Bản án số 58/2026/HS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2026/HS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 58/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hà Thị H phạm tội Cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 58/2026/HS-PT
Ngày 28 tháng 5 năm 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đào Anh Đức
Các Thẩm phán: bà Trương Thị Anh, bà Lê Thị Hiệu
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Trịnh Thu Trang - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: bà
Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử
phúc thẩm công khai ván hình sự thụ lý số 100/2026/HSPT ngày 08/5/2026 đối với
bị cáo Thị H, do kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình s thẩm số
34/2026/HSST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/QĐXXPT-HS ngày 18/5/2026.
Bị cáo bị kháng cáo: Thị H, sinh ngày 05/7/1994, tại tỉnh Thanh Hóa; số
căn cước công dân: ************ (theo D bản 01, ngày 15/01/2026 lập tại ng an
Y); nơi thường trú: Thôn T, xã L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do;
trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Minh T (đã chết) và Hoàng Thị N; chồng Vi Văn D1
có 02 con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoi (có mt).
- Bị hại có kháng cáo: Chị Lang Thị N1, sinh năm 1977
Nơi thường trú: thôn N, xã Y, tỉnh Thanh Hóa (có mt).
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại: Phan Thị N2 - Trợ
giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (vắng mt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Chị Lang Thị N1 Thị H đều tiểu thương thu mua lâm sản phụ (măng)
trên địa bàn Y, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 13/8/2025, H chị N1 tranh cãi với
nhau về việc thu mua măng. Nắm được thông tin trên các đồng chí kiểm lâm thuộc
Trạm kiểm lâm Y, tỉnh Thanh Hóa gồm: Nguyễn Thế V - Trạm trưởng, Xuân
Đ, Nguyễn Sỹ T1, Nguyễn Minh T2 - Kiểm lâm viên đến nhà H để làm việc. Khoảng
12 giờ 30 phút, cùng ngày, đồng chí Nguyễn Sỹ T1 gọi điện thoại cho chị N1 đến nhà
2
H để làm việc. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, chị N1 điều khiển xe máy đến
nhà H ngồi tại bàn đt ở sân trước nhà, nơi H và các đồng chí kiểm lâm đang ngồi,
lúc này Vi Huyền T3, (con gái chị N1) đi qua nhà H, thấy có chị N1 đang ngồi tại đây
nên cũng đi vào, đứng phía sau chị N1. Tại đây H chị N1 tiếp tục tranh cãi, H chỉ
tay vào mt chị N1 thì bị chị N1 cầm chiếc cốc thủy tinh trên bàn hắt nước trong
cốc vào mt H ném cốc về phía H nhưng không trúng. H cầm lọ nhựa đựng c
khô cốc thủy tinh trên bàn ném lại về phía chị N1 nhưng không trúng, T3 (con
gái chị N1) tiến đến dùng tay đánh khoảng 02 - 03 cái vào ng đầu H. Bị đánh, H
cầm 01 cốc thủy tinh trên bàn ném trúng vào vùng miệng của chị N1, khiến chị N1
bị thương tích ở môi và tổn thương răng phía bên phải, được mọi người can ngăn nên
chị N1T3 đi về.
Ngày 10/01/2026, chị Lang Thị N1 đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can
đối với Hà Thị H.
Tại kết luận giám định tổn thương trên thể của người sống số 800/KLTTCT-
PYTH, ngày 06/01/2026 của Trung tâm P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
của chị Lang Thị N1 tại thời điểm giám định là: 3%.
Tại kết luận giám định vật gây thương tích số 801/KLVGTT-PYTH, ngày
07/01/2026 của Trung tâm P kết luận: Nếu sử dụng cốc thủy tinh do quan trưng
cầu cung cấp (06 mảnh vỡ thủy tinh kích thước khác nhau của chiếc cốc thủy tinh,
cao khoảng 15cm, đường kính phần đáy khoảng 5cm, đường kính phần miệng khoảng
7cm), tác động trực tiếp với lực đủ mạnh, thì gây ra được các thương tích như đã ghi
nhận trên cơ thể chị Lang Thị N1.
Tại kết luận giám định số 653/KL-KTHS, ngày 23/01/2026 của Phòng K Công
an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh
trong tệp video lưu mẫu vật gửi giám định; Trích xuất 07 ảnh từ tệp video gửi giám
định.
Tại kết luận giám định tổn thương trên cơ thể của người sống số 01/KLTTCT-
PYTH, ngày 07/01/2026 của Trung tâm P đối với Thị H, kết luận: Thông
22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y, không có quy định tỷ lệ phần
trăm tổn thương cơ thể với các thương tích như đã ghi nhận tại hồ giám định hiện
tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố
da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường cho bị hại
27.500.000đ, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Tại Bản án hình sự thẩm số 34/2026/HS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá, đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Thị H phạm
tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ: Đim a khon 1 Điều 134; điểm b, i, s khon 1 và
khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 B lut Hình s. Xử phạt bị cáo Thị H 08
(tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ
ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.
Ngoài ra, cấp thẩm còn tuyên về xử vật chứng, án phí quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
3
Ngày 01 tháng 4 năm 2026, bhại chị Lang Thị N1 đơn kháng cáo với nội
dung: Đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo từ cải tạo không giam giữ sang hình phạt
tù giam và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại 31.100.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, bị hại vẫn khai nhận như đã khai tại quan
điều tra và phiên toà sơ thẩm. Bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Thanh Hthực hành quyền công tố tại
phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn c điểm a khoản 1
Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị
hại chị Lang Thị N1, giữ nguyên bản án hình s sơ thẩm.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin xem xét mức hình
phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị hại Lang Thị N1 làm trong hạn luật
định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xthẩm đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên toà thẩm, phúc thẩm, bị cáo, bhại không ý kiến hoc khiếu nại gì. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Thị H
đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như phần nội dung vụ án đã tóm tắt
nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại quan điều tra cũng như tại phiên tòa là
phù hợp với nhau, cùng các tài liu chng c khác được thu thp khách quan, đúng
pháp lut có trong h sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 13/8/2025, tại nhà của ThH thôn N, Y,
tỉnh Thanh Hóa, do mâu thuẫn với nhau về việc thu mua măng nên Thị H đã
dùng 01 cốc thủy tinh ném trúng vùng miệng của chị Lang Thị N1, sinh năm 1977,
trú cùng thôn, làm tổn thương thể của chị N1 3%. Ngày 10/01/2026 chị Lang
Thị N1 đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can, do đó hành vi của Hà Thị H cấu
thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật
Hình sự, khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 (ba) năm hoc phạt
từ 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm.
Toà án cấp thẩm xét xbị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị hại:
[4.1] Xét kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo
Hành vi của bị cáo Thị H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe
của người khác, gây mất trật tự tại địa phương nên cần xử nghiêm. Tuy nhiên,
nguyên nhân dẫn đến sự việc xuất phát từ mâu thuẫn trong việc thu mua măng giữa bị
4
cáo và bị hại; trong quá tnh xảy ra xô xát, bị hại là người hắt nước, ném cốc về phía
bị cáo trước, con gái bị hại cũng hành vi dùng tay đánh vào ng đầu bị cáo. Bị
cáo không có tình tiết tăng nng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ như
đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần
đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tỷ lệ tổn thương thể của bị hại 3%,
hậu quả không lớn. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 tháng cải tạo không
giam giữ là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết
giảm nhẹ của bị cáo; không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về việc chuyển
sang hình phạt tù giam.
[4.2] Xét kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường:
Bị hại kháng cáo yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền
31.100.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, bị
cáo bị hại đã thỏa thuận về việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 27.500.000đ.
Tại Biên bản thỏa thuận ngày 15/8/2025 có nội dung “Hai bên cùng thống nhất, nghĩa
vụ bồi thường của chị H đối với chị N1 chấm dứt… Chị H không phải chịu trách
nhiệm về sau liên quan đến sức khỏe, việc hỏng của những chiếc răng sau khi
chị N1 điều trị. Việc thỏa thuận giữa những người liên quan nêu trên hoàn toàn t
nguyện…”. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.
Do đó, kháng cáo đề nghị tăng bồi thường của bị hại không căn cứ nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
5] Về án phí: Kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại Lang Thị N1, giữ nguyên bản án
thẩm số 34/2026/HSST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh
Hóa.
- Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào đim a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khon 1, khoản 2 Điều 51;
Điu 36 B lut Hình s.
- Xử phạt: Bị cáo Hà Thị H 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Thanh Hoá giám sát giáo dục trong
thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách
nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hà Thị H.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chị Lang Thị N1 phải chịu
200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền
777.500đ (bảy trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng) số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai số 0002745 ngày 09/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh
5
Hóa. Chị N1 được nhận lại 577.500đ (năm trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng)
tạm ứng án phí đã nộp.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bkháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thanh Hoá;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
- Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
- TAND KV 10 - Thanh Hoá;
- VKSND KV 10 - Thanh Hóa;
- Người tham gia tố tụng
- Lưu hồ sơ vụ án; Tòa HS; HCTP.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất