên gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thùy D trong việc thăm nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Dương Duy L.
3. Về chia tài sản chung: 02 chiếc ghe 01 chiếc chẹt với tổng giá
trị 800.000.000đồng (T5 trăm triệu đồng), trong đó, 01 chiếc ghe đục 01
chiếc chẹt đã bán, còn lại 01 chiếc ghe do anh Dương Trung H trực tiếp quản
lý, sử dụng.
Chị Nguyễn Thùy D được chia giá trị tài sản chung với số tiền
400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Buộc anh Dương Trung H trách nhiệm chia giá trị tài sản chung cho
chị Nguyễn Thùy D với số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Anh Dương Trung H được chia hiện vật tài sản quyền sở hữu chiếc
ghe biển số AG-0855-TS.
5. Về người khác nợ: Buộc Nguyễn Ngọc T phải trả cho chị Nguyễn
Thùy D tiền hụi còn thiếu là 24.000.000đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Chấp nhận yêu cầu của anh Dương Trung H.
Buộc ông Nguyễn Văn H2 phải chuyển quyền sở hữu chiếc ghe đục
theo giấy chứng nhận đăng tàu sđăng ký” AG 0855 TS cho anh
Dương Trung H theo quy định của pháp luật.
14
7. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H2.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thùy D; chị Nguyễn Thùy D
thống nhất trả cho ông Nguyễn Văn H2 số tiền 150.000.000đồng (Một trăm
năm mươi triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Dương Văn H1
Nguyễn Ngọc T.
Anh Dương Trung H thống nhất trả cho ông Dương Văn H1 số tiền
mượn (vay) còn thiếu 237.000.000đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Anh Dương Trung H thống nhất trả cho bà Nguyễn Ngọc T số tiền mượn
(vay) còn thiếu 213.000.000đồng (Hai trăm mười ba triệu đồng).
K từ khi có đơn yêu cầu thi nh án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
9. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chị Nguyễn Thùy D phải chịu
chi phí là 500.000đồng đã nộp và chi xong.
10. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thùy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
38.730.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã
nộp là 17.500.000đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu
số: 0000918 ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân s tỉnh Đồng
Tháp; chị Nguyễn Thùy D còn phải nộp số tiền 21.230.000đồng (Hai mươi mốt
triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).
- Anh Dương Trung H phải chịu án phí dân s thẩm là
37.650.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp
300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0002585 ngày 11/02/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Tháp; anh Dương Trung H còn phải nộp số tiền
37.350.000đồng (Ba mươi bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí dân sự thẩm 7.800.000đồng,
15
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp
7.500.000đồng theo biên lai thu số: 0002016 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; ông Nguyễn Văn H2 còn phải nộp số tiền
300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Ông Dương Văn H1 Nguyễn Ngọc T được miễn nộp tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
- Bà Trần Thị T1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
11. Về án phí dân sự phúc thẩm :
- Anh Dương Trung H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm,
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do anh H nộp theo biên lai
thu tiền số 0009033 ngày 01/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp
xem như thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Ông Dương Văn H1 Nguyễn Ngọc T được miễn nộp tiền án phí
dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi nh án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
yêu cầu thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 12 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
16
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT Bản án số 60/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất