Bản án số 123/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 123/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 123/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 123/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 123/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 123/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thị Ng và Nguyễn Văn N yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 123/2026/DS-PT
Ngày 21-4-2026
V/v tranh chấp về chia tài sản chung và
tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất vô hiệu một phần
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hợp
Ông Phạm Anh Tuyết
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2026/TLPT-DS ngày 04
tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung và tuyên bố hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu một phần”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2-Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2026/QĐXX-PT ngày 18 tháng
3 năm 2026, Thông báo về việc thay đổi lịch phiên tòa số 94/2026/QĐ-PT ngày 13
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N; địa chỉ: Số A G ngõ A đường T, phường
G, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Đại diện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim V, sinh năm 1961; địa chỉ: Số A
đường A, phường G, thành phố Hải Phòng là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp
đồng uỷ quyền ngày 31/7/2025); có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N1; sinh năm 1970, địa chỉ: Số nhà A, Tổ dân
phố X, phường A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Vũ Văn T – Luật
sư, Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1; địa chỉ: Số G P, phường H, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đoàn Thiên L - Trưởng Văn phòng C1;
vắng mặt.
- Bà Trần Thị H; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Đoàn Thị T1; sinh năm 1972, địa chỉ: Số nhà A, Tổ dân phố X,
phường A, Hải Phòng; có mặt.
- Chị Bùi Thị N2; địa chỉ: Số nhà G đường T, phường A, Hải Phòng; vắng
mặt.
4. Người kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn.
- Anh Nguyễn Văn N1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn N3 (chết năm 2015) và bà Trần Thị Hậu S được 03 người
con gồm: Anh Nguyễn Văn P (chết năm 2022), anh Nguyễn Văn N1 và chị
Nguyễn Thị N.
Khi còn sống, ông bà c tài sản chung gồm: Thửa đất số 184 diện tch
303m2 và thửa đất số 185 diện tch 754m
2
, đều thuộc tờ bản đồ số 06, thôn X, xã
H, huyện A, Hải Phòng (sau đây viết tắt là thửa đất số 184 và thửa đất số 185).
Thửa đất số 184 mua của ông Bùi Đức L1 với giá 500.000 đồng vào ngày
20/5/1993. Thửa đất số 185 mua của ông Bùi Đức C. Về thời gian cụ thể mua thửa
đất số 185 chị N không nhớ và không biết số tiền mua. Cả hai thửa đất nêu trên đều
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri: 0085826, số vào sổ cấp
GCN: 00798 do Ủy ban nhân dân huyện A, thành Phố Hải Phòng cấp ngày
04/10/1994 đứng tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn N3 (bố chị N); diện tch
cấp là 1.057m
2
đất thổ cư (trong đ thửa số 184 có diện tích 303m
2
; thửa số 185 có
diện tích 754m
2
). Sau khi mua đất, thửa đất số 184 bố m chị N xây dựng nhà để ở.
Lc đ anh P và anh N1 đều đã xây dựng gia đnh và đều sống cùng bố m trên
thửa đất 184. Còn thửa đất số 185 th được bố m chị sử dụng để chăn nuôi. Tuy
nhiên, do cuộc sống chung c nhiều mâu thun nên bố m chị N đã bán thửa đất số
185 cho bà Bùi Thị N2 và mua nhà đất ở bên K để bố m chị (ông N2, bà H) và
anh P chuyển ra ở. Còn thửa đất số 184 vợ chồng anh N1 vn ở và sử dụng. Bản
thân chị N là con gái, khi đi lấy chồng th về ở nhà chồng nhưng v cuộc sống hôn
nhân không hạnh phc (đã ly hôn) nên phải thuê nhà ra ở riêng.
Ngày 13/7/2009, bố m chị N (ông N2 và bà H) đã ký Hợp đồng tặng cho
chị N và anh N1 cả hai thửa đất số 184 và thửa đất số 185, tờ bản đồ số 6, thôn X,
xã H. Việc tặng cho được lập hợp đồng và được công chứng tại Phòng C2 thành
phố Hải Phòng. Trước khi làm hợp đồng tại Phòng công chứng, bố m chị N c

3
đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên và các giấy tờ cá nhân của mi người
để liên hệ với Phòng công chứng vào văn bản trước. Theo như nội dung hợp đồng
tặng cho th bố m chị N đã làm hợp đồng tặng cho cho chị N và anh N1 cả hai
thửa đất số 184 và thửa đất số 185, tờ bản đồ số 6. Tuy nhiên, đây là do thiếu st
của gia đnh khi làm hợp đồng công chứng đã không báo cho công chứng viên biết
về việc gia đnh đã chuyển nhượng thửa đất số 185 cho bà Bùi Thị N2 (vào ngày
04/9/1999). Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn
N3 vn thể hiện cả hai thửa đất số 184 và thửa đất số 185 mà không c đnh chnh
biến động đối với thửa đất số 185. Thực tế, thửa đất số 185 đã được bố m chị N
bán cho bà Bùi Thị N2 t trước khi bố m chị Ngc L2 hợp đồng tặng cho cho chị
N và anh N1. Thời điểm lập hợp đồng công chứng bố m chị (ông N2, bà H), chị N
và anh N1 đều được đc nội dung hợp đồng và được công chứng viên giải thch về
nội dung hợp đồng nhưng v thiếu hiểu biết pháp luật nên ông N2, bà H, chị N và
anh N1 đã không phản hồi lại về việc đã bán thửa đất số 185 cho công chứng viên
biết và vn ký hợp đồng công chứng.
Việc bố m chị N bán thửa đất số 185 cho bà Bùi Thị N2 chỉ được lập bng
giấy viết tay, không qua công chứng. Bà Bùi Thị N2 đã xây dựng nhà ở ổn định
ngay sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất 185, còn bà Bùi Thị N2 đã làm thủ tục
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 185 hay chưa th chị N
không rõ; bản thân bà N2 không ở đây, thửa đất này chỉ bố m bà N2, sau này là c
em gái bà N2 ở trông coi và hương khi cho các cụ.
Kể t thời điểm bố m chị N lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho
chị N và anh N1 thửa đất số 184 có diện tích 303m
2
th vợ chồng anh N1, chị T1
vn là người quản lý, sử dụng đất. Chị N đã nhiều lần đề nghị anh N1 chia cho chị
N ½ diện tch đất trên theo như nội dung hợp đồng tặng cho đã lập nhưng anh N1
không đồng ý.
Căn cứ pháp luật cho yêu cầu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 223 và Điều
210 Bộ luật dân sự năm 2015, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
lập ngày 13/7/2009 tại Phòng C2 thành phố Hải Phòng (nay là Văn phòng C1) vô
hiệu một phần, cụ thể: Vô hiệu đối với phần tặng cho quyền sử dụng đất là thửa đất
số 185 diện tch 754m
2
đất v thửa đất này đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị N2 t
tháng 9 năm 1999; thời điểm lập hợp đồng tặng cho, ông Nguyễn Văn N3, bà Trần
Thị H không còn quyền sử dụng đối với thửa đất này.
Đối với thửa đất số 184 tờ bản đồ số 6 thôn X, xã H (nay là: Tổ dân phố X,
phường A) chị N đề nghị được chia đôi. Chị N nhận phần đất trống, còn phần đất
c công trnh kiến trc xây dựng trên đất đề nghị Tòa án giao cho anh N1, chị T1.
2. Bị đơn là anh Nguyễn Văn N1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn trình bày:
Về quan hệ huyết thống và nguồn gốc thửa đất 184 và 185: Thống nhất với
lời khai của nguyên đơn.
Sau khi mua mảnh đất của ông Bùi Đức L1, diện tích 303m
2
, thuộc số thửa

4
184, tờ bản đồ số 06, thôn X, xã H (mua năm 1993), bố m anh N1 đã tuyên bố
cho anh N1 thửa đất trên (có viết giấy cho đất anh N1). Khi bố m anh N1 tuyên
bố cho anh N1 thửa đất trên, anh P và chị N đều biết và không ai có ý kiến gì vì tất
cả ba anh em khi lớn xây dựng gia đnh, bố m đều lo cho như nhau, ai cũng được
bố m cho phần riêng. Anh P th được bố m mua cho đất ở bên L, K (sau này chị
N đã bán nhà đất này), phần chị N th được bố m cho tiền. Còn anh N1 th được
bố m cho diện tch đất 303m
2
thửa 184, tờ bản đồ số 06, thôn X, xã H. Cùng năm
1993, anh N1 kết hôn với chị T1, vợ chồng ở trên thửa đất số 184 và sử dụng đất
ổn định t đ cho đến nay. Thời điểm bố anh N1 mua thửa đất này, trên c 01 căn
nhà cấp 4; khi anh N1 và chị T1 kết hôn thì ở nhà đất đ, đến khoảng năm 2005 vợ
chồng anh N1 phá bỏ nhà cấp 4 và xây dựng nhà ở kiên cố như hiện nay. Toàn bộ
nguồn tiền xây dựng công trình kiến trc trên đất là của vợ chồng anh N1, con cái
không ai đng gp công sức g. Cho đến nay, vợ chồng anh N1 chưa làm thủ tục
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.
Năm 2009, ông N3 có gi anh N1 và chị N ra Văn Phòng C1 thành phố Hải
Phòng để làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho hai anh em (Nguyễn Thị
N và Nguyễn Văn N1). Khi làm văn bản công chứng, ông N3 có nói do cả hai thửa
đất (thửa 184 và thửa 185) ông N3 mua đều đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn
Văn N3 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (được cấp năm 1994) nên ông N3
bảo anh N1 ra ký vào hợp đồng cho đng thủ tục. Còn ông N3 đã cho vợ chồng
anh N1 thửa đất số 184 rồi nên anh N1 không có quyền đòi hỏi gì thêm. Vì vậy,
anh N1 đã ký vào văn bản công chứng ngày 13/7/2009. Khi ký anh N1 không đc
nội dung hợp đồng tặng cho, ông N3 bảo anh ký là anh ký và hợp đồng tặng cho.
Anh N1 xác định, thời điểm anh ký hợp đồng tặng cho trên vào năm 2009, anh
không biết việc ông N3 đã bán thửa đất số 185 cho người khác (bán cho bà Bùi Thị
N2). V xác định thửa đất số 184 đã được bố m cho anh N1 ở sử dụng ổn định nên
anh không để ý việc thửa đất 185 bố m anh bán hay tặng cho ai, anh cũng không
quan tâm ai là người đang quản lý, sử dụng đối với thửa đất 185. Sau này gia đnh
bà Bùi Thị N2 phá bỏ toàn bộ công trnh cũ do bố m anh xây dựng trước và xây
dựng lại toàn bộ công trình kiến trúc mới như hiện nay. Việc ông Nguyễn Văn N3
chuyển nhượng lại thửa đất số 185 cho bà Bùi Thị N2 khi nào anh N1 cũng không
biết và cũng không nắm được việc sử dụng thửa đất 185 của gia đnh bà Bùi Thị
N2 như thế nào.
Anh N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v theo tài liệu
Toà án xác minh tại Chi nhánh Văn phòng Đ, các thửa đất số 185 và thửa đất số
184 không có thông tin biết động.
Như vậy, hai thửa đất nêu trên tnh đến thời điểm xét xử sơ thẩm vn đứng
tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn N3. Theo quy định tại Điều 459 Bộ luật
Dân sự năm 2015 th hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể t thời điểm
đăng ký. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 13/7/2009 đến nay vn chưa
được đăng ký nên chưa c hiệu lực pháp luật d đ không làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể t thời điểm giao dịch được xác
lập theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. V vậy, không thể buộc
anh N1 phải c nghĩa vụ chia thửa đất đang anh Nguyễn Văn N1 đang quản lý sử

5
dụng cho chị N.
Việc chính quyền địa phương làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số: 0085826, số vào sổ cấp GCN: 00798; diện tích 1.057m
2
đất thổ cư
(trong đ thửa số 184 diện tích 303m
2
; thửa số 185 diện tích 754m
2
) đứng tên
người sử dụng đất ông Nguyễn Văn N3 là chưa đng quy định của pháp luật. Bởi
lẽ: Theo tài liệu xác minh của Tòa án ngày 01/8/2025 có nội dung “Tại bản đồ giải
thửa năm 1993 và sổ mục kê năm 1998 của UBND xã H, thửa đất số 184 diện tích
đất 303m
2
đã được chính quyền địa phương điều chỉnh t tên ông N3 sang tên
Nguyễn Văn N1”. Do vậy, cần phải đưa UBND phường A vào tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Căn cứ Điều 9 Luật Công chứng năm 2024; các điều 123, 131, 459 Bộ luật
Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của chị Nguyễn Thị N.
3. Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
3.1. Bà Trần Thị H trình bày:
Bà Trần Thị H là vợ của ông Nguyễn Văn N3, sinh được 03 người con
chung là Nguyễn Văn P (đã chết năm 2022), Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Thị N.
Vợ chồng bà c nhà đất ở trong nội thành Hải Phòng. Nhưng khi các con bà lớn,
vợ chồng bà đều cho mỗi người một phần riêng để làm tài sản. Con trai Nguyễn
Văn P mua nhà đất ở phường L, quận K (căn nhà này hiện đã bán); con trai
Nguyễn Văn N1 cho ở trên thửa đất có diện tích 303m
2
thửa đất số 184; còn con
gái Nguyễn Thị N khi đi lấy chồng ở nhà chồng chưa cho nhà đất gì.
Về thửa đất số 184 có diện tích 303m
2
đất, có nguồn gốc là do vợ chồng bà
mua của ông Bùi Đức L1 vào năm 1993 với giá 500.000 đồng. Sau khi vợ chồng
bà mua thửa đất này, cả gia đnh bà (gồm vợ chồng bà và vợ chồng anh N1) đều ở
đ.
Khoảng năm 1994, vợ chồng bà mua tiếp thửa đất số 185 có diện tích 754m
2
của ông Bùi Đức C liền kề với thửa đất số 184 (bà H không nhớ mua bao nhiêu
tiền). Mục đch khi mua thửa đất này là để làm trang trại. Sau khi mua thửa đất
này, chồng bà (ông Nguyễn Văn N3) đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với cả hai thửa đất (thửa đất số 184 và thửa đất số 185) và đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994. Sau này, khi con trai lớn
Nguyễn Văn P t nước ngoài về, xây dựng gia đnh, vợ chồng bà và vợ chồng anh
P ở trên thửa đất này, còn thửa đất 184 thì vợ chồng anh N1 sử dụng. Do trong quá
trình ở chung, xảy ra mâu thun giữa các con dâu trong nhà nên vợ chồng bà đã
quyết định bán lại thửa đất số 185 cho bà Bùi Thị N2 vào năm 1999 và mua nhà
đất ở bên phường L, quận K cho vợ chồng anh P ở. Vợ chồng bà cũng về ở cùng
vợ chồng anh P. Khi bán đất cho bà Bùi Thị N2, vợ chồng bà chỉ làm giấy viết tay,
không qua công chứng.
Bà H xác định chữ ký “H” trên Giấy viết tay đề ngày 21/8/1993 là chữ của
bà H. V khi đ, trong gia đnh c mâu thun nên vợ chồng bà tách ra ở riêng cùng
vợ chồng con trưởng (anh P). Khi đ, anh N1 có nói với vợ chồng bà là đất anh N1

6
ở thì phải có giấy tờ bàn giao cho anh N1 nên chồng bà có viết giấy để thửa đất
184 (cho anh N1. Ngoài ra, không có việc bàn giao hay tuyên bố cho anh N1 thửa
đất trên.
Năm 2009, để ổn định việc cho đất cho các con trong gia đnh, vợ chồng bà
quyết định làm hợp đồng tặng cho cho anh N1 và chị N chung thửa đất số 184
Thời điểm làm văn bản công chứng tặng cho, vợ chồng bà có nhờ chị N (con gái)
đi làm thủ tục hộ. Do sơ suất nên vợ chồng bà cũng không để ý việc trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, chồng bà (Nguyễn Văn N3) vn đứng tên trên Giấy
chứng nhận cả hai thửa đất (số A và 185), chưa c sự đnh chnh lại sau khi gia
đnh đã bán lại thửa đất 185 cho bà Bùi Thị N2. Vì khi mua bán, hai bên chỉ làm
Giấy viết tay, vợ chồng bà không ra xã để làm đnh chnh lại thông tin chủ sử dụng
về thửa đất; còn bà Bùi Thị N2 c đề nghị uỷ ban xã đnh chnh lại quyền sử dụng
đất đối với thửa đất 185, sau khi đã mua của vợ chồng bà hay không thì bà không
biết. Bà H không biết hiện bà Bùi Thị N2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 185 hay chưa. Chnh v vậy, khi làm hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, công chứng viên đã vào thông tin tặng cho cả hai thửa đất
số 184 và thửa đất số 185 trong hợp đồng tặng cho. Khi ra công chứng, vợ chồng
bà cũng không đc lại nội dung hợp đồng, v nghĩ công chứng đã làm là đng mà
không nghĩ việc sơ suất không đnh chnh lại thông tin sử dụng đất trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất dn đến việc hợp đồng tặng cho đã ghi nhận cả nội
dung tặng cho thửa đất số 185, trong khi thửa đất này đã bán lại cho bà Bùi Thị N2
t năm 1999. Năm 2015, khi ông Nguyễn Văn N3 chết không để lại di chúc.
Bà H xác định, nội dung hợp đồng tặng cho lập ngày 13/7/2009 tại Văn
Phòng C1 thành phố Hải Phòng (Nay là Văn phòng C1) là hoàn toàn đng với ý
chí tự nguyện của vợ chồng bà (ông N3, bà H). Tuy nhiên, do c sơ suất vợ chồng
bà đã lập hợp đồng tặng cho cả với phần đất diện tích 754m
2
thuộc số thửa 185 đã
bán cho bà Bùi Thị N2. Do vậy, việc chị N yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất vô hiệu một phần là đng (vô hiệu đối với phần tặng cho thửa
đất 185 có diện tích 754m
2
). Bà H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
đề nghị Toà án xem xét giải quyết:
Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 13/7/2009 tại Văn
Phòng C1 thành phố Hải Phòng giữa người tặng cho là ông Nguyễn Văn N3, bà
Trần Thị H và người được tặng cho là Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị N vô hiệu một
phần (vô hiệu phần tặng cho thửa đất 185 có diện tích 754m
2
).
Chia tài sản chung được tặng cho chung là thửa đất số 184 (diện tích 303m
2
)
cho anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N.
3.2. Chị Đoàn Thị T1 trình bày:
Chị T1 kết hôn với anh Nguyễn Văn N1 vào năm 1993, sau khi kết hôn chị
và anh N1 sống tại thửa đất số 184 tờ bản đồ số 06, thôn X, xã H, A, Hải Phòng.
Thửa đất này là của bố ông Nguyễn Văn N3 (chết năm 2015) và bà Trần Thị H cho
anh N1 trước khi chị và anh N1 kết hôn (có giấy cho đất viết tay, đã giao nộp cho
Toà án). Nguồn gốc đất chị T1 được biết là do bố m anh N1 mua lại của ông Bùi

7
Đức L1. Sau khi chị T1 kết hôn với anh N1, chị và anh N1 ở riêng trên thửa đất số
184, không ở với gia đnh anh N1. Bố m đẻ anh N1 khi đ ở trong nội thành Hải
Phòng. T năm 1993 đến nay, vợ chồng chị T1 đã sử dụng ổn định trên đất, không
có tranh chấp và cũng đã xây dựng nhà ở kiên cố như hiện nay. Toàn bộ công trình
kiến trúc xây dựng trên đất là do vợ chồng chị gây dựng, không ai có công sức
đng gp gì.
Đối với thửa đất số 185, chị T1 chỉ biết là của bố m anh N1 mua lại của ông
Bùi Đức C. Thửa đất này liền kề với thửa đất số 184 mà vợ chồng chị T1 đang sử
dụng. Cụ thể việc mua bán đất đối với thửa đất số 185 như thế nào thì chị T1
không nắm được. Sau khi mua, bố m chồng (ông Nguyễn Văn N3, bà Trần Thị H)
chị T1 có về ở trên đất, xây dựng trang trại chăn nuôi khoảng 4 - 5 năm th hai
người chuyển về Hải Phòng ở; thửa đất số 185 sau này c người khác về ở. Do chị
T1 đi làm nên cũng không để ý việc ai đi, ai ở trên thửa đất này. Việc bố m chồng
(ông N3, bà H) chị bán thửa đất 185 cho ai, bán khi nào chị T1 cũng không biết.
Năm 2009, ông N3 có gi anh N1 và chị N ra văn phòng C1 thành phố Hải
Phòng để làm hợp đồng tặng cho đối với thửa đất số 184 và thửa đất số 185. Khi
đ, chị c được nghe bố chồng chị nói thửa đất số 184 đã cho anh N1 rồi nên anh
N1 không có quyền đòi hỏi g thêm, nhưng v thửa đất 184 và thửa đất số 185 đều
nm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn N3, cấp
năm 1994 nên ông N3 bảo anh N1 ra ký hợp đồng cho đủ thủ tục.
Ngoài nội dung trên, chị không nắm được nội dung gì khác. Về việc bố
chồng chị bán thửa đất số 185 cho bà Bùi Thị N2 như thế nào chị không nắm được.
Chị T1 không rõ ông Nguyễn Văn N3 bán khi nào, cũng không biết quá trình sử
dụng đất đối với thửa đất 185 của gia đnh bà Bùi Thị N2 như thế nào. Chị T1 chỉ
biết, thửa đất số 185 hiện đã được gia đnh bà Bùi Thị N2 phá bỏ công trnh cũ do
bố m chồng chị xây dựng khi xưa và xây dựng lại toàn bộ công trình kiến trúc
mới như hiện nay. Về phía bà Bùi Thị N2, chị T1 không rõ thông tin địa chỉ cụ thể
của bà Bùi Thị N2; vì thực tế nhà đất tại thửa số 185, bà Bùi Thị N2 chỉ khi đi khi
về chứ không ở đây. Chị T1 cũng không có qua lại nên chị không rõ về thông tin
của bà N2.
Chị T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu Toà án
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3.3. Bà Bùi Thị N2 trình bày: Năm 1999 bà Bùi Thị N2 có mua của ông
Nguyễn Văn N3 và bà Trần Thị H thửa đất số 185 (diện tích 754m
2
), tờ bản đồ số
6 tại thôn X, xã H với giá 6.500.000 đồng. Bà N3 đã giao đủ tiền cho ông Nguyễn
Văn N3 và bà Trần Thị H. Sau đ bà Bùi Thị N2 thực hiện các thủ tục sang tên
quyền sử dụng đất và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất này (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 068741, số vào sổ cấp
Giấy chứng nhận: 02690.QSDĐ do UBND huyện A cấp ngày 14/8/2003 mang tên
Bùi Thị N2). Việc bà H và ông N2 ký Hợp đồng tặng cho cho anh N1 và chị N đối
với thửa đất số 185 nêu trên tại Phòng công chứng số A thành phố Hải Phòng là do
bà H, ông N2 không tiến hành thủ tục thông báo với cơ quan nhà nước về việc đã
chuyển nhượng diện tch đất này cho bà Bùi Thị N2. Do đ bà Bùi Thị N2 đề nghị

8
Tòa án giải quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N2.
3.4. Văn phòng C1 có Văn bản số 138/CV-VPCCĐTL ngày 23/7/2025 trình
bày:
Văn phòng C1 (được chuyển đổi t Phòng C2 thành phố Hải Phòng), nhận
được Văn bản số 75/TA-KV2 ngày 15/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 -
Hải Phòng về việc có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện tuyên bố hợp đồng tặng cho
vô hiệu một phần (nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn ông Nguyễn Văn N1).
Sau khi nhận được Văn bản trên của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, Văn
phòng C1 tiến hành kiểm tra hồ sơ công chứng năm 2009 được lưu trữ tại đơn vị
có ý kiến phc đáp, như sau:
Ngày 13/7/2009, Phòng C2 thành phố Hải Phòng có tiếp nhận và chứng
nhận “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” mang số
công chứng 1010, quyển số: 02/2009.TP/CC-SCC/HĐGD đối với bất động sản tại
địa chỉ xã H, huyện A (nay là huyện A), thành phố Hải Phòng theo Giấy tờ chứng
minh quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0085826, vào sổ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00798.QSDĐ do Ủy ban nhân dân
huyện A cấp ngày 04/10/1994, giữa các bên:
Bên tặng cho là: Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1944, Giấy CMND số
030802147 do Công an thành phố H cấp ngày 05/9/1986 và vợ là bà Trần Thị Hậu
S năm 1947, Giấy CMND số 030136004 do Công an thành phố H cấp ngày
09/8/1978, cùng đăng ký thường trú tại: Khu M, phường D, quận L, thành phố Hải
Phòng.
Bên được tặng cho là: Ông Nguyễn Văn N1 sinh năm 1970, Giấy CMND số
030840351 do Công an thành phố H cấp ngày 28/5/1987 và bà Nguyễn Thị N sinh
năm 1972, mất Giấy chứng minh, c “Đơn xin cấp Giấy chứng minh nhân dân
dân”, do Công an phường H xác nhận ngày 10/7/2009, đăng ký thường trú tại số F
H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng.
Việc chứng nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất nêu trên là hoàn toàn đng quy định của pháp luật. Việc bà Nguyễn Thị N
yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
nêu trên vô hiệu một phần là không c căn cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2026,
Tòa án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
lập ngày 13/7/2009, số công chứng 1010, Quyển số 02/2009.TP/CC-SCC/HĐGD
tại Phòng C2 thành phố Hải Phòng (nay là Văn Phòng C1) vô hiệu một phần (Vô
hiệu đối với phần tặng cho quyền sử dụng đất diện tch 754m
2
đất, thửa đất số 185,
tờ bản đồ số 6) thôn X, xã H, huyện A (nay là: Tổ dân phố X, phường A), thành
phố Hải Phòng.

9
2. Chia tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 184, diện tch 303m
2
, tổ
dân phố X, phường A, thành phố Hải Phòng cho anh Nguyễn Văn N1 và chị
Nguyễn Thị Ngc N4 sau:
2.1. Giao anh Nguyễn Văn N1 được quyền sử dụng 183m
2
đất (t các mốc
số 7, 8, 9, 13, 12) tương đương giá trị tài sản được nhận là: 2.005.551.900 đồng;
trên phần đất có nhà ở và công trình phụ do anh N1, chị T1 xây dựng có giá trị xây
dựng. (C sơ đồ kèm theo).
2.2. Giao chị Nguyễn Thị N được quyền sử dụng 120m
2
đất trống (t các
mốc số 4, 5, 6, 12, 13), tương đương c giá trị tài sản được nhận là: 1.315.116.000
đồng (C sơ đồ kèm theo).
Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N có quyền liên hệ với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần
diện tch đất của mỗi người được hưởng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của
các đương sự.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, anh Nguyễn Văn N1 kháng cáo. Lý do kháng
cáo:
Cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 13/7/2009 vô
hiệu một phần là không đng quy định của pháp luật do thiếu người liên quan là
Ủy ban nhân dân phường A. Ông Nguyễn Văn N3 và bà Trần Thị H tặng cho anh
N1 và chị N hai thửa đất 184 và 185 có diện tích 1.057m
2
. Nhưng ngày 21/8/2003,
ông N3 và bà H đã làm văn bản cho anh N1 thửa 184, diện tích 303m
2
. Thửa đất
này đứng tên anh N1 trên bản đồ địa chính của xã nhưng Ủy ban nhân dân huyện A
lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nghĩa L3 không đng
quy định của pháp luật.
Thửa đất 185, ông N3 đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị N2 t ngày
04/9/1999 và đến ngày 14/8/2003 UBND huyện A đã cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho bà N2. Nhưng thửa đất vn mang tên ông Nguyễn Văn N3 và bà
Bùi Thị N2 trên hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác nhau.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được chứng thực nhưng tnh thời
điểm xét xử sơ thẩm, thửa đất vn chưa được đăng ký quyền sở hữu theo Điều 459
của Bộ luật Dân sự nên chưa c hiệu lực.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, chị Nguyễn Thị N kháng cáo không đồng ý với
cách phân chia của cấp sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm chia đôi thửa đất, mỗi
người được 151,5m
2
tại thửa 184, tờ bản đồ 06.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, nội dung kháng
cáo; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thoả thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rng hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất vô hiệu toàn bộ vì thửa đất 184 đã được đăng ký mang tên
anh N1 trên sổ mục kê t năm 1993, nhưng không hiểu sao đến năm 1994 ông N2

10
lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, yêu cầu cấp phúc thẩm
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp
phải chia đất th đề nghị xem xét lại lối đi của thửa đất được phân chia.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N1 và chị T1 trình bày: Anh N1 là người tự
làm kê khai quyền sử dụng diện tch đất đối với thửa 184 mang tên anh N1 trên sổ
mục kê của Ủy ban nhân dân xã H t năm 1993. Việc anh N1 tự ý kê khai mang
tên anh N1 không cho cụ N2 và cụ H biết. Hai cụ không biết việc anh N1 tự ý kê
khai mang tên anh N1 trên sổ mục kê của Ủy ban nhân dân xã H t năm 1993.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm
giải quyết vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn
đã thực hiện đng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của
Tòa án nhân dân khu vực 2-Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự không kháng cáo tại phiên tòa lần thứ
hai nhưng đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào Điều 296
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt h.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn:
[2] Nguyên đơn và bị đơn đều tha nhận, thửa đất 184 và 185 tờ bản đồ 06
thôn X, xã H, huyện A (nay là: Tổ dân phố X, phường A), thành phố Hải Phòng là
tài sản chung của cụ N2 và cụ H, đã được Ủy ban nhân dân huyện A, Hải Phòng
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t ngày 04/10/1994. Đối với thửa 185
(diện tích 754m
2
), cụ N2 và cụ H đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị N2 t ngày
04/9/1999. Mặc dù thửa 185 được chuyển nhượng trước khi cụ N2 và cụ H được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà Bùi Thị N2 đã được cấp giấy
chứng nhận, các bên đã tha nhận và không tranh chấp, phù hợp với lời khai của
cụ H và bà Bùi Thị N2, nên không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Như vậy, cụ N2 và cụ H chỉ còn quyền định đoạt đối với thửa 184 tờ bản
đồ 06, nhưng hai cụ vn tặng cho anh N1 và chị N thửa 185 là vượt quá quyền định
đoạt của hai cụ nên chị N yêu cầu tuyên bố “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất” ngày 13/7/2009, số công chứng 1010, quyển số:
02/2009.TP/CC-SCC/HĐGD đối với bất động sản tại địa chỉ xã H, huyện A (nay là
huyện A), thành phố Hải Phòng theo Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất: Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số D0085826, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền

11
sử dụng đất số 00798.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 04/10/1994 vô
hiệu một phần là c căn cứ.
[4] Anh N1 cho rng, ngày 21/8/1993, cụ N2 và cụ H đã cho anh N1 thửa
đất 184 nên việc Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho cụ Nghĩa L3 không đng quy định của pháp luật. Thấy rng hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ N2 hiện tại không lưu trữ nên không xác
định được “giấy viết tay phân chia tài sản ngày 21/8/1993” được thu thập trong hồ
sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ N2 năm 1994 hay không. Bà
Trần Thị H là m của anh N1, xác định chữ ký “Hậu” trên Giấy viết tay đề ngày
21/8/1993 là chữ của bà H “V khi đ, trong gia đnh c mâu thun nên vợ chồng
bà tách ra ở riêng cùng vợ chồng con trưởng (anh P). Khi đ, anh N1 có nói với vợ
chồng bà là đất anh N1 ở thì phải có giấy tờ bàn giao cho anh N1 nên chồng bà có
viết giấy để thửa đất 184 (diện tích 303m2) cho anh N1. Ngoài ra, không có việc
bàn giao hay tuyên bố cho anh N1 thửa đất trên”. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N1
xác nhận anh N1 là người kê kê quyền sử dụng đất đối với thửa 184 với chính
quyền địa phương, cụ N2 và cụ H không biết việc anh N1 đi đăng ký kê khai
quyền sử dụng đất đối với thửa 184 là tài sản chung của cụ N2 và cụ H, anh N1
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho anh N1 cho rng anh N1 đã đứng tên trên sổ mục kê t năm
1993 nên xác định quyền sử dụng thửa 184 là tài sản của anh N1 là chưa đủ căn cứ.
Năm 1994, cụ N2 và cụ H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm
2009, cụ N2 cụ H lập đồng tặng cho quyền sử dụng diện tích thửa đất 184 cho anh
N1 và chị N. Tại thời điểm này, anh N1 biết cụ N2, cụ H được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhưng không c ý kiến gì. Ngày 13/7/2009, anh N1 đồng
ý ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ N2, cụ H và anh N1, chị N.
Như vậy, cho dù anh N1 cho rng cụ N2 và cụ H đã cho anh N1 thửa đất 184 t
ngày 21/8/1993 và có tên trên bản đồ địa chính t năm 1993 th đến ngày
13/7/2009, anh N1 đã đồng ý cho chị N ½ thửa đất 184 nên chị N khởi kiện yêu
cầu anh N1 trả lại cho chị N ½ quyền sử dụng diện tích đất tại thửa 184 là c căn
cứ.
[5] Thửa đất 184 là tài sản chung đã được cụ N2 và cụ H tặng cho anh N1 và
chị N, trước khi cụ Nguyễn Văn N3 chết nên tài sản không còn là di sản tha kế.
Chị N đã nhiều lần yêu cầu anh N1 trả lại cho chị N ½ diện tch đất nên anh N1
không được tính công sức bảo quản di sản theo Điều 618 của Bộ luật Dân sự.
[6] Đối với việc Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho cụ Nguyễn Văn N3 và cụ Trần Thị H hai thửa 184 và 185 tại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số D0085826, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 00798.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 04/10/1994,
trong khi cụ Bùi Thị N2 cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 02690 ngày 14/8/2003 đối với thửa 185 nên cần kiến
nghị Ủy ban nhân dân huyện A, nay là Ủy ban nhân dân phường A chỉnh lý, điều
chỉnh lại biến động sử dụng đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
D0085826, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00798.QSDĐ cấp
ngày 04/10/1994 cấp cho cụ Nguyễn Văn N3 và Trần Thị H. Đối với thửa 184, hai

12
cụ đã tặng cho anh N1 và chị N nên anh N1 và chị N yêu cầu cơ quan c thẩm
quyền đăng ký lại quyền sử dụng đất theo đng quyết định của bản án.
[7] Tại cấp phúc thẩm, anh N1 kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số D0085826 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00798.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 04/10/1994: Tại cấp sơ thẩm,
anh N1 không yêu cầu giải quyết nội dung này nên cấp phúc thẩm không c căn cứ
để giải quyết.
[8] Anh N1 cho rng việc tách thửa 184 thành 02 thửa sẽ không đảm bảo lối
đi khi anh N1 muốn tách thửa cho con trai: Xem xét hiện trạng thửa đất thấy khi
tách thửa, cấp sơ thẩm đã đảm ngõ đi của 02 thửa khi tách thửa và đã đảm bảo
quyền lợi của các đương sự.
[9] Anh N1 đề nghị cấp sơ thẩm xác định Ủy ban nhân phường A là người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Về nguồn gốc thửa đất và các nội dung khác đã
được cấp sơ thẩm xác minh làm rõ tại Ủy ban nhân dân phường A, tài liệu về hồ sơ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện không lưu giữ tại cơ quan c thẩm
quyền. Xét thấy Ủy ban nhân phường A không bị ảnh hưởng đến quyền lợi và
nghĩa vụ nên cấp sơ thẩm không xác định Ủy ban nhân dân phường A c nghĩa vụ,
quyền lợi liên quan đến vụ án là c căn cứ.
[10] T các nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị N;
không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn N1. Sửa bản án sơ thẩm của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
[11] Chị N khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu một phần,
đồng thời yêu cầu chia đôi thửa đất 184, cho chị N được sử dụng 151,5m
2
đất, cấp
sơ thẩm nhận định chia cho vợ chồng anh N1 một phần công sức bảo quản tài sản,
và phân chia cho chị N 120m
2
đất là chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị
N nhưng tại phần quyết định của bản án, cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đng với nhận định của bản án, cần rút
kinh nghiệm.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Diện tch được phân chia lại nên án ph được
sửa lại trên giá trị tài sản các bên được hưởng.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Văn N1
không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm cho chị Nguyễn Thị N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ các điều 131, 135, 216, 224, 411, 465 và 467 Bộ luật Dân sự năm
2005; Căn cứ các điều 126, 130, 209, 219, 457, 459 và 408 Bộ luật Dân sự năm
2015

13
Căn cứ Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Điều 29 của ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội
Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị N.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn N1.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2026,
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N:
1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
lập ngày 13/7/2009, số công chứng 1010, Quyển số 02/2009.TP/CC-SCC/HĐGD
tại Phòng C2 thành phố Hải Phòng (nay là Văn Phòng C1) vô hiệu đối với phần
tặng cho quyền sử dụng đất diện tch 754m
2
đất, thửa đất số 185, tờ bản đồ số 6)
thôn X, xã H, huyện A (nay là: Tổ dân phố X, phường A), thành Hải Phòng.
2. Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất lập ngày 13/7/2009, số công chứng 1010, Quyển số 02/2009.TP/CC-
SCC/HĐGD tại Phòng C2 thành phố Hải Phòng (nay là Văn Phòng C1) có hiệu lực
đối với thửa đất số 184, diện tch 303m
2
, tổ dân phố X, phường A, thành phố Hải
Phòng, đối với anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị Ngc N4 sau:
2.1. Anh Nguyễn Văn N1 được quản lý, sử dụng 151,5m
2
đất (t các mốc số
7, 8, 9, 13, 12, 7) trên phần đất có nhà ở và công trình phụ do anh N1, chị T1 xây
dựng có giá trị xây dựng (c sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm).
2.2. Chị Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng 151,5m
2
(t các mốc số
4, 5, 6, 12, 13, 4) (c sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm).
Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N liên hệ với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tch đất
của mỗi người được hưởng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản
được chia là 61.810.018 đồng và 300.000 đồng án ph dân sự sơ thẩm đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 61.810.018 đồng nhưng
được khấu tr 14.000.000 đồng tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0008314
ngày 12/12/2023 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng. Chị Nguyễn
Thị N còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 47.810.018 đồng.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Nguyễn Văn N1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được tr vào tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0001757 ngày 05/02/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh
Nguyễn Văn N1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

14
Trả lại chị Nguyễn Thị N 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001711 ngày 04/02/2026 tại Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và
Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Phạm Anh Tuyết Phạm Văn Hợp
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Hồ Điệp
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hải Phòng;
- TAND khu vực 2 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 2 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Hồ Điệp
15
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm