Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 37/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Bùi Văn S và chị Nguyễn Thị T ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông R
Các Thm phán: Ông S, ông T
- Thư ký phiên tòa: Bà U - Thư ký Tòa ánnhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: V - Kiểm sát viên
tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 28/2026/TLPT-HNGĐ
ngày 31 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” do Bản
án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2026/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh A, sinh năm 1982
Địa chỉ: [ĐÃ MÃ HÓA]
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh A: Bà W Trợ giúp
viênpháp lý củaTrung tâmTrợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ
(Anh A cómặt,bà W đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị B, sinh năm 1985
Địa chỉ: [ĐÃMÃ HÓA].
(Có mặt)
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Địa chỉ: Số 2 đường Láng Hạ, phường Giảng Võ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 37/2026/HNGĐ-PT
Ngày 26-8-2026
V/v: Tranh chấp hôn nn và gia đình
2
nông thôn Việt Nam: Ông X - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Nôngnghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam.
Người đại diện theo ủy quyền của ông X: Ông Y - Chức vụ: Giám đốc Chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Sơn, Phú Th.
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Y: Z - Chức vụ: Phó Giám
đốcChi nhánh Ngân hàng ng nghiệp Phát triển nông thôn Thanh Sơn, Phú
Thọ.
(Vắng mặt)
2. Ngân hàng chính sách xã hội
Địa chỉ: Số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng chính sách hội: Ông AA -
Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàngchính sách xã hội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông AA: Ông AB - Chức vụ: Giám đốc
Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Thanh Sơn.
(Vắng mặt)
3. Bà C, sinh năm 1951
Địa chỉ: [ĐÃMÃ HÓA].
(Có mặt)
4. Bà D, sinh năm1957
Địa chỉ: [ĐÃ MÃHÓA].
(Vắng mặt)
5. Chị E, sinh năm 1979
Địa chỉ: [ĐÃ MÃHÓA].
(Vắng mặt)
6. Anh F, sinh năm 1993
Địa chỉ: [ĐÃ MÃ HÓA].
(Vắng mặt)
7. Anh G, sinh năm 1982
Địa chỉ: [ĐÃ MÃ HÓA].
(Vắng mặt)
8. Ông H, sinh m 1933 và I, sinh m 1938
Địa chỉ: [ĐÃMÃ HÓA]
3
(Vắng mặt)
Người kháng cáo: Bà C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2005 anh chị B đăng kết hôn tại UBND
xã Thắng Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Việc kết hôn là do hai bên hoàn
toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, anh A chị B chung
sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thường xuyên mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống. Đến ngày 09/8/2025, chị B đã đưa cháu L đi khỏi nhà,
sau đó cháu J cháu K cũng đi cùng chị B. Anh chị B ly thân từ đó đến
nay, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định nh cảm vợ chồng với
chị B không còn nên anh xin lyhôn chị B.
Về con chung: Theo giấy khai sinh của các con, anh và chị B 03 con
chung J - sinh ngày20/6/2007, K - sinh ngày 08/7/2010 L - sinh ngày
30/5/2024. Hiện nay cháu J đã thành niên, lao động tựlực được nên không đề
nghị Tòa án giải quyết; cháu K đang học lớp 9 nhưng đã tự ý nghỉ học. n
cháu L thì anh nghi ngờ không phải con của anh do chị B quan hệ bất
chính với người con trai khác, đcăn cứ thì anh đã lấy mẫu c củacháu L
đem đi xét nghiệm AND với anh, tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 28/7/2025
của Viện công nghệ ADN phân tích di truyền Genlab đã kết luận: “Người
mẫu ghi n A không quan hệ huyết thống bố con với người tên Vy”. Do đó,
anh xác định là anh và chị B có 02 con chung cháu Jvà cháu K,khi ly hôn anh
nhận nuôi cháu K theo nguyện vọng của cháu K, yêu cầu chị B cấpdưỡng nuôi
con chung cùng anh 2.000.000 đồng/tháng kể từ khi bản án của Tòa án
hiệu lực pháp luật cho đến khicháu K thành niên.
Anh đnghị Tòa án xác định anh không phải cha của cháu L, yêu cầu
chị B phải bồi thường cho anh về công chăm sóc cháu L từ khi sinh ra (tháng
5/2024) đến tháng 8/2025 ngày anh chB sống ly thân.Cụ thể: Anh chăm
sóc cháu L mỗi tháng chi phíhết 3.000.000 đồng, gồm: Tiền bỉm,sữa, bột, quần
áo, ốm đau đi viện. Tổng số tiền chị B phải bồi thường cho anh về công sức
chăm c nuôi ỡng 45.000.000đồng (3.000.000 đồng/thángx 15 tháng =
45.000.000 đồng). Chị B còn phải bồi thường cho anh về danh dự do bị tổn thất
tinh thần với số tiền là 50.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Anh và chị B có các tài sản chung gồm:
Thửa đất số 520, tờ bản đồ số 19, diện tích 520,6m
2
(trong đó có 100m
2
đất
còn lại 420,6m
2
đất trồng cây lâu năm) tại khu Giai Thượng, Cự Đồng,
tỉnh P Thọ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH467637 ca
UBND huyện Thanh Sơn cấp cho anh Achị B ngày 30/5/2017 do bố mẹ anh
A cho; Nhà cấp 4 và công trình phụ; 01 xe máy RSX; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 bộ
bàn thờ; 02 máy điều hòa mua đầu năm 2025; 01 máy lọc nước; 01 máy giặt; 01
4
bình nóng lạnh; 01 tủ lạnh; 02 kđể đồ bằng gỗ; 01 máy cắt chè (đã bán cho
anh Bình với giá 7.000.000 đồng); 01 bìnhphun thuốc sâu; tường xây gạch xi
măng cao trung nh 1,3m, dài 52m; phần tường bao xây gạch đỏ không chát
cao 2,5m dài 28m; phần khối lượng đổ đất tôn nền giáp lối đi vào nhà 81m3
(tường bao đổ đất
t
ôn nền làm trên thửa đất tài sản riêng của anh). Tại
phiên tòa anh c định 01 máy cắt chèđã bán cho anh Bình với giá 7.000.000
đồng nên khôngcòn là tài sản chung.
Ngoài những tài sản trên, anh chị B còn tài sản chung do chị B đang
quản lý, gồm:01 xe máy SH ntrị giá 65.000.000 đồng; 01 điện thoại Iphone
Pro khi mua trị giá 13.400.000 đồng; 05 y khâu. Tại phiên tòa, anh xác định
chiếc điện thoại đã hỏng nên không xác định tài sản chung không u cầu
chia.
Về nợ chung: Anh và chị B có nợ chung gồm:
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Sơn
400.000.000 đồng tiền gốc;
+ Ngân ng chính ch hội Phòng giao dịch Thanh Sơn 150.000.000
đồng tiền gốc;
+ Bà D (mẹ chị B) 10.000.000 đồng(Vay khi làm nhà);
+ Chị E (chị gái chị B) 10.000.000 đồng (chi phí điều trị cho cháu J bị tai
nạn);
+ Anh G (anh trai ch B) 40.000.000 đồng (trongđó 30.000.000 đồng vay làm
nhà, 10.000.000 đồng vay chữa trị cho con khi bị tai nạn);
+ Anh F 10.000.000 đồng (chi phí điềutrị cho cháu J bị tai nạn);
Khi ly hôn, đối với thửa đất anh không đồng ý chia cho chị B vì nguồn gốc
đất bmẹ đcủa anhcho anh để vợ chồng cùng chung sống với nhau, nay ly
hôn thì trả lại cho mẹ đanh; đối với ngôi nhà xây trên đất c tài sản khác
thì anh đnghị được sdụng ngôi nhà, còn các tài sản khác thì anh đchị B sử
dụng, nếu chênh lệch tài sản thì anh sẽ thanh toán cho chị B.
Tại phiên tòa anh A trìnhbày: Do chị B ngoại tình với người khác trong
thời kỳ hôn nhân nên anh không đồng ý chia cho chị B bất kỳ tài sản nào. Về nợ
chung, anh yêu cầu chị B phải có trách nhiệm trả ½ số nợ chung của vợ chồng.
Về công sức đóng góp: Anh không yêu cầu vcông sức đóng góp. Anh
không yêu cầu bà C thanh toán công sức khi trả lại 02 vườn chè và làm ao.
Về tư trang riêng: Anh không yêu cầu về trang riêng. Anh không
đồng ý với quan điểm của chị B về việc yêu cầu anh trả 03 chỉ vàng, 03 chỉ
vàng chị B đã bán để lấy tiền giúp anh G anh trai của chị B để đóng tiền học,
không phải để trả nợ riêng của anh.
Bị đơn chị B trình bày:
5
Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn, quá trình tìm hiểu, chung sống và phát
sinh mâu thuẫn vợ chồng như anh A trình bày đúng. Nay anh A xin ly hôn,
chị B hoàn toàn đồng ý. Tạiphiên tòa chị B trình bày bổ sung: Chỉ một thời gian
ngắn sau khi chị anh A kết hôn là đã thường xuyên mâu thuẫn, có lần sau khi
chị sinh cháuK một thời gian, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đđược khoảng một
tháng.Năm 2011 anh A đi xuất khẩu lao động nước ngoài với thời hạn 03
năm, một mình chị B nhà nuôi 02 con nhưng anh A cũng không gửi tiền về
cho chị. Khi anh A đi xuất khẩu lao động về, chị anh A vẫn thường xuyên
mâu thuẫn, anh A đã nhiều lần đánh chị, lần chị phải đi bệnh viện điều trị.
Lần gần đây nhất chvề thăm nthì anh A đã dùng nước phân đổ lên
người chị nên chị đã báo Công an xã đến giải quyết.
Về con chung: Chị và anh A có 03 con chung là J - sinh ngày 20/6/2007, K
- sinh ngày 08/7/2010 L - sinh ngày 30/5/2024. Hiện nay cháu J đã thành
niên và lao động tự lực được nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với cháu
K nếu có nguyện vọng với ai thì chị nhất trí, khi cháu K với chị thì anh A
phải cấp dưỡng nuôi cháu K 1.000.000 đồng/tháng đến khi thành niên, còn
cháu K ở với anh A thì chị không cấp dưỡng. Còn cháu L là chị nhận chăm sóc,
nuôi dưỡng không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi cháu L cùng chị. Anh A
cho rằng anh A không phải bố đẻ của cháu L, nếu anh A cung cấp được tài
liệu xác định cháu L khôngphải con của anh A thì chnhất trí. Chị không
đồng ý bi thường cho anh A số tiền anh A đã chi phí chăm sóc cháu L và
tin tổn thất tinh thần do anh A không phải là bố đẻ của cháu L, vì anh A
không đóng góp ng sức gì đ nuôi cu L và ng ngày anh A cũng không
u tơng cu L.
Về tài sản chung: Chị đồng ý với anh A về tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân gồm: Thửa đất số 520, tờ bản đồ số 19, diện ch
520,6m2
(
trong đó 100m2
đất
420,6m2
đất trồng cây lâu năm)
tại khu Giai Thượng,
Cự Đồng, tỉnh Phú Thọ theo giấychứng nhận quyền sử dụng đất số
CH467637 củaUBND huyện Thanh Sơn cấp ngày 30/5/2017 cho anh A chị
B, nguồn gốc thửa đất này do bố mẹ anh A cho; Nhà cấp 4 công trình phụ
xây trên đất; 01 xe máy RSX; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 bộ bàn thờ; 02 y điều
hòa; 01 máy lọc nước; 01 máy giặt; 01 bình nóng lạnh; 01 tủ lạnh; 02 kđể đồ
bằng gỗ; 01 bình phun thuốc sâu; ờng xây gạch xi măng cao trung bình 1,3m,
dài 52m; phần tường bao xây gạch đỏ không chát cao 2,5m dài 28m; phần khối
lượng đđất tôn nền giáp lối đi vào nhà 81m3 (tường bao đổ đất t
ô
n nền
làm trên thửa đất là tài sản riêng của anh A). Tại phiên tòa chị xác định 01 máy
cắt chè đã bán cho anh Bình với giá 7.000.000 đồng nên hiện nay không còn,chị
cũng xác định 01 máy cắt chè chị mua với giá 5.500.000 đồng (không phải cái
máy chị đã bán cho anh Bình với giá 7.000.000 đồng) ĐịchQuả, nhưng
khi xem xét thẩmđịnh tại chỗ tkhông còn nhà nữa nên chị không yêu cầu
xác định máy cắt chè này là tài sản chung và không yêu cầu chia.
6
Khi ly hôn chị đề nghị chia đôi thửa đất, chị nhận sdụng phần diện tích
đất không nhà, còn phần đất nhà thì để anh A sử dụng. Vcác tài sản
chung khác, chị xin được sở hữu01 bbàn thờ bằng gỗ xoan, 01 bộ bàn ghế
bằng gỗ hương, 01 tủ lạnh, 01 máy lọc nước, 01 điều hòa, 01 bình nóng lạnh,
các tài sản còn lại thì để lại cho anh A sử dụng. Ai được sdụng tài sản giá
trị nhiều hơn thì phải thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho bên kia. Tại phiên
tòa, chị đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung các tài sản, đồ vật phục
vụ sinh hoạt trong gia đình của vợ chồng chị theo quy định của pháp luật.
Về tài sản riêng: Chị xác định là chị có 01 xe máy SH nữ trị giá 65.000.000
đồng; 01 điện thoại di động Iphone Pro khi mua trgiá 13.400.000 đồng (hiện
nay đã hỏng, không sử dụng được); 05 máy khâu tổng trgiá 30.000.000 đồng
(những tài sản này do chị tự mua, không liên quan đến anh A hiện nay chị
đang quản lý); 17.500.000 đồng tiền mặt anh A tự lấy từ của chị,khi lấy
không nói cho chị biết (đây số tiền để chị trả tiền thuê công nhân); 1,5 chỉ
vàng và 5.000.000 đồng tiền mặt do mđẻ của chị bà D gửi chị, anh A cũng
tự lấy mà không được sự đồng ý của chị.
Tại phiên tòa chị trình bày vào khoảng đầu năm 2025 khi chị anh A
chưa ly thân, anh A đã tự lấy 35.000.000 đồng tiền riêng của chị. Khi chị
nhắn tin hỏi tanh A chỉ thừa nhận đã lấy 10.000.000 đồng của chị. Chị yêu
cầu anh A trả lại số tiền 10.000.000 đồng này cho ch.
Khi ly hôn chị đề nghị được sử dụng tài sản riêng gồm: 01 xe máy SH nữ;
05 máy khâu. u cầu anh A hoàn trả lại các i sản riêng của chị gồm:
17.500.000 đồngtiền mặt,1,5 chỉ ng và5.000.000 đồng tiền của mẹ chị đã
gửi chị.Đối với chiếc điện thoại di động Iphone Pro thì chị không yêu cầu giải
quyết vì đã hỏng.
Về nchung: Chị xác định là chị anh A nchung gồm: Ngân hàng
Nông nghiệp Phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Sơn 400.000.000
đồngtiền gốc; Ngân hàng chính sách 150.000.000 đồngtiền gốc; bà D (mẹ chị B)
10.000.000 đồng vay khi làm nhà; anh G (anh trai chị B) 30.000.000 đồng vay
khi làm nhà.
Chị B không đồng ý khoản vay anh G 10.000.000 đồng; anh F10.000.000
đồng chị E 10.000.000đồng anh A cho rằng vay để chữa trị cho cháu J
khi bị tai nạn, vì anh A không đưa cho chị số tiền này, toàn bộ số tiền chi phí
cho cháu J là do chị chi trả.
Khi ly hôn chị tự nguyện trả nợ cho Ngân hàng chính sách 150.000.000
đồng, các khoản nợ còn lại anh A phải trả. Tại phiên tòa, chị đề nghị Tòa án
chia tài sản chung, nchung theo quy định của pháp luật, khoản tiền anh A vay
riêng thì anh A phải có trách nhiệm trả.
7
Về ng sức đóng góp: Ch yêu cầu C mẹ đẻ củaanh A phải thanh
toán công sức làm ao trồng cây chè cho chị với số tiền 240.000.000 đồng,
đối với đất trồng chè và làm ao thì trả lại cho bà C.
Tại phiên tòa, chị trình bày số cây chè trồng trên diện tích đất 2295,30m
2
do chị B anh A trồng, số cây chè trồng trên diện tích đất 2624,50m2 là
do bố mẹ
của
anh A trồng sau đó cho anh A chị B mượn để canh tác, chăm bón thu
hoạch hàng năm. Tkhoảng năm 2023, chị và anh A không chăm bón những
cây chè này nữa nên bà C đã trực tiếp chăm bón và thu hoạch.
Trong quá trình gii quyết vụ án, chị yêu cầu anh A thanh toán
35.000.000đồng công sức của chị đã cùng anh A đổ đất để xây tường bao
(phần đất này thuộc quyền sử dụng của anh A do bố mẹ anh A cho, không phải
tài sản chung vợ chồng). Tại phiên a chị c định phần xây ờng bao, đổ đất
là tài sản chung để chia nên chị không yêu cầu anh A thanh toán công sức nữa.
Về trang riêng: Khi kết hôn với anh A, chị được bố mẹ của chị tặng cho
03 chỉ vàng, chị anh A đã mang đi bán để trả nợ riêng của anh A. Nay chị và
anh A ly hôn nên anh A phải trả cho chị 03 chỉ vàng này.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
C mẹ đẻ của anh A trình bày: không đồng ý với quan điểm của
chị B đã trình bày. Ao là anh Achị B mượn và sử dụng từ năm 2005 đến nay nên
phải trả lại cho bà. Về đất trồng chè anh chị A B chăm bón tđã thu hoạch
hàng năm, nay ly hôn thì phải trả lại đất và những cây chè này cho bà. Diện tích
đất cho anh A chị B ợn để trồng cây chè gồm: thứ nhất diện tích
2295,30m2; thứ 2 diện tích
2
624,50m2. 02 đất này đều thu
c
thửađất
số 110 tbản đồ số F48.103 Da3 trong tổng diện tích đất 1,1ha tại xóm Giai
Thượng, Thắng Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số P314699 do UBND huyện Thanh Sơn cấp đứng tên hộ ông H. Thửa
đất số 110 là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung cho nhóm hộ gồm:
Ông H, ông M (chồng C), ông N, ông O,bà P ông Q. Ông H người đại
diện cho các hộ để đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Sau khi
được giao đất,vợ chồng đã trồng cây chè, đến năm 2005 anh A chịB kết
hôn thì ông bà cho anh A chị B mượn để chăm bón và thu hoạch đến nay.
Tại phiên tòa, bà trình bày số cây chè trồng trên lô đất có diện tích
2295,30m
2
do chị B anh A trồng, số y chè trồng trên đất diện tích
2624,50m2 là
do vợ chồng trồng sau đó cho anh A chị B mượn để canh tác, chăm bón t
huhoạch hàng
năm. Từ khoảng năm 2023, chị B và anh A không chăm bón cây chè nữa nên
đã trựctiếp chăm bón thu hoạch. Nay chị B anh A ly hôn, yêu cầu anh
A chị B trả lại đất cho bà, bà không lấy nhữngcây chè của anh A chị B trồng nên
anh A chị B phải đánh đi để trả lại mặt bằng đất cho bà sử dụng.
D mẹ đẻ của chị B trìnhy: Khi chB kết hôn với anh A, cho
chị B 03 chỉ vàng trang riêng. Bà được em gái cho 5.000.000 đồng, do đểở
8
nhà sợ mất nên đã gửi chị B giữ hộ,cũng tiết kiệm được 1,5 chvàng nên
bà cũng gửi chị Bgiữ hộ. Khi bà hỏi về số vàng, chị B nói là đã bán để xây hàng
rào. Anh A chị B đã sử dụng tiền vàng của để chi tiêu chung trong gia
đình, nay ly hôn thì anh A chị B phải trả lại cho bà số tiền vàng này.
Ngoài ra, cho anh A, chị B vay 10.000.000 đồng khi làm nhà nên phải trả
lại cho bà số tiền này, bà không yêu cầu anh A, chị B phải trả tiền lãi.
Anh G anh trai củachị B trình: Anh có cho vợ chồng anh A chị B vay
30.000.000 đồng để m nhà. Số tiền này anh trực tiếp đưa cho vợ chồng anh A
chị B vay. Khi con trai của vợ chồng anh A chị B bị tai nạn, anh có đưa cho anh
A vay 10.000.000 đồng đchi phí cho cháu, số tiền vay nàyanh Acó nói với chị
B biết không thì anh không biết. Nay anh A, chị B ly hôn thì phải trả lại cho anh
số tiền vay đểlàm nhà 30.000.000 đồng, anh không yêu cầu anh A chị B phải
trả tiền lãi. Đối với số tiền 10.000.000 đồng, anh A phải trả lại cho anh, anh
không yêu cầuanh A trả tiền lãi.
Chị E là chị gái của chị B trình: Khi con của anhA, chị B bị tai nạn, chị
cho anh A, ch B vay 10.000.000 đồng. Khi vay làchị chuyển tiền vào tài
khoảncủa anh A. Nay anh A chị B ly hôn, ch u cầu anhA phải trlại số
tiền trên cho chị, chị khôngu cầu anh A phải trả tiền lãi.
- Anh F trình bày: Khi con củaanh A, chị B bị tai nạn, anh cho anh A
vay số tiền 10.000.000 đồng. Khivay làanh chuyển tiền vào tài khoản của anh A.
Nay anh A chị B ly hôn, anh yêu cầu anhA phải trả lại số tiền này cho anh,
anh không yêucầu anh A phải trả tiền lãi.
- Ông H I trìnhbày: Ông H bà I là vợ chng, đềuxác định đất
thứ nhất diện tích2295,30m2 đất thứ hai diện
t
ích 2624,50m2 trong
tổng diện tích đất 1
1.
000m2 của thửa đất số 110 tờ bản
đồ số
F48.103 Da3 tại xóm
Giai Thượng, Thắng Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ do vợ chồng anh A, ch B
quản lý và chăm bón những cây chè diện tích đất của vợ chng bà C mẹ đ
của anh A. Mặc dù thửa đất số 110 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đứng tên ông nhưng thửa đất này là quyền sử dụng chung của các hộ, gồm
ông H, ông M (chồng bà C), ông N, ông O, P ông Q. Ông H chỉ người
đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. m 2005 anh A
và chị B kết hôn nên Lô đất của gia đình bà C đã giao cho vợ chồng anh A chị B
canh tác, khi vợ chồng anh A chị B canh tác diện tích đất này thì một phần diện
tích đất là gia đình C đã trồng chè, phần diện tích đất còn lại là vợ chồng anh
A chị B trồng cây chè mới nên vợ chồng anh A chị B đã quản lý, chăm bón
thu hoạch những cây chè của gia đình bà C.
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) do
người đại diện hợp pháp trình bày: Theo Hợp đồng tín dụng số 2715-LAV-
202304965 ngày 14/11/2023, vợ chồng anh A chị B đã vay tiền của Ngân hàng
là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, tài sản thế chấp là quyền sử dụng
đất tài sản trên đất của vợ chồng anh A chị B theo Hợpđng thế chấp bất
9
động sản số 2715-LCP-2023.02096 ngày 13/11/2023 (Thửa đất số 520, tờ bản
đồ số 19, diện tích 520,6m2 tại kh
u
Giai Thượng, Thắng Sơn, huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ (nay khu Giai Thượng, Cự Đồng, tỉnh Phú Thọ). Tính
đến ngày 11/6/2026, số tiền gốccòn nợlà 380.000.000 đồng; số tiền lãi phát sinh
là 1.431.507 đồng.
Nay vợ chồng anh A chị B ly hôn, Agribank đnghị: Trường hợp Tòa án
phân chia tài sản thì ai người sở hữu, sử dụng tài sản đang thế chấp t
người đó phải trách nhiệm trtoàn bsốtiền vay, tiền lãi phí phát sinh
(nếu ) cho Agribank theo Hợp đồng tín dụng đã kết. Trường hợp không
phân chia tài sản thì anh A và chị Bcùng phải có trách nhiệm trả số tiền vay, tiền
lãi và phí phát sinh (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Ngân hàng chính sách xã hội do người đại diện hợp pháp trình bày: Chị B
anh A vay của Ngân hàng chính sách xã hội theo 02 khoản vay như sau:
Hợp đồng số 6600000731246886 ngày18/5/2025, số tiền vay 100.000.000
đồng, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là mua trâu sinh sản, lãi suất 9%/1
năm; Hợp đồng số 6600000731619356 ngày18/7/2025, chị B và anh A vay
50.000.000 đồng, mục đích là xây mới công trình ớc sạch xây mới công
trình vệ sinh, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 9%/1 m. Tính đến ngày
11/6/2026, tiền lãi phát sinh của Hợp đồngsố 6600000731246886 ngày
18/5/2025 4.048.681 đồng, số tin gốc còn nợ 100.000.000 đồng; tiền lãi
phát sinh của Hợp đồng số 6600000731619356 ngày 18/7/2025 2.458.081
đồng, số tiền gốc n n50.000.000 đồng. Nay vợchồng anh A chị B ly hôn,
Ngân hàng chính sách hội đề nghị anh A chị B trách nhiệm trả nợ theo
quy định của pháp luật.
Tại bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 49/2026/HNGĐ-ST ngày
17/6/2026, Quyết định sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm s 50/2026/QĐ-
SCBSBA ngày 25/6/2026 Quyết định sửa chữa bổ sung bản án thẩm số
59/2026/QĐ-SCBSBA ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ
đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 62,
Điều 81, Điều 82; Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 3, Điều 213, Điều 219, Điều 463,
Điều 466, Điều 469, Điều 357, Điều 584, Điều 585 và Điều 592 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 3 Điều 157,
khoản 2 Điều 161, khoản 2 Điều 165 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phía án.
Tuyên xử:
10
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh A và chị
B.
2. Về con chung: Giao cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
cháu K-sinh ngày 08/7/2010 kể từ tháng 6/2026 đến khithành niên. Chị B
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K cùng anh A hàng tháng với số tiền 2.000.000
đồng/1 tháng kể ttháng 6/2026 đến khi thành niên. Hai bênđều có quyền và
nghĩa vụ đối với con chung, không ai đưc cản trở.
Xác định cháu L - sinh ngày 30/5/2024 không phải con của anh A. Giao
cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L kể từ tháng 6/2026
đến khi thành niên.
Chị B nghĩa vụ bồi thường cho anh A công chăm c cháu L từ ngày
30/5/2024 (khi cháu L ra đời) đến ngày 09/8/2025 (ch B đưa cháu L đi) 14
tháng 10 ngày với số tiền là 21.500.000 đồng. Chị B có nghĩa vụ bồi thường cho
anh A khoản tiền để đắp tổn thất về tinh thần anh A phải gánh chịu do bị
thiệt hại về danh dự bằng 08 lần mức lương sở hiện nay, cụ th là: 8 x
2.340.000 đồng = 18.720.000 đồng. Tổng số tiền chị B phải bồi thường cho anh
A về công chăm sóc cháu L vàthiệt hại về danh dự là 40.220.000 đồng.
3. Về tài sản chung, i sản riêng, nợ chung, trang riêng công sức
đóng góp của vợ chồng:
- Về tài sản chung: Xác định anh A và chị B có tài sản chung giá trị
theo Biên bản định gngày 07/4/2026 Biên bản đính chính định gtài sản
ngày 07/4/2026 của Hội đồng định giá là: Thửa đất số 520, tờ bản đồ số 19, diện
tích 520,6m2 (t
ro
ng đó 100 m2 đấ
t
420,6m2 đấ
t
trồng cây lâu m) tại
khu Giai Thượng, Cự Đồng, tỉnh Phú Ththeo giấychứng nhận quyền sử
dụng đất s CH467637 do UBND huyện Thanh n cấp cho anh A chị B
ngày 30/5/2017 trị giá 263.133.000 đồng; N cấp 4 xây một tầng diện tích
147,2m2 (01 phòng khách, 03 phòn
g
ngủ, 01 bếp) trị giá 462.570.227 đồng;
côngtrình phụ nhà vệ sinh diện tích 14m2 trị g63.989.704 đồng;
c
ông trình
phụ khu chăn nuôi diện tích 44,7 m2 + 34,4m2 = 79,1m2 đã hết
khấu haosử
dụng;S
ân tông trgiá 523.292 đồng; đường bê tông tđường tỉnh 317C đi vào
nhàdiện tích 134,9m2 trị giá 892.441 đồng; 01
c
âyxoài đường kính 20cm trị giá
1.258.000 đồng; 01xe máy RSX trị giá 7.150.000 đồng; 01bộ bàn ghế gỗ hương
trị giá 40.000.000 đồng; 01 bộ bàn thờ bằng gỗ xoan tr giá 7.000.000 đồng;
01kệ để đồ bằng gỗ xoan kích thước 1,95mx1,6mx0,25m trị giá 2.500.000 đồng;
01kệ để đồ bằng gỗ xoan kích thước 4,3mx2,4mx0,3m trị giá 8.000.000 đồng;
02máy điều hòa mua đầu năm 2025 trị g 7.200.000 đồng; 01máy lọc ớc
nhãn hiệu AQUA 2 vòi trị giá 2.000.000 đồng; 01máy giặt nhãn hiệu AQUA
AQW - U800BT trg1.500.000đồng; 01bình nóng lạnh nhãn hiệu ROISI tr
giá 900.000 đồng; 01 tủ lạnh nhãn hiệu AQUA 108l trị giá 2.000.000 đồng;
01bình phun thuốc sâu nhãn hiệu Oshima 767X trị giá 750.000 đồng; tường xây
gạch xi măng cao TB 1,3m, dài 52m trị giá 1.570.608 đồng; phầntường bao xây
11
gạch đỏ không chát cao 2,5m dài 28m trị g9.058.797 đồng; phầnkhối lượng
đổ đất tôn nền giáp lối đi vào nhà 81m3 trị giá 11.102.994 đồng
(
tường bao
đổ đất tôn nền làm trên thửa đất tài sản riêng của anh A); 01 xe máy Honda
SH MODE nữ trị giá 31.500.000 đồng; 05máy khâu trị giá 14.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của chị B xác định 01 xe máy Honda SH
MODE ntrịgiá 31.500.000 đồng 05 máy khâu trịgiá 14.000.000 đồng tài
sản riêng của chị B.
- Xác định Anh A, chB cónợ chung gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Sơn theo Hợp đồng tín dụng số 2715-
LAV-202304965 ngày 14/11/2023 tínhđến ngày 11/6/2026, tiền nợ gốc là:
380.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 1.431.507 đồng; Ngân hàng chính sách hội
Phòng giao dịch Thanh Sơn tínhđến ngày 11/6/2026, Hợp đồng số
6600000731246886 ngày 18/5/2025 từ nguồn vốn vay hộ gia đình sản xuất kinh
doanh tại vùng khó khăn, nợ gốc là: 100.000.000 đồng, nợ lãi là: 4.048.681
đồng, Hợp đồng số 6600000731619356 ngày 18/7/2025 từ nguồn vốn vay cấp
nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, ngốc là: 50.000.000 đồng, nlãi
là: 2.458.081 đồng; nợ D (mẹ chị B) 10.000.000 đồng (khi làm nhà); nợ anh
G (anh trai chị B) 30.000.000 đồng khi làm nhà (bà D, anhG không yêu cầu tính
lãi).
- Về chia tài sản chung: Giao cho anh A được quyền sử dụng và sở hữu
toàn bộ các tài sản anh A đang quản gồm: Thửa đất số 520, tờ bản đsố 19,
diện tích 520,6m2
(t
rong đó có 100 m2
đ
ất ở và420,6m2
đ
ất trồng cây lâu năm) tại
khu Giai Thượng, Cự Đồng, tỉnh PThọ theo giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số CH467637 của UBND huyện Thanh Sơn cấp cho anh A chB
ngày 30/5/2017 trị giá 263.133.000 đồng; N cấp 4 xây một tầng diện tích
147,2m2 (01 phòng khách, 03 ph
ò
ng ngủ, 01 bếp) trị giá 462.570.227 đồng;
công trình phụ nhà vệ sinh diện tích 14m2 trị giá 63.989.704 đồn
g
;công trình
phụ khu chăn nuôi diện tích 44,7 m2 + 34,4m2 = 79,1m2 đã h
ế
t khấu h
a
o s
dụn
g
; sân tông trị g523.292 đồng; đường tông từ đường tỉnh 317C đi
vào nhà diện ch 134,9m2 trị giá 892.441 đồng;
0
1cây xoài đường kính 20cm
trịgiá 1.258.000 đồng; 01xe máy RSX trị giá 7.150.000 đồng; 01bộ bàn thờ
bằng gỗ xoan trị giá 7.000.000 đồng; 01kệ để đồ bằng gỗ xoan kích thước
1,95mx1,6mx0,25m trị giá 2.500.000 đồng; 01kệ để đồ bằng gỗ xoan kích thước
4,3mx2,4mx0,3m trị giá 8.000.000 đồng; 02máy điều hòa mua đầu năm 2025 trị
giá 7.200.000 đồng; 01máy giặt nhãn hiệu AQUA AQW - U800BT trị giá
1.500.000 đồng; 01bình phun thuốc sâu nhãn hiệu Oshima 767X trị g750.000
đồng; 01bộ bàn ghế gỗ hương trị giá 40.000.000 đồng;01 y lọc nước nhãn
hiệu AQUA 2 vòi trị g2.000.000 đồng; 01bình nóng lạnh nhãn hiệu ROISI tr
giá 900.000 đồng; 01tủ lạnh nhãn hiệu AQUA 108l trị giá 2.000.000đồng;
tường xây gạch xi măng cao TB 1,3m, dài 52m trị giá 1.570.608 đồng, phần
tường bao xây gạch đỏ không chát cao 2,5m i 28m trị giá 9.058.797 đồng,
phần khối lượng đổ đất tôn nền giáp lối đi vào nhà 81m3 trị giá 11.102.994 đồn
g
12
(phần ờng bao đổ đất tại thửa đất tài sản riêng của anh A). Tổng giá trị
tài sản chung anh A được quyền s hữu và sử dụng là 893.098.455 đồng.
+ Giao cho chị B được quyền sở hữu các tài sản chị B đang quản gồm:
01 xe máy Honda SH MODE nữ trị giá 31.500.000 đồng, 05 y khâu trị giá
14.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung chị B được quyền sở hữu là
45.500.000 đồng.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Giao cho anh A trách nhiệm thực hiện toàn bộ
nghĩa v trả nợ theo Hợp đồng tín dụng s 2715-LAV-202304965 ngày
14/11/2023 đã ký giữa anh A, ch B với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triểnnông thôn chi nhánh Thanh n tạm tính đến ngày 11/6/2026, tiền nợ gốc là:
380.000.000 đồng; tiền nợ lãi: 1.431.507 đồng; Hợp đồng số 6600000731246886
ngày 18/5/2025 từ nguồn vốn vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó
khăn anh A, chị B đã ký với Ngân hàng chính sách xã hội Phòng giao dịch Thanh
Sơn tạm tính đến ngày 11/6/2026, nợ gốc là: 100.000.000 đồng, nợ lãi là:
4.048.681 đồng; Hợp đồng số 6600000731619356 anh A, chị B đã với Ngân
hàng chính sách xã hội Phòng giao dịch Thanh Sơn ngày 18/7/2025 từ nguồn vốn
vay cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tính đến ngày 11/6/2026, nợ
gốc là: 50.000.000 đồng, nợ lãi là: 2.458.081 đồng. Tổng cộng anh A nghĩa
vụ trả số nợ chung là 537.938.269 đồng.
+ Giao cho chị B có nghĩa vụ trả nợ cho bà D số tiền 10.000.000 đồng, anh
G số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng chị B có trách nhiệm trsố nợ chung
40.000.000 đồng (chị B không phải trả tiền lãi).
+ Về nợ riêng, anh A trách nhiệm trả cho chị E 10.000.000 đồng, anh F
10.000.000 đồng,anh G 10.000.000 đồng (anhA không phải trả tiền lãi).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, D, anh G, chị E, anh F đơn
yêu cầu thi hành án mà chị B, anh A chưa thi hành án thì chị B, anh A còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Anh A nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho chị B số tiền
là 161.673.443 ĐỒNg.
- Anh A được hưởng giá trị tài sản chung là 193.486.743Đồng.
- Chị B được hưởng giá trị tài sản chung là 167.173.443 đồng.
- Đối trừ nghĩa vụ: Chị B phải bồi thường cho anh A số tiền 40.220.000
đồng trong khi anh A phải thanh toán chênh lệch cho chị B số tin
161.673.443 đồng, nên anh A còn phải thanh toán cho chị B số tiền
121.453.443 đồng (161.673.443 đồng - 40.220.000đồng = 121.453.443 đồng).
- Về thanh toán công sức đóng góp: Giao cho C quản lý, sử dụng 01Ao
có diện tích 1735,8m2
th
uộc thửa đất số 22 và thửa số 23, tờ bản đồ số 7 diện tích
397 và510, mục đích là trồng a tại khu Giai Thượng, Cự Đồng, tỉnh Phú
13
Thọ chủ sử dụng là ông M và vC (có đồ hiện trạng thửa đất ao tờ
19 - bút lục 179 kèm theo).
Giao cho C được quyền quản lý, sdụng cây chè số 01 diện tích
là: 2295,3m2
cây csố 02 diện tích là: 2624,5m2
đề
u thuộc thửa đất số
110 tờ bản đồ số F48.103 Da3 diện tích 1,1ha theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số P314699 do UBND huyện Thanh Sơn cấp ngày 23/10/2000 cho hộ
ông H tại xóm Giai Thượng, xã Thắng Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ (có sơ đồ hiện
trạng thửa đất chè tờ BĐ 19 - bút lục 180 kèm theo).
C có trách nhiệm thanh toán giá trị cây chè số 01 diện tích
2295,3m2
ch
o chị B số tiền là 15.606.000 đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, chị B đơn u cầu thi hành án
mà anh A, bà C chưathi hành án thì anh A, bà C còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tư trang riêng: Không chấp nhận yêu cầu của chị B về việc yêu cầu
anh A hoàn trả 03 chỉ vàng 9999 là tư trang riêng của chị.
- Không chấp nhận yêu cầu của chị B xác định stiền 17.500.000 đồng,
10.000.000 đồng và 1,5 chỉ vàng + 5.000.000 đồng i sản riêng của chị B
yêu cầu anh A trả.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản và chi phí giám định:
- Anh A, chị B mỗi người phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ là 4.800.000 đồng. Anh A phải chịu chi phí định giá stiền 1.375.000
đồng. Chị B phải chịu chi phí định giá với số tiền 1.125.000 đồng. Xác nhận,
anh A đã nộp toàn bộ số tiềntạm ứng chi phí xem t, thẩm định tại chỗ, định
giá tài sản. Chị B có nghĩa vụ hoàn trả cho anh A số tiền 5.925.000 đồng.
- Về chi phí giám định: Chị B phải nộp 4.500.000 đồng tiền chi pgiám
định. Xác nhận anh A đã nộp 4.500.000 đồng tiền tạm ứng chi phí giám định.
Chị B có nghĩa vụ hoàn trả cho anh A số tiền 4.500.000 đồng.
Tổng cộng, chị B phải hoàn trả cho anh A số tiền 10.425.000 đồng
(5.925.000 đồng + 4.500.000 đồng = 10.425.000 đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, anh Ađơn yêu cầu thi hành án
mà chị B chưa thi hành án thì chị B còn phải chịu khon tiền lãi của số tiền chưa
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo
của đương sự.
14
Ny 30 tháng 6 m 2026, C là người quyn lợi, nga vliên quan
kng o: Bà C không đồng ý thanh toán cho chị B 15.606.000 đồng giá trị
những cây chè của anh A chị B trng trên đất của bà C.
Tại phiên tòa phúc thẩm, C trình bày: không thay đổi, bổ sung hoặc
rút đơn kháng cáo.
02 đất trong tổng diện tích 11.000m
2
của thửa đất số 110 tờ bản
đồ số F48.103 Da3 tại xóm Giai Thượng, Thắng Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ,
thửa đất này đã được UBND huyện Thanh Sơn cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số P314699 ngày 23/10/2000 đứng tên hộ ông H. Mặc thửa đất này
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông H nhưng quyền sử
dụng chung của các hộ, gồm ông H, ông M (chồng bà C), ông N, ông O, bà P
ông Q. Năm 2005 con trai là anh A kết hôn với chị B nên đã giao cho vợ
chồng anh A chị B canh tác 02 lô đất này. Lô đất thứ nhất có diện tích
2295,30m2 vợ chồng anh A chị B trng những cây chè mới, lô đất thứ hai
diện tích 2624,50m2 là bà đã trồng nhữn
g
cây chè từ những năm 2000. Quá trình
canh c, v chồng anh A chị B tự quản , chăm bón
v
à thu hoạch toàn b
những cây chè của bà và những cây chè của vợ chồng anh A chị B trồng.Bà giao
những cây chè của bà cho anh A chị B canh tác là tự nguyện, không phải trả cho
bà khoản tiền nào.
Năm 2023 anh A và chị B phát sinh mâu thuẫn vợ chồng nên không quản
lý, chăm bón thu hoạch toàn bộ những cây chè trồng trên hai đất, bà đã
chăm bón và thu hoạch những cây chè này. Hiện nay do sức khỏe nên không
chăm bón những cây chè này được, đã cho người khác chăm bón và thu
hoạch, mỗi năm trả cho bà 5.000.000 đồng. Trước khi cho người khác chăm bón
thu hoạch toàn bộ cây cthì những cây chè này vẫn phát triển bình thường,
mặc dù một số cây chè bị chết thì đã trồng lại. Nay không đồng ý bản
án thẩm đã giao những cây ccủa anh A chị B trồng trên đất của cho
sở hữu, canh tácthanh toán gtrị những cây chè cho chị B 15.606.000
đồng, vì hiện nay sức khỏe của bà không thể chăm bón và canh tác được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh A nguyên đơn trình bày: Anh không t
đơn khởi kiện. Anh chB có trồng những cây chè trên đất của C. Năm
2023 anh chị B không chăm bón những cây chè này nữa nên C đã chăm
bón thu hoạch. Hiện nay những cây chè này vẫn phát triển bình thường. Mỗi
một năm thu hoạch khoảng 9 lần, mỗi một lần thu hoạch khoảng 900kg chè
tươi, mỗi một kg chè tươi bán trên thị trường khoảng 5.000 đồng. Đề nghị
Tòa án giải quyết kháng cáo của bà C theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị B bị đơn trình bày: Những cây chè của chị
anh A trồng trên đất của C hiện nay vẫn phát triển bình thường. Trung
bình khoảng một tháng hoặc hơn một tháng thu hoạch chè tươi một lần, mỗi
một lần thu hoạch khoảng 1.000kg chè tươi, mỗi một kg chè tươi hiện đang bán
trên thị trường từ khoảng 6.000 đồng - 7.000 đồng. Hiện nay bà C đang chăm
15
bón và thu hoạch những cây chè của chvà anh A nên giao những cây ccủa
chị cho C sở hữu và canh c, C thanh tn giá trị những y chè cho chị
15.606.000 đồng nTòa án cấp thẩm đã xét xử. ĐnghTòa án phúc
thẩm giải quyết kháng cáo của bà C theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Phú Thphát biểu về tố tụng giải
quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ v án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định pháp luật. Quá trình giải quyết
vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Tký ghi biên bản phiên a một s
người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn một số
người tham gia tố tụng chưa chấp hành đúng quy định ca pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà C. Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia
đình thẩm số 49/2026/HNGĐ-ST ngày 17/6/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 7 - Phú Thọ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án pdân sự phúc thẩm cho bà C
người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về kháng cáo: Khi Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ t xử
tuyên án thì C mặt.Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án,bàC
đãkháng cáo bản án. Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bà
Ckháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[1.2] Vắng mặt người tham gia tố tụng: Trong vụ án này D, chị E, anh
F, anh G, ông H và I những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án đã được triệu tập hợp lnhưng vẫn vắng mặt phiên tòa, D, chị E, anh
F, anh G, ông H bà I không ai kháng cáo không có kháng nghị, khi xét xử
phúc thẩm không làm nh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của D, chị E, anh F,
anh G, ông H I trong bản án thẩm; bà Z người đại diện Ngân hàng
Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam, ông AB người đại diện hợp
pháp của Ngân hàng chính sách hội đều đơn xin xét xvắng mặt. vậy,
Tòa án xét xử vắng mặt bà D, chị E, anh F, anh G, ông H, bà I, bà Z và ông AB.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bản án Hôn nhân và gia đình thẩm s
49/2026/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Phú Thọ đã quyết định giao cho C sở hữu những cây chè của anh A chị B
16
trồng trên lô đất thứ nhất của C tại thửa đất số 110 tờ bản đồ số F48.103 Da3
ở khu Gia Thượng, xã Thắng Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ và bà C phải
thanh toán giá trị cây chè cho chị B là 15.606.000 đồng. BàC không đồng ý bản
án sơ thẩm nên kháng cáo. Hội đồng t xử xét thấy:
C xác định C hai đất trong tổng diện tích đất 11.000m2 củ
a
thửa đất số 110 tờ bản đồ số F48.103 Da3 tại khu Gia Thượng, Thắng Sơn,
huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, thửa đất đã được UBND huyện Thanh Sơn cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P314699 ngày 23/10/2000 đứng tên hộ
ông H. Thửa đất này quyền sử dụng chung của C một số hộ dân nhưng
ông H người đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Phần diện tích đất của C thì đất thứ nhất diện tích là 2.295,3m2, đất
thứ hai có di
n tích là 2.624,5m2. Khoảng những năm 200
0
, bà C đã trồng những
cây chè trên lô đất thứ hai, còn lô đất thứ nhất thì bà C trồng một số cây khác.
Anh A chị B kết hôn năm 2005, sau khi kết hôn thì C đã cho anh A
chị B canh tác trên đất thứ nhất, đồng thời giao cho anh A chị B được quản
lý, chăm bón khai thác những cây chè của bà C đang trồng trên lô đất thứ hai.
Đến khoảng năm 2007, 2008thì anh A chị B trồng những cây chè trên đất thứ
nhất. Qtrình canh tác thì anh A chị B đã chăm bón thu hoạch toàn bộ cây
chè trồng trên lô đất thứ nhất và lô đất thứ hai.
Năm 2023 anh A chị B không chăm bón thu hoạch các cây ctrồng
trên đất thứ nhất lô đất thhai nên C đã chăm bón thu hoạch. Hiện
nay những y cnày vẫn phát triển bình thường đạt sản lượng thu hoạch
đó mỗi năm thu hoạch chè tươi từ khoảng 8 - 9 lần, mỗi một lần thu hoạch
khoảng 900kg chè tươi, giá bán cơi trên thị trường thu mua là khoảng
5.000 đồng/1kg. Hội đồng định giá tài sản đã định giá những cây chè của anh A
chị B 31.212.000 đồng nên anh A chị B mỗi người được sở hữu nhng
cây chè trị giá 15.606.000 đồng. Những cây chè của anh A chị B trồng trên đất
của bà C là phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế vùng. Nay vợ chồng anh A
chị B ly hôn, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ đã giao những cây chè của
anh A và chị B cho C sở hữu để canh tác C thanh toán gtrị những
cây chè cho chị B 15.606.000 đồng phù hợp. Đối với những cây chè của
anh A thì anh A không đề nghị giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà C không tài liệu chứng cứ chứng minh cho
kháng cáo của mình căn cứ. vậy, không chấp nhận kháng o của bà C
nên giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình thẩm s49/2026/HNGĐ-ST
ngày 17/6/2026 ca Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của C không được chấp
nhận nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng C là người cao
tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà C.
17
[4] Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình thẩm không
kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết,
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát vgiải quyết vụ án căn cứ nên
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà C. Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia
đình sơ thẩmsố 49/2026/HNGĐ-ST ngày 17/6/2026, Quyết định sửa chữa bổ
sung bản án thẩm số 50/2026/QĐ-SCBSBA ngày 25/6/2026 Quyết định
sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 59/2026/QĐ-SCBSBA ngày 17/7/2026 của
aán nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ
phí a án. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho C người cao tuổi và
đơn xin miễn án phí.
3. Các quyết khác của bản án Hôn nhân và gia đình thẩm không
kháng o, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 7 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 7 - Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
R
18
THÀNH VIÊN HI ĐNG T X
S AC
THẨM PHÁN - CH TỌA PHN TÒA
R
19
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT Bản án số 37/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất