Bản án số 573/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 573/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 573/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 573/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 573/2026/DS-PT Bản án số 573/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 573/2026/DS-PT Bản án số 573/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 573/2026/DS-PT
Ngày: 11 - 6 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Mạc Thị Chiên
Ông Võ Bảo Anh
Ông Nguyễn Chế Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông – Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành
Them Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 6 m 2026, tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 459/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 673/2026/QĐ-PT ngày 23
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (Viết tắt là Ngân hàng B2).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Trụ sở: Tháp B2, số A T, phường H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Công T1, sinh
năm 1981; Ông Phan Hồng N, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số E, P, phường N, thành
phố Cần Thơ. (Theo giấy ủy quyền ngày 01/3/2021).
2. Bị đơn: Lê Thị Kim L, sinh năm 1966.
Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1957.
Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.
3.2. Ông Võ Thanh T2, sinh năm 1967.
3.3. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1967.
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
3.4. Ông Văn T3 (đã chết năm 2018). Những người kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng của ông Lê Văn T3:
3.4.1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1928 (mẹ ông T3).
3.4.2. Bà Huỳnh Thị B1 (B), sinh năm 1968 (vợ ông T3).
3.4.3. Bà Lê Thị Thúy L2, sinh năm 1987 (con ông T3).
3.4.4. Ông Lê N2, sinh năm 1989 (Con ông T3).
3.4.5. Bà Lê Thị Quyền T4, sinh năm 1991 (con ông T3).
3.4.6. Bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
3.5. Ông Ngô Văn R, sinh năm 1991.
3.6. Ông Lê Văn T5, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
3.7. Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Văn T6 Chủ tịch xã.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn Q1. (Theo giấy ủy quyền
ngày 01/8/2025).
Địa chỉ: ấp P, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
3.8. Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Ngọc N3 Chủ tịch xã.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C. (Theo giấy ủy quyền ngày
24/9/2025). Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng B2 có ký
kết với bị đơn Lê Thị Kim L hợp đồng tín dụng số 0385/10/HĐ ngày 03/6/2010, để
đảm bảo cho khoản vay Ngân hàng B2 bị đơn 03 hợp đồng thế chấp: ký kết
với bị đơn Thị Kim L hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0001E/10/HĐ ngày 28/5/2010;
kết với ông Văn T3 hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0001(C)/10/HĐ ngày
28/5/2010; ký kết với ông Võ Thanh T2 và bà Lê Thị L1 hợp đồng thế chấp QSDĐ
3
số 0001(A)/10/HĐ ngày 28/5/2010. Thị Kim L không trả để nợ đã quá hạn.
Ngân hàng B2 yêu cầu buộc bà Lê Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B2 số
tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn. Trong trường hợp bà L và những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan không còn khả năng trả nợ thì yêu cầu Tòa án phát mãi tài
sản là 03 hợp đồng thế chấp QSDĐ đã ký kết với Ngân hàng B2.
Tại Bản án phúc thẩm số 162/2024/DS-PT ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân
dân tỉnh Hậu Giang tuyên xử: Hủy một phần Bản án dân sự thẩm số 100/2023/DS-
ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang về yêu cầu xử tài sản thế chấp của Ngân hàng B2 yêu cầu độc lập yêu
cầu hủy hợp đồng thế chấp của bà Huỳnh Thị B, Thị Thúy L2, bà Lê Thị Cẩm
H, ông N2, Lê Thị Quyền T4, ông Thanh T2, Thị L1 đối với Hợp
đồng thế chấp số 0001(C)/10/HĐ ngày 28/5/2010 giữa Ngân hàng B2 với ông
Văn T3; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0001(A)/10/HĐ ngày 28/5/2010
giữa Ngân hàng B2 với ông Thanh T2, Thị L1. Các quyết định khác của
bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng B2 trình bày đối với yêu cầu bị đơn Lê Thị
Kim L trả nợ phát mãi tài sản do bản án thẩm không có kháng cáo nên đã
hiệu lực, Ngân hàng B2 đã làm đơn yêu cầu thi hành án nên Ngân hàng B2 xin rút
yêu cầu này.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0001(A)/10/HĐ ngày
28/5/2010 giữa Ngân hàng B2 với ông Võ Thanh T2. Ông Võ Thanh T2 đồng ý trả
cho Ngân hàng B2 tính đến ngày 22/9/2025 tổng số tiền 40.017.361 đồng. Trong đó
nợ gốc 10.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 20.484.722 đồng, lãi quá hạn 9.532.639
đồng. Vì vậy, Ngân hàng B2 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Võ Thanh T2 sau khi ông T2 trả đủ tiền theo thỏa thuận tại phiên tòa.
Ngân hàng B2 yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số
0001(C)/10/HĐ ngày 28/5/2010 giữa Ngân hàng B2 với ông Lê Văn T3. Do ông
Văn T3 đã chết, nên các đồng thừa kế của ôngVăn T3 đồng ý trả cho Ngân hàng
B2 tính đến ngày 22/9/2025 tổng số tiền 240.104.166 đồng. Trong đó nợ gốc
60.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 122.908.333 đồng, lãi quá hạn 57.195.833 đồng,
Ngân hàng B2 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho các đồng thừa kế
của ông Lê Văn T3.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Thị Kim L đã được Tòa án tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
4
Quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của Huỳnh Thị B1, Thị
Thúy L2, bà Lê Thị Cẩm H là ông Lâm Văn K trình bày: Không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng B2 về việc yêu cầu phát mãi tài sản của ông Văn T3
với do người sử dụng đất không thế chấp quyền sử dụng đất, không vay vốn
hay giấy tđể người thứ ba vay vốn của Ngân hàng B2 yêu cầu độc lập yêu
cầu hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất yêu cầu buộc Ngân hàng B2
trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B700168 do UBND tỉnh C
cấp ngày 26/9/1992 cho hàng thừa kế của ông Lê Văn T3.
Quá trình tố tụng, ông Thanh T2 Thị L1 trình bày: Vào năm 2010
do làm ăn kkhăn nên ông hỏi vay của ông Q 10.000.000 đồng đmua ghe máy
để đi thả câu, ông có cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, không
có làm giấy tờ giao nhận, thỏa thuận lãi 01 tháng là 100.000 đồng, có đóng cho ông
Q 36 tháng tiền lãi với số tiền 3.600.000 đồng. Sau khi dành dụm được tiền ông
gọi cho ông Q để chuộc lại giấy đất nhưng ông Q hẹn gặp mà không gặp, tới khi ông
đi làm về thì gặp Ngân hàng B2 đến nói giấy đất của ông L đã vay tiền của
Ngân hàng B2. Ông đồng ý cầm giấy đất cho ông Q vay 10.000.000 đồng, ông
đồng ý trả 10.000.000 đồng cho ông Q và ông yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông. Đối với phần đất thì không tranh chấp với người khác, đất
sử dụng ổn định, ông không hợp đồng thế chấp. Ông không đồng ý với u
cầu khởi kiện của Ngân hàng B2 về việc yêu cầu phát mãi tài sản của ông với lý do
ông không có ký thế chấp quyền sử dụng đất, không có vay vốn hay ký giấy tờ vay
vốn của Ngân hàng B2 và yêu cầu độc lập yêu cầu hiệu hợp đồng thế chấp
QSDĐ và yêu cầu buộc Ngân hàng B2 trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 846640 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông Võ Thanh
T2. Tại phiên tòa, ông đồng ý trả cho Ngân hàng B2 tính đến ngày 22/9/2025 tổng
số tiền 40.017.361 đồng. Trong đó nợ gốc 10.000.000 đồng, lãi suất trong hạn
20.484.722 đồng, lãi quá hạn 9.532.639 đồng. Đề nghị Ngân hàng B2 trả giấy đỏ
cho ông.
Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Q trình
bày: Ông và bà L chung sống như vợ chồng từ năm 2010, ông bà không có đăng ký
kết hôn và cũng chưa ly hôn theo quy định. Trước đó ông có quen với ông Võ Văn
T7 (nhưng không biết địa chỉ cụ thể) do thiếu tiền làm ăn nên nhờ ông T7 vay tiền
dùm. Ông T7 yêu cầu để bà L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ
thế chấp cho Ngân hàng B2 nên ông làm thủ tục hợp đồng tặng cho bà L phần
đất này, sau đó ông T7 đưa tiền lại cho ông 110.000.000 đồng, việc L hợp
đồng thế chấp ngày 28/5/2010 thì ông có biết, thời điểm này ông và bà L đang sống
5
chung. Đối với phần đất thế chấp nhà trên đất ông đang sử dụng, quản lý, canh
tác. Hiện nay ông đang trên phần đất thế chấp thửa 1100 diện tích 4377m
2
, trên
đất căn nhà do ông xây dựng, khi ông L về chung sống, cất nhà khoảng năm
2001 đến nay, nếu căn cứ xác định hợp đồng thế chấp đúng thì ông đồng ý
phát mãi tài sản theo quy định, còn hợp đồng thế chấp không đúng thì yêu cầu hủy
hợp đồng thế chấp trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng ông Võ Ngọc V trình bày: Vào năm 2019, ông có đứng ra
chuyển nhượng phần đất của ông T2 tại thửa 111 diện tích hơn 5000m
2
, đặt cọc
trước 75.000.000 đồng, chỉ làm giấy tay, chỉ đặt cọc chưa làm hợp đồng chuyển
nhượng theo quy định, khi nào ông T2 lấy giấy chứng nhận thì ông tiếp tục thực
hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, về hợp đồng chuyển nhượng thì ông
không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, không yêu cầu hòa giải công khai
chứng cứ, đề nghị giải quyết vắng mặt ông.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Văn T5 trình bày: Ông có mua 01
công đất của ông Văn T3 với số tiền 43 triệu đồng. Ông T3 nói vay tiền
Ngân hàng B2 khi nào lấy giấy ra được thì cho ông làm giấy, ông đã giao đủ tiền
cho ông T3 nhận đất canh tác ổn định từ năm 2011 đến nay nên yêu cầu được
ổn định đất. Ông không yêu cầu đối với vụ án này, nếu tranh chấp đồng ý tách
ra giải quyết thành vụ án khác.
Quá trình tố tụng ông Ngô Văn R trình bày: Vào năm 2012, ông T3 cho
ông một phần đất diện tích khoản 2.000m
2
, chỉ nói miệng không có giấy tgì, hiện
ông đang canh tác trên toàn bộ diện tích đất của ông T3 đứng tên, trong vụ án này
ông không có yêu cầu hay tranh chấp gì, đồng ý tách ra giải quyết thành vụ kiện
khác.
Quá trình tố tụng Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Cần Thơ trình bày: Thủ
tục chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của Ngân hàng B2 ông
Văn T3 đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Đề nghị giải quyết vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Quá trình tố tụng Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ trình bày: Thủ
tục chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của Ngân hàng B2 đúng
quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề
nghị giải quyết vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ. Tuyên xử:
6
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về yêu cầu
hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất số 0001(C)/10/HĐ ngày 28/05/2010 giữa
Ngân hàng TMCP Đ với ông Lê Văn T3 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 0001 (A) /10/HĐ ngày 28/05/2010 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Thanh
T2, bà Lê Thị L1 vô hiệu.
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu buộc bà Lê Thị Kim L nghĩa vụ trả
cho Ngân hàng TMCP Đ do nguyên đơn rút yêu cầu.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan. Tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0001(C)/10/HĐ
ngày 28/05/2010 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Lê Văn T3 hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 0001 (A) /10/HĐ ngày 28/05/2010 giữa Ngân hàng
TMCP Đ với ông Thanh T2, bà Lê Thị L1.
4. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP Đông T2 về việc ông
T2 đồng ý trả cho Ngân hàng B2 tính đến ngày 22/9/2025 tổng số tiền 40.017.361
đồng. Trong đó nợ gốc 10.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 20.484.722 đồng, lãi
quá hạn 9.532.639 đồng. Ngân hàng B2 nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng
nhận quyền sdụng đất số AH 846640 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp cho
ông Võ Thanh T2 sau khi ông T2 trả tất nợ tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần
Thơ.
5. Buộc Ngân hàng TMCP Đ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số B700168 do UBND tỉnh C (nay tỉnh Hậu Giang) cấp ngày
26/9/1992 cho hàng thừa kế của ông Lê Văn T3 gồm có người thừa kế Nguyễn
Thị N1, Huỳnh Thị Bé B1, bà Lê ThThúy L2, ông N2, Thị Quyền T4
và bà Lê Thị Cẩm H tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
6. Tách yêu cầu giải hậu quả của hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất
hiệu giữa Ngân hàng TMCP Đ với các đồng thừa kế của ông Văn T3 ra giải
quyết thành vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Tách hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thanh T2,
Lê Thị L1 với ông Võ Ngọc V thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Tách hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn T5 với
các đồng thừa kế của ông Lê Văn T3 hợp đồng tặng cho NVăn R với các đồng
thừa kế của ông Lê Văn T3 thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra Bản án có tuyên về quyền kháng cáo, chi phí tố tụng và tiền án phí.
Ngày 02/10/2025, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ kháng cáo một phần Bản
án dân sự sơ thẩm số 122/2025/DS-ST của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ
đề nghị cấp phúc thẩm hủy một phần bản án thẩm số: 122/2025/DS-ST ngày
7
22/09/2025, giải quyết lại vụ án theo hướng trong trường hợp bên vay vốn không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không tất nợ đối với Ngân hàng B2 thì buộc bên
bảo đảm thực hiện thay nghĩa vụ cho bên vay vốn bao gồm cả việc kê biên phát mại
tài sản bảo đảm theo quy định. Vì đây là tài sản đã được thế chấp hợp pháp để đảm
bảo khoản vay tại Ngân hàng B2; Đồng thời tại Biên bản làm việc ngày 04/02/2015
ông T3 thừa nhận có ký Hợp đồng thế chấp trên và nhận 60.000.000 đồng.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng,
công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng B2 với ông Lê Văn
T3 hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
Ngân hàng B2 trình bày: Do ông Văn T3 đã thừa nhận hợp đồng thế
chấp khi Ngân hàng B2 làm việc với ông T3. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng công nhận hiệu lực đối với hợp đồng thế chấp
số 0001(C)/10/HĐ ngày 28/5/2010 giữa Ngân hàng B2 với ông Văn T3. Ngân
hàng B2 không kháng cáo đối với hợp đồng thế chấp s 0001(A)/10/HĐ ngày
28/5/2010 giữa Ngân hàng B2 với ông Võ Thanh T2 và Lê Thị L1. Do hợp đồng
này giữa Ngân hàng B2 với ông Võ Thanh T2 đã thỏa thuận xong.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật
của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Đối với yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng B2 không căn cứ. Bởi lẽ,
hợp đồng thế chấp chưa đảm bảo tính hợp pháp, người thế chấp không tên vào
hợp đồng thế chấp, nên không căn cứ để công nhận hợp đồng thế chấp hiệu
lực pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn và áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn Ngân hàng B2 đơn kháng cáo đúng
quy định ca pháp luật về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung
kháng cáo theo quy định của các Điều 271, 272, 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xphúc thẩm xem xét yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn theo trình tự phúc thẩm.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn những người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 xét xử vắng mặt bị
đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng B2 đnghị Hội đồng xét
xử xem xét sửa một phần Bản án sơ thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Tgiải quyết lại vụ án theo hướng trong trường
hợp bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không tất nợ đối với Ngân
hàng B2 thì buộc bên bảo đảm những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông
Văn T3 thực hiện thay nghĩa vụ cho bên vay vốn bao gồm cả việc kê biên phát mại
tài sản bảo đảm theo quy định.
[2.1] Xét hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng B2 số 0001C/10/HĐ ngày
28/5/2010 với ông Lê Văn T3 thế chấp quyền sử dụng đất số 000010.QSDĐ, thửa
đất 74,75 tờ bản đồ số 03, diện tích 12.393m
2
do UBND huyện C, tỉnh Cần Thơ
(cũ) cấp ngày 26/9/1992 đứng tên Nguyễn Thị N1, điều chỉnh sang tên ông
Văn T3 vào ngày 02/7/2008 để đảm bảo khoản vay 520 triệu đồng của Thị
Kim L. Tuy nhiên, ông Văn T3 những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông
T3 không thừa nhận chữ ký trong hợp đồng thế chấp nêu trên. Do đó, cấp sơ thẩm
đã tiến hành giám định chữ của ông Văn T3 trong hợp đồng thế chấp với
Ngân hàng B2.
[2.2] Căn cứ Kết luận giám định chữ ký số 5205/C09B ngày 20/11/2020 của
Phân Viện Khoa học hình stại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc V1 Bộ C1 giám định
và kết luận chữ ký đứng tên Lê Văn T3, chữ viết họ tên Văn T3 dưới mục “bên
thế chấp” trên “hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số 0001 (C) đề ngày 28/5/2010
là không phải do cùng một người ký và viết ra.
[2.3] Đại diện Ngân hàng B2 cho rằng ông T3 ông T2 thừa nhận thế
chấp quyền sử dụng đất tại biên bản làm việc với Ngân hàng B2 thể hiện tại bút lục
665 666. Tuy nhiên, hai biên bản này không phải sở để xác định ông T3,
ông T2 ký tên vào hợp đồng thế chấp và nó không có giá trị làm chứng cứ trong
vụ kiện.
Từ những phân tích trên có thể xác định hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng
B2 số 0001C/10/HĐ ngày 28/5/2010 với ông Văn T3 thế chấp quyền sử dụng
đất số 000010.QSDĐ, để đảm bảo khoản vay 520 triệu đồng củaLê Thị Kim L
bị vô hiệu, do người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông
Văn T3 không ký tên trong hợp đồng thế chấp.
9
[2.4] Chữ ký đứng tên Võ Thanh T2, chữ viết họ tên Võ Thanh T2 trong hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0001 (A) đề ngày 28/5/2010 không phải do
cùng một người ký và viết ra. Đối với bà Lê Thị L1 người mù chữ không biết ký
tên và chỉ lăn tay được thể hiện ở giấy chứng nhận kết hôn và đơn xác nhận mù chữ
(Bút lục số 221, 236). Đối chiếu với hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0001(A)/10/HĐ
ngày 28/5/2010 tchữ tên chữ viết Thị L1 nét giống chữ tên
Thanh T2. Tđó thể xác định được Thị L1 cũng không ký tên trong hợp
đồng thế chấp. Tuy nhiên hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0001(A)/10/HĐ ngày
28/5/2010 Ngân hàng B2 thống nhất với bản án sơ thẩm, không kháng cáo nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập trong quá trình
tố tụng để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, đảm bảo
quyền lợi ích chính đáng cho ông Văn T3 nay những người kế thừa quyền
nghĩa vụ của ông T3. Do đó, không sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của Ngân hàng B2.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng B2 không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng
cáo của Ngân hàng B2, giữ nguyên Bản án thẩm. Tuy nhiên, phần quyết định
của Bản án sơ thẩm tuyên có nội dung còn chưa chính xác theo như nội dung phần
nhận định của Bản án, nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại phần tuyên tại mục “1.”
trong phần quyết định cho phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các phần
khác của Bản án không phải điều chỉnh nên được giữ nguyên.
[4] Xét Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản và sử dụng án phí lệ phí tòa án. Ngân hàng B2 phải chịu theo
quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
10
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ, giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm s122/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 14 - Cần Thơ.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về yêu cầu
hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất số 0001(C)/10/HĐ ngày 28/05/2010 giữa
Ngân hàng TMCP Đ với ông Lê Văn T3 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 0001 (A) /10/HĐ ngày 28/05/2010 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Thanh
T2Lê Thị L1 có hiệu lực.
2. Các phần khác của Bản án được giữ nguyên.
3. Án phí dân sphúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ phải chịu
300.000 đồng án phí dân sphúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm Ngân hàng TMCP Đ đã đóng theo Biên lai thu số 0004113 ngày 03 tháng
10 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
11/6/2026).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 14 - Cần Thơ;
- P.THADS khu vực 14 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Mạc Thị Chiên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 573/2026/DS-PT Bản án số 573/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 573/2026/DS-PT Bản án số 573/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất