Bản án số 560/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 560/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 560/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 560/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 560/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 560/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án số 560 -21-4-2026- Th- H- Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 560/2026/DS-PT
Ngày 21-4-2026
V/v hng hp tác
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
Các Thm phán: 1. Bà Phùng Thị Cẩm Hồng;
2. Ông Nguyễn Phước Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 3
năm 2026, về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 201/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1972; CCCD số
072072002803 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày
30-8-2021; Địa chỉ: Khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995; Địa chỉ: B L, Khu phố D, phường L,
tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 09 tháng 5 năm 2025); có mặt;
- Chị Trần Thị Yến N, sinh năm 1997; Địa chỉ: khu phố N, phường N, tỉnh
Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 09 tháng 5 năm 2025); vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; CCCD số 040177000683 do
Cục Cảnh sát quản lý hành chính cấp ngày 20-8-2021; Địa chỉ: Tổ A, Hẻm H N,
Khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Ông Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN

2
T
Ngày 05-8-2022, ông T và bà Nguyễn Thị H thoả thuận miệng cùng góp
vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất diện tích ngang 12 mét x
dài 62 mét, toạ lạc tại khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh để chuyển nhượng
lại thu lợi nhuận. Theo đó, ông T góp 550.000.000 đồng tương ứng diện tích đất
ngang 05 mét x dài 62 mét, phần 07 mét ngang còn lại là của bà H. Hai bên xác
định phần sở hữu như trên để làm căn cứ phân chia lợi nhuận, nên không làm
thủ tục để đứng tên quyền sử dụng đất theo phần của mỗi người; ông T thống
nhất để bà H đứng tên toàn bộ quyền sử dụng đất.
Tháng 11 năm 2024, ông T khởi kiện bà H tại Toà án nhân dân thành phố
Tây Ninh yêu cầu trả lại số tiền góp vốn 550.000.000 đồng. Tại phiên hoà giải,
bà H thừa nhận phần ông T góp vốn tương ứng 05 mét đất; bà H trình bày đang
làm thủ tục tách thành 02 thửa đều có mặt tiền, ông T nhận 05 mét ngang bên
phần đất nào thì sẽ làm thủ tục cho ông T đứng tên quyền sử dụng phần đất đó.
Do ông T có tìm hiểu và được biết là có khả năng không tách thửa đất được nên
trong biên bản hoà giải mới có câu là “H
”. Ông T cũng chỉ muốn thương lượng nên
đồng ý chờ bà H thực hiện thủ tục tách thửa và rút đơn khởi kiện.
Sau này, ông T được biết ngày 07-01-2025 (trước thời điểm tiến hành
phiên hoà giải), bà H đã thực hiện thủ tục tách đất làm 02 thửa (mỗi thửa diện
tích ngang 12 x dài 31 mét) và đã tặng cho con gái ruột là chị Trần Hoàng L 01
thửa vào ngày 03-02-2025. Như vậy, bà H đã thực hiện không đúng thoả thuận
ảnh hưởng quyền lợi của ông T. Do đó ông T khởi kiện yêu cầu bà H trả lại tiền
đã góp vốn là 550.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Trong quá tr
trình bày:
Năm 2022, bà và 07 người khác cùng góp vốn nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất để chuyển nhượng lại thu lợi nhuận, căn cứ theo phần vốn góp của
mỗi người tiến hành tách ra 04 thửa đất, thoả thuận miệng khi nào chuyển
nhượng được đất sẽ phân chia lợi nhuận. Riêng phần của bà là 24 mét ngang
gồm phần vốn góp của bà và ông T. Ban đầu, bà chỉ biết đây là tiền vốn góp của
chị Lê Thị Hồng N1 vì chị N1 trực tiếp đứng ra trao đổi, thoả thuận việc góp
vốn với bà. Sau này, khi bà đã làm thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất xong thì
ông T liên hệ để hỏi thông tin về phần đất thì bà mới biết người góp vốn là ông
T. Thời điểm này, do thấy đất không chuyển nhượng được nên ông T muốn lấy
lại phần vốn góp 550.000.000 đồng và đã khởi kiện bà tại Toà án nhân dân
thành phố Tây Ninh. Tại phiên hoà giải, bà đã trao đổi rõ với ông T, bà cũng
thiện chí xác định người góp vốn với bà là ông T và phải đợi đất chuyển nhượng
được thì mới có thể thanh toán lại tiền cùng lợi nhuận cho ông T. Bà vẫn đồng ý
xác nhận cho ông T sở hữu phần đất 05 mét ngang. Thời điểm này, ông T biết rõ
bà đang làm thủ tục tách đất thành 02 thửa, mỗi thửa là 12 mét ngang và thống

3
nhất chờ bà thực hiện xong thủ tục tách thửa để tiếp tục tách ra cho ông T 05
mét ngang. Hiện bà đã được cấp quyền sử dụng đất cho 02 thửa (mỗi thửa 12
mét ngang), bà đứng tên 01 thửa và con bà là Trần Hoàng L đứng tên thửa còn
lại. Tuy nhiên, bà tìm hiểu thì được biết hiện chưa tiến hành thủ tục tách thửa
được cho ông T do chưa có quyết định xoá quy hoạch ở khu vực này. Do đó,
nay ông T lại tiếp tục khởi kiện. Số tiền 550.000.000 đồng này là tiền của ông T
góp vốn nhận chuyển nhượng đất để chuyển nhượng lại thu lợi nhuận nên khi
nào chuyển nhượng được đất thì bà sẽ trả cho ông T đầy đủ tiền gốc cũng như
lợi nhuận nếu có. Hiện đất vẫn chưa chuyển nhượng được, do đó, bà không đồng
ý yêu cầu khởi kiện của ông T.
-01-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bà
Nguyễn Thị H, về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10-02-2026, ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản
án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T; buộc bà Nguyễn Thị H trả
lại cho ông T số tiền 550.000.000 đồng; ông T không yêu cầu tính lãi.
tòa:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã
thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
đương sự chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm; công nhận sự
thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận thống nhất với nhau
về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:
1. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H cùng đứng tên chung Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, đối với
phần đất có diện tích 372,5m
2
(Loại đất ở tại đô thị 52,5m
2
; đất trồng cây lâu
năm 320,0m
2
; hình thức sử dụng: Sử dụng chung), thửa đất số 1075, tờ bản đồ
24, tại khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nay khu phố N,
phường N, tỉnh Tây Ninh (Trong đó phần của ông Nguyễn Văn T được quyền sử
dụng diện tích đất ngang 05m X dài 31m = 155m
2
và có loại đất ở đô thị là
21,9m
2
; đất trồng cây lâu năm 133,3m
2
).
2. Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số AA00857898, số vào sổ cấp giấy chứng

4
nhận: CN1423 ngày 19-3-2025 cấp cho bà Nguyễn Thị H, để cấp lại theo bản án
này.
3. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận
quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số AA00857898, số vào sổ
cấp giấy chứng nhận: CN1423 ngày 19-3-2025; để cấp lại theo quyết định của
bản án này.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H mỗi
người chịu 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn T đã nộp 13.000.000
đồng, theo biên lai thu số 0000063 ngày 13-5-2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Tây Ninh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, tỉnh Tây
Ninh). Hoàn trả cho ông T số tiền còn thừa là 12.850.000 (Mười hai triệu, tám
trăm năm mươi nghìn) đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu; hoàn
trả cho ông T 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0003152 ngày 10-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Hội đồng xét xử nhận thấy: các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết toàn bộ vụ án; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện,
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, chấp
nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; sửa bản án sơ thẩm và công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.
3. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 38/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Tây Ninh.
4. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm, cụ
thể như sau:
4.1. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H cùng đứng tên chung Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, đối với
phần đất có diện tích 372,5m
2
(Loại đất ở tại đô thị 52,5m
2
; đất trồng cây lâu
năm 320,0m
2
; hình thức sử dụng: Sử dụng chung), thửa đất số 1075, tờ bản đồ
24, tại khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nay khu phố N,
phường N, tỉnh Tây Ninh (Trong đó phần của ông Nguyễn Văn T được quyền sử
dụng diện tích đất ngang 05m X dài 31m = 155m
2
và có loại đất ở đô thị là
21,9m
2
; đất trồng cây lâu năm 133,3m
2
).

5
4.2. Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số AA00857898, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận: CN1423 ngày 19-3-2025 cấp cho bà Nguyễn Thị H, để cấp lại theo bản án
này.
4.3. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận
quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số AA00857898, số vào sổ
cấp giấy chứng nhận: CN1423 ngày 19-3-2025; để cấp lại theo quyết định của
bản án này.
4.4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H
mỗi người chịu 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn T đã nộp 13.000.000
đồng, theo biên lai thu số 0000063 ngày 13-5-2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Tây Ninh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, tỉnh Tây
Ninh). Hoàn trả cho ông T số tiền còn thừa là 12.850.000 (Mười hai triệu, tám
trăm năm mươi nghìn) đồng.
4.5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu;
hoàn trả cho ông T 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu số 0003152 ngày 10-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật
Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 10;
- Phòng THADS Khu vực 10;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quốc Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm