Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 574/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 574/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: LÊ MINH TR - PHAN T KIM NGỌC TH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Bà Nguyn Th Dim Hng
Bà Đinh Thị Ngc Yến
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Huỳnh Thị Mộng Thuý, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 1053/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 111/2025/DS-ST ngày 26-9-2025 Tòa án nhân
dân Khu vực 1- Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2025/-PT ngày 23
tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số C ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp B, xã M, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Bị đơn:Phan Thị Kim Ngọc T2, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số A H, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T2: Ông Lương Quang K, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số A N, phường L, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 574/2026/DS-PT
Ngày:22 - 4 - 2026
Về việc “Tranh chấp đòi lại tài
sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lương Quang K, sinh năm 1982
Địa chỉ: Số A N, phường L, tỉnh Tây Ninh.
2. Ông Ngô Công H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.(vắng mặt)
3. Bà Phạm Lệ (Pham Le A), sinh năm 1953
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của Phạm Lệ (Pham Le A): Trần Nguyễn
Kiều M, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Số B N, phường L, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
4. Ông Trần Văn H1 sinh năm 1949 (có mặt).
5. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A H, phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Ông Lê Minh T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2022 của ông Minh T, đơn khởi kiện bổ
sung đề ngày 21/7/2025 và các lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông
T là ông Nguyễn Tuấn D có trong hồ sơ và tại phiên tòa có nội dung:
Vợ chồng ông Minh T, Phạm Lệ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thửa đất số 41, tờ bản đồ số 18 toạ lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay
phường K, tỉnh Tây Ninh. Ông T nhờ Phạm Thị Lệ T3 (em ruột của
Ả) đứng tên giùm quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 41, tờ bản đồ số 18. Sau đó, do
T3 đột ngột qua đời nên ông T tiếp tục nhờ con ruột của T3 là bà Phan
Thị Kim Ngọc T2 tiếp tục đứng tên giùm quyền sử dụng đất của thửa đất này. Lúc này,
T2 làm các thủ tục liên quan để thay mặt ông T, tiếp tục đứng tên giùm thửa
đất nêu trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CD862390 do Sở tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp ngày
21/3/2016.
Để làm chứng cứ thể hiện thửa đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng
ông T, bà thì ông T, bà cùng với bà T2 có lập các văn bản thoả thuận với nhau về
việc đứng tên giùm như “Biên bản thỏa thuận” ngày 27/5/2019 và “Biên bản làm việc”
ngày 01/06/2019. Trong đó các bên thống nhất việc bà T2 thay mặt , ông T đứng
tên dùm thửa đất số 41, đồng thời bà Ảnh ông T có quyền đòi lại thửa đất số 41, tờ bản
đồ số 18 bất cứ thời điểm nào.
Đến năm 2022 T2 đã tự ý cho ông Ngô Công H thuê thửa đất trên theo Hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 12/7/2022 tại Văn phòng C1 mà không thông qua sự
đồng ý của ông T, Ả. Sau đó, ông H thành lập hộ kinh doanh Hương Vàm C với mục
đích kinh doanh dịch vụ lưu trú, gia công sắt thép, điểm dừng chân, dịch vụ ăn uống,
phim trường, chụp ảnh. Trên đất, ông H T2 đầu xây dựng nhiều hạng mục như:
chòi, nhà, sảnh, thủy tạ, homestay...
3
Đến tháng 10 năm 2022 khi vợ chồng ông T, bà liên hệ bà T2 để yêu cầu làm
thủ tục chuyển trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 41 tbản đồ số 18 mà T2
đã đứng n giùm để ông T đứng tên nhưng T2 lấy nhiều do đến nay bà T2 vẫn
chưa thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận.
Nay ông T yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1- Tây Ninh xem xét giải quyết như
sau: Buộc bà Phan Thị Kim Ngọc T2 nghĩa vụ trả cho ông Minh T toàn bộ gtrị
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại phường T, thành
phố T, tỉnh Long An nay là phường K, tỉnh Tây Ninh, theo chứng thư thấm định giá là
42.593.384.000 đồng (Bốn ơi hai tỷ, năm trăm chín mươi ba triệu, ba trăm tám mươi
bốn nghìn đồng).
Bị đơn Phan Thị Kim Ngọc T2 do ông Lương Quang K đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Ngày 27/5/2019 Phan Thị Kim Ngọc T2 đến Văn phòng T5 xác nhận nợ
với bà Phạm Lệ Ả, hai bên có lập vi bằng nội dung: Bà T2 nợ bà Ả số tiền
10.000.000.000 đồng trả trong vòng 10 năm, mỗi tháng T2 phải trả cho
50.000.000 đồng tiền lời, nếu trả 1 phần tiền gốc thì tiền lãi sẽ đượcch theo tỷ lệ, nếu
trong vòng 10 năm mất thì T2 vẫn phải trả cho con của bà ông Brandon
P số tiền 8.000.000.000 đồng trả cho chồng bà là ông Minh T số tiền
2.000.000.000 đồng.
Thực hiện thoả thuận từ ngày 01/7/2019 đến tháng 4 năm 2021, bà T2 vẫn đóng
tiền lãi đúng theo thoả thuận. Từ tháng 4 năm 2021 thì dịch Covid 19 bùng phát, nhà
nước giãn cách xã hội nên bà T2 xin ngưng trả tiền đến khi qua dịch thì bà T2 tiếp tục
trả lãi. Khi dịch Covid 19 ổn định mở cửa, việc làm ăn buôn bán không còn được
như trước dịch, nên bà T2 điện thoại xin bả Ảnh cho T2 trả tiền lãi từ 50.000.000
đồng xuống 20.000.000 đồng, số tiền 30.000.000 đồng còn lại ghi nợ vào phần nợ gốc
được bà Ả đồng ý. Ngày 02/3/2022 T2 tiếp tục trả lãi cho số tiền 20.000.000
đồng, mỗi lần bà T2 trả tiền đều có ký nhận của bà Ảông T.
Đến ngày 29/10/2022, ông T dẫn theo 02 người nhân viên của Văn
phòng T5 đến nhà bà T2 nói để xác nhận lại số n30.000.000 đồng mỗi tháng, bà T2
thiếu tiền cộng dồn là 860.000.000 đồng. Ông T đưa ra một số tờ giấy photo ghi rõ
T2 đưa tiền thiếu tiền. Ông T muốn T2 viết thêm giấy nợ xác nhận T2
nợ ông T 860.000.000 đồng. T2 trình bày trong vi bằng ngày 27/5/2019 T2
chỉ ghi nợ với bà Ả, không ghi nợ với ông T. Sau đó, bà T2 thoả thuận bà T2 đóng
20.000.000 đồng mỗi tháng, ông T và đồng ý yêu cầu nhân viên Văn phòng T5
ghi biên bản thoả thuận. Sau khi ghi biên bản thoả thuận T2 đọc lại nội dung thấy
ghi T2 đang vi phạm hợp đồng vi bằng buộc T2 chuyển tài sản T2 đang
được đứng tên cho bà Ả. Khi đó, T2 không đồng ý ký tên biên bản thoả thuận. Sau
đó, bà Ảông T cùng 02 người nhân viên Văn phòng T5 đi về.
Hiện tại T2 đã trả tiền lãi cho bà Ả 1.090.000.000 đồng, trong đó ông T nhận
06 lần mỗi lần 20.000.000 đồng. T2 đồng ý trcho ông T số tiền 10.000.000.000
đồng tiền lãi theo thỏa thuận trong vi bằng lập ngày 27/5/2019 sau khi đã khấu trừ
số tiền 1.090.000.000 đồng T2 đã trả tiền lãi cho bà Ả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Lệ (Pham Le A) do bà Trần
Nguyễn Kiều M đại diện theo ủy quyền trình bày:
4
Phạm Lệ Ả nhu cầu mua đất nhưng đi làm ăn xa nước ngoài nên
Phạm Lệ Ả và ông Lê Minh T có nhờ vợ chồng ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị Đ
đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 71, tờ bản
đồ số 02, tọa lạc tại phường K, thị xã T, tỉnh Long An (nay là thửa đất số 41, tờ bản đồ
số 18, diện tích 6.516m
2
, loại đất LUA, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tinh L). Sau
đó, ông T yêu cầu ông H1, Đ chuyển lại toàn bộ phần đất này cho em
ruột bà ẢPhạm Thị Lệ T3 đứng tên giùm.
Đến năm 2016, T3 đột ngột qua đời nên và ông T nhờ con ruột của
T3 là Phan Thị Kim Ngọc T2 tiếp tục đứng tên giùm quyền sử dụng đất của thửa đất
này. Đlàm chứng cứ thể hiện thửa đất nêu trên thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà
và ông T thì bà cùng chồng là Lê Minh T lập các văn bản thỏa thuận xác nhận
với nhau về việc đứng tên giùm như “Biên bản thỏa thuận” ngày 27/5/2019 “Biên
bản làm việc” ngày 01/06/2019. Trong đó các bên thống nhất việc T2 thay mặt
, ông T đứng tên dùm thửa đất số 41. Đồng thời bà Ảnh ông T quyền đòi lại thửa
đất số 41, tờ bản đồ số 18 bất cứ thời điểm nào. Trong quá trình giải quyết ván tại
Bảng tự khai ngày 21/9/2023 bà T2 cũng đã thừa nhận “tôi được thừa kế tmẹ tôi bà
Phạm Thị Lệ T3, nhưng bà Phạm Lệ Á nói là do mẹ tôi đứng n dùm nên giờ muốn tôi
trả tiền lại miếng đất tôi đã đứng tên. Tôi đồng ý”. Như vậy căn cứ xác định bà Phạm
Lệ , ông Minh T chủ sở hữu sử dụng đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 18,
diện tích 6.516m
2
, loại đất LUA, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay
là phường K, tỉnh Tây Ninh.
Phạm Lệ yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chồng
là ông Minh T cụ thể như sau: Buộc bà Phan ThKim Ngọc T2 nghĩa vụ trả
lại cho ông Lê Minh T toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 41, tờ bản
đồ số 18, tọa lạc tại Phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay phường K, tỉnh Tây
Ninh, theo chứng thư thẩm định giá 42.593.384.000 đồng (Bốn mươi hai tỷ, năm
trăm chín mươi ba triệu, ba trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Quang K thống nhất với trình
bày của bị đơn bà Phan Thị Kim Ngọc T2, không có yêu cầu khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công H không mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa nên không có lời trình bày.
Tại bản tường trình người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1,
Nguyễn Thị Đ trình bày: Ông Trần Văn H1 Nguyễn Thị Đ người được vợ chồng
ông Lê Minh T, bà Phạm Lệ Ả nhờ thay mặt thực hiện giao dịch nhận chuyển nhượng
đứng tên giùm đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 18, diện tích 6.516 m
2
, loại đất
LUA, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay là phường K, tỉnh Tây Ninh
(trước là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường K, thị xã T, tỉnh Long An),
cụ thể:
Nguyên trước đây, do , ông T đi làm ăn xa nước ngoài nên nhờ ông H1,
Đ đứng tên giùm thửa 41. Toàn bộ số tiền mua thửa 41 là của bà , ông T giao cho
ông H1, Đ. Đến năm 2001, , ông T yêu cầu ông H1, Đ chuyển lại toàn bộ
phần đất này cho bà Phạm Thị Lệ T3 tiếp tục đứng tên giùm. Khi đó, bà Ả người trực
tiếp đem hồ sơ chuyển nhượng đến cho ông H1, Đ tên. Trên thực tế, ông H1,
Đ chưa từng gặp T3 cũng không biết T3 là ai, giữa ông H1, Đ T3
5
không có bất kỳ giao dịch chuyển nhượng nào, ông H1, Đ cũng không nhận bất kỳ
khoản tiền nào từ bà T3.
Ông H1, bà Đ khẳng định và cam đoan ông H1, bà Đ chỉ là người thay mặt đứng
tên dùm ông Lê Minh T, bà Phạm Lệ đối với phần đất nêu trên. Đồng thời, việc sang
nhượng giữa ông H1, Đ Phạm Thị Lệ T3 không thật, ông H1, Đ chỉ
giấy tờ để sang tên cho bà T3 theo yêu cầu của ông T, chứ ông H1, Đ không
nhận bất kỳ khoản tiền chuyển nhượng nào.
Tại Bản án sơ thẩm 111/2025/DS-ST ngày 26-9-2025 Tòa án nhân dân Khu vực
1- Tây Ninh quyết định:
Căn cứ Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí a án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Minh T về việc yêu cầu bà
Phan Thị Kim Ngọc T2 trả lại cho ông Lê Minh T số tiền số gốc 10.000.000.000 đồng
tiền lãi phát sinh đến thời điểm hiện tại tháng 9/2025 2.610.000.000 đồng, tổng
cộng 12.610.000.000 đồng (Mười hai tỷ sáu trăm mười triệu đồng).
2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T về việc yêu cầu bà Phan
Thị Kim Ngọc T2 trả lại cho ông Minh T số tiền 29.983.384.000 đồng (Hai mươi
chín tỷ chín trăm tám mươi ba triệu ba trăm tám mươi bốn ngàn đồng).
3. Về chi phí đo vẽ, định gvà xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh
chấp là 103.000.000 đồng, số tiền này nguyên đơn ông T đã nộp. Do đó bà T2 phải trả
cho ông T số tiền 51.500.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/10/2025, ông Lê Minh T là nguyên đơn trong vụ án, có đơn kháng cáo
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa Bản án dân sự 111/2025/DS – ST, ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tây Ninh theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quan điểm lập luận tại cấp sơ thẩm, không
cung cấp thêm tài liệu chứng cứ.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không bổ sung tài
liệu chứng cứ. Bị đơn không thừa nhận vào Biên bản làm việc ngày 01/6/2019
giữa ông T, bà và bà T2. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình t, th tục theo quy đnh ca B lut T tng dân s. Các
đương sự thc hiện đúng quyền nghĩa v của mình theo quy đnh ca B lut T
tng dân s.
6
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng án lệ số 02/2016AL, chấp nhận
một phần kháng cáo của nguyên đơn, xem xét tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn
tạo làm tăng gtrị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác
định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất hộ công sức ngang nhau để chia phần gtrị chênh lệch tăng thêm so
với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu. Trong vụ án này, xác
định giá trị chuyển nhượng đất 5.600.000 đồng, khấu trừ giá trị chuyển nhượng cho
ông T, Ả. Số tiền chênh lệch còn lại tính công sức ngang nhau để chia đều cho
nguyên đơn và bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng o của ông Minh T bị đơn nộp trong thời hạn luật định, về
hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lê Minh T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không thừa
nhận việc T2 đứng tên phần đất thửa 41 giùm cho bà A, ông T. Tuy nhiên chứng cứ
thể hiện giữa T2 có lập Vi bằng ngày 27/5/2019 tại Văn phòng T5 xác nhận
T2 còn nợ Ảnh tiền 10.000.000.000 đồng do nhận QSD đất theo Giấy chứng nhận
số CD 862390 do Sở Tài Nguyên cấp giấy chứng nhận vào ngày 23/3/2016 (trả trong
vòng 10 năm, mỗi tháng đóng 50.000.000 đồng tiền lãi). Nếu trả 1 phần tiền gốc thì tiền
lãi sẽ được tính theo tỷ lệ. Nếu trong thời hạn 10 năm mà bà mất thì T2 vẫn phải
trả cho con ông Brandon P 8.000.0000.000 đồng, chồng bà Ả ông Lê Minh
T 2.000.000.000 đồng. Từ đó nguyên đơn cho rằng thửa 41 nguồn gốc là mua từ
ông H1, Đ để cho bà T3 đứng tên giùm là căn cứ. Trong qtrình giải quyết
vụ án T2 không thừa nhận việc thỏa thuận lại tại biên bản làm việc ngày 01/6/2019
nhưng không có yêu cầu giám định chữ ký trong biên bản thỏa thuận lại, nên không có
căn cứ xem xét. Do đó, sở xác định, trước khi lập vi bằng 27/5/2019 T3
người đứng tên đất giùm cho . Sau khi T3 chết thì việc đứng tên giùm chuyển
sang tên bà T2.
Như vậy, từ thời điểm 27/5/2019 các bên đã có thoả thuận về việc mua bán đối
với thửa đất số 41, theo đó T2 còn nợ Ảnh tiền 10.000.000.000 đồng do nhận
QSD đất theo Giấy chứng nhận số CD 862390 do Sở Tài Nguyên cấp giấy chứng nhận
vào ngày 23/3/2016 (trả trong vòng 10 năm, mỗi tháng đóng 50.000.000 đồng tiền lãi).
Do đó việc đứng tên giùm giữa T2 , ông T đã kết thúc từ thời điểm 27/5/2019.
7
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cho rằng
tài sản thửa đất số số 41 tờ bản đồ số 18 diện tích 6.516 m
2
, mục đích sử dụng đất
trồng lúa nước, đất tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay là phường K,
tỉnh Tây Ninh là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà Ả, nhưng văn bản thỏa thuận
ngày 27/5/2019 không có sự tham gia của ông T nên ngày 01/6/2019 các bên mới thỏa
thuận lại văn bản có sự tham gia cua ông T.
Tại điều 2 của văn bản thỏa thuận ngày 01/6/2019 nội dung, Phạm Thị Kim
Ngọc T4 vợ chồng Phạm Lệ , ông Minh T ng thỏa Thuận hứa mua hứa
bán thửa đất i trên với giá 10.000.000.000 đồng trong thời hạn một tháng kể từ
ngày biên bản này cho đến ngày 01/7/2019. Trong trường hợp sau ngày 01/7/2019
T4 không thanh toán đầy đủ số tiền nói trên cho vợ chồng Phạm Lệ , ông
Minh T thì bà Phan Thị Kim Ngọc T2 phải nghĩa vụ làm mọi thủ tục đgiao lại thửa
đất đã nhờ đứng tên dùm cho ông Lê Minh T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Theo nội dung thỏa thuận này hoàn toàn trái với việc hai bên đã thực hiện thỏa
thuận ng tháng T2 nghĩa vụ trả cho , ông T số tiền 50.000.000 đồng.
Trên thực tế hai bên đã thực hiện văn bản thỏa thuận ngày 27/5/2019 theo đó từ
01/7/2019 đến tháng 04/2021 T2 đã đóng tiền lãi đúng theo thỏa thuận mỗi tháng
50.000.000 đồng, tổng cộng 1.090.000.000 đồng. Qtrình nhận tiền lãi ông T ng đã
nhận tiền lãi từ T2 trong một khoảng thời gian dài không ý kiến gì. Mặc
văn bản thỏa thuận ngày 01/6/2019 sau ngày văn bản ngày 27/5/2019 nhưng các bên
lại thực hiện nội dung của văn bản ngày 27/5/2019. Như vậy, sở xác định Thoả
thuận ngày 27/5/2019 có hiệu lực đối với các bên.
vậy, nguyên đơn khởi kiện đòi lại toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 41 tờ bản đồ số 18, diện tích 6.516 m
2
, mục đích sử dụng đất trồng lúa nước,
đất tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An nay phường K, tỉnh Tây Ninh
theo giá chứng thư thẩm định giá là không có cơ sở chấp nhận.
Cấp thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 10.000.000.000 đồng theo
thỏa thuận ngày 25/7/2019 và tiền lãi phát sinh tngày 01/7/2019 cho đến nay là có cơ
sở.
[3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án dân sự sơ thẩm
đã đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Ông Minh T kháng cáo
nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng o căn cứ nên Hội đồng xét xử
không chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử
sửa bản án sơ thẩm không phù hợp với nhận định ca Hội đồng xét xử nên không chấp
nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng o của ông Minh T không được chấp nhận nên ông Minh T
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật T tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Minh T.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 111/2025/DS-ST ngày 26-9-2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tây Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Minh T, phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ
300.000 đồng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số 0006112 ngày 07 tháng 10 năm
2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 ca Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều 9 của Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành
án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 1- Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Tải về
Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất