Bản án số 263/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 263/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 263/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 263/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bà Huyền Tôn Nữ Thanh T; sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 263/2026/DS-PT
Ngày: 14-5-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt
cọc”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ngô Hoàng Thanh
Hải – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Dân sự số 366/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 m
2025 về tranh chấp: “Hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 748/2025/QĐ-PT ngày 31
tháng 12 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa s27/2026/QĐPT-DS ngày
26/02/2026; Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án Dân sự số
163/TB-PT ngày 28/4/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: HThị Thu H, sinh năm: 1965; trú tại số B, đường N,
Phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tuấn H1, sinh năm: 1991; địa chỉ:
A31 C, đường N, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền
(Văn bản ủy quyền số 1983/2026/CCGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày
24/3/2026), có mặt.
Bị đơn:Huyền Tôn Nữ Thanh T, sinh năm: 1964; cư trú tại số C, đường N,
Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
2
Người đại diện hợp pháp:
1. Chị Hồ Thanh V, sinh năm: 1987; cư trú tại số C, đường N, Phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên lạc: số F, đường T, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng,
người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1541, quyển số 04/2025
TP/CC - SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 03/4/2025), có mặt.
2. Chị Lục Thị Hoàng U, sinh năm: 2002, địa chỉ: thôn T, T, tỉnh Lâm
Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 6191/2025/CCGD do
Văn phòng C1 chứng nhận ngày 06/8/2025), có mặt.
3. Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1983, cư trú tại số A, đường T, Phường X
- Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
6190/2025/CCGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 06/8/2025), có mặt.
4. Anh Phan Ngọc T2, sinh năm: 2002; địa chỉ: số B, đường T, Phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
5. Chị Phạm Minh P, sinh năm: 2003, địa chỉ: số C, đường N, Phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
người đại diện theo y quyền (Văn bản ủy quyền số 7238/2025/CCGD do
Văn phòng C1 chứng nhận ngày 17/9/2025), vắng mặt.
6. Chị Thị T3, sinh năm: 1999, địa chỉ: xóm A, thôn T, T, tỉnh Gia Lai,
vắng mặt.
7. ChNgô Trần Thùy D, sinh năm: 1999, địa chỉ: tổ C, đường H, phường B,
tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt.
8. Chị Trương Hiền M, sinh năm: 2002, địa chỉ: số B, đường K B, Phường X -
Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
9. Chị Lưu Thị T4, sinh năm: 2002, địa chỉ: thôn Đ, Đ, tỉnh Hưng Yên,
vắng mặt.
người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 6189/2025/CCGD do
Văn phòng C1 chứng nhận ngày 06/8/2025).
- Người làm chứng: Huỳnh Thị L, địa chỉ: khách sạn T10, số C, đường N,
Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Huyền Tôn Nữ Thanh T Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 07/11/2024, lời trình bày tại các bản
tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm của bà Hồ Thị Thu
H, thì: ngày 15/4/2022 bà T thỏa thuận “Giấy nhận tiền cọc giữ chân
mua nhà” với nội dung bà giao cho T số tiền cọc giữ chân là 200.000.000đ để
3
giữ chân ưu tiên mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại số C, đường
N, Phường A, thành phố Đ (nay Phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng với giá thỏa
thuận 20.000.000.000; việc đưa tiền cọc cho T Huỳnh Thị L làm
chứng.
Sau khi bà T nhận tiền cọc của thì không thực hiện đúng thỏa thuận do i
sản nêu trên T cùng đứng tên đồng sở hữu với những người khác, trong đó
người sinh sống tại Hoa Kỳ; nhiều lần đã liên hệ để yêu cầu trả lại tiền cọc
nhưng bà T không trả. Hiện nay tài sản nêu trên đã được chuyển nhượng cho người
khác.
Nay, H đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy “Giấy nhận tiền
cọc giữ chân mua nhà” vào 15/4/2022 giữa bà H và bà T; buộc bà T có trách nhiệm
trả lại cho bà số tiền nhận cọc là 200.000.000đ.
- Theo lời trình bày của bà Huyền Tôn Nữ Thanh T thì: căn nhà tọa lạc tại số
C, đường N, Phường A, thành phố Đ (nay Phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng được
Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất vào ngày
25/5/2005 cho 07 anh chị em trong gia đình gồm các ông, Vĩnh H2, V,
Huyền Tôn NThanh T8, Huyền Tôn Nữ Thanh V1, Huyền Tôn Nữ Thanh N, V
bà. Các anh, chị, em của đã định cư tại Hoa Kỳ trước năm 2019. Sau đó, các
anh, chị, em có ý định bán căn nhà nêu trên để chia tiền cho nhau nhưng do 06
anh, chị, em nêu trên không mặt Việt Nam nên đã ủy quyền cho đứng ra
tìm người giao dịch chuyển nhượng.
Vào ngày 15/4/2022 H đến gặp để thỏa thuận mua căn nhà vừa nêu;
đến chiều cùng ngày thì bà H lập giấy nhận cọc giữ chân ưu tiên cho H
nhận mua căn nhà y, giá thỏa thuận chuyển nhượng 20.000.000.000đ, hai bên
thỏa thuận sẽ hoàn tất thủ tục để ra Văn phòng công chứng lập hợp đồng chuyển
nhượng. do trong thời điểm đó gia đình đang gửi hồ qua Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai thành phố Đ (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
khu vực Đ) để xác minh xem thủ tục giấy tờ liên quan đến Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất trên trục trặc cần bổ sung không trước khi các bên lập hợp
đồng chuyển nhượng, để các anh, chị của Hoa Kỳ về khỏi phải chờ đợi lâu.
Sau đó khoảng 01 tháng thì có kết quả trả lời của Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh
L (nay Sở Nông nghiệp môi trường tỉnh Lâm Đồng), gọi H đến để
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng theo quy định. Thời điểm đó H
đến để gặp bà và thông báo không có khả năng để mua nhà nữa; bà H sẽ tìm người
khác để giới thiệu mua căn nhà này (bà có quay clip về nội dung gặp mặt hôm đó).
Theo được biết thì thời điểm đó H đã mua căn nhà khác đường H, Phường
F, thành phố Đ (cũ).
4
Trong thực tế nhận số tiền 200.000.000đ nhận cọc gichân của H.
Do tin tưởng việc H sẽ mua nhà nên đã đi đặt cọc mua phần đất khác, tuy
nhiên do bà H không thực hiện thỏa thuận đã cam kết trước đó dẫn đến gia đình
không bán được nhà, bản thân không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đã đặt cọc trước đó nên đã bị mất tiền đã đặt cọc.
Do bà H không thực hiện việc mua nhà như đã cam kết nên gia đình bà đã bán
căn nhà này cho vchồng ông Thanh Minh T5, Thị Bích C; hai bên đã
làm thủ tục đăng ký biến động, sang tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số DN 328304 cho vợ chồng ông T5, bà C theo quy định của pháp luật. Do bà H vi
phạm hợp đồng đặt cọc nên phải chịu mất số tiền đặt cọc 200.000.000đ như đã
thỏa thuận nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc bà trả lại số tiền 200.000.000đ.
- Theo lời trình bày của Huỳnh Thị L, người làm chứng, thì: xác nhận
bà là bạn của H và là hàng xóm của T, bà chỉ ký làm chứng xác nhận về việc
bà H giao số 200.000.000đ trước mặt bà, còn việc giao dịch mua bán đặt cọc gì của
hai bên thì bà không nắm rõ, bà chỉ nghe bà T bảo đặt cọc giữ suất ưu tiên mua n
của bà T.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại Bản án số 74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025; Tòa án nhân dân khu vực 1
Lâm Đồng đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của
nguyên đơn bà Hồ Thị Thu H đối với bị đơn bà Huyền Tôn Nữ Thanh T.
1.1/ Hủy Giấy nhận tiền cọc giữ chân mua nhà” lập ngày 15/4/2022 giữa bà
Hồ Thị Thu H và bà Huyền Tôn Nữ Thanh T do vô hiệu.
1.2/ Buộc Huyền Tôn Nữ Thanh T trách nhiệm trả lại cho Hồ Th
Thu H số tiền nhận cọc là 200.000.000đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo,
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 29/9/2025 Huyền Tôn Nữ Thanh T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa,
Huyền Tôn Nữ Thanh T anh Minh T6, chị Lục Thị Hoàng U người
đại diện theo ủy quyền của bà T, thay đổi một phần kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại số tiền 200.000.000đ.
5
Hồ Thị Thu H anh Nguyễn Tuấn H1, người đại diện theo ủy quyền của
bà H, không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng cáo
bị đơn, sửa Bản án thẩm theo hướng không buộc T phải trả lại 200.000.000đ
tiền cọc đã nhận cho bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Huyền Tôn Nữ Thanh T;
thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273
Bộ luật Tố tụng Dân snên đủ điều kiện để Hội đồng xét xxem xét giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Qua xem xét thì thấy rằng:
[2.1] Việc thỏa thuận mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá trị
chuyển nhượng, số tiền đặt cọc; thời hạn đặt cọc đều được các bên thừa nhận; nay
chỉ tranh chấp về việc yêu cầu hủy giao dịch nói trên cũng như xử số tiền đã đặt
cọc. Do đó, căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây những tình tiết, sự
kiện không phải chứng minh.
[2.2] Xét kháng cáo của bà Huyền Tôn Nữ Thanh T thì thấy rằng:
[2.2.1] Theo hồ sơ thể hiện thì tài sản mà các bên thỏa thuận mua bán, chuyển
nhượng là lô đất có diện tích 80,9m
2
và tài sản gắn liền với đất căn nhà xây, sàn
mái làm bằng tông cốt thép, số tầng 01 tầng + 2 lầu + sân thượng, diện tích
xây dựng 80,9m
2
, diện tích sử dụng 129,4m
2
thuộc thửa số 329, tờ bản đồ số
C69-IV-D-a tọa lạc tại số C, đường N, Phường A (nay là Phường X - Đ), tỉnh Lâm
Đồng được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AC 174884 ngày 25/5/2005 mang tên các ông, Vĩnh H2 V - H Huyền
Tôn Nữ Thanh V1 Huyền Tôn Nữ Thanh N V Huyền Tôn Nữ Thanh T. Do
H có nhu cầu mua căn nhà nói trên nên đã đi xem thỏa thuận việc mua bán.
Ngày 15/4/2022 H T đã hợp đồng thỏa thuận “Giấy nhận tiền cọc giữ
chân mua nhà”, giá trị thỏa thuận chuyển nhượng 20.000.000.000đ, theo đó
H đã đặt cọc cho bà T số tiền 200.000.000đ để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng
mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thời hạn đặt cọc 02 tháng để
chờ có giấy ủy quyền hợp lệ của các anh, chị, em trong gia đình bà T.
Quá trình giải quyết vụ án H cho rằng sau khi T nhận tiền cọc xong đã
không thực hiện đúng thỏa thuận đã giao kết căn nhà hai bên thỏa thuận mua
6
bán được T cùng đứng tên đồng sử dụng với ông Vĩnh H2, ông Vĩnh T7,
Tâm Huyền Tôn Nữ Thanh T8, Vân Huyền Tôn Nữ Thanh V1, Huyền Tôn
Nữ Thanh N, ông Vĩnh T9. Do một số anh, chị, em của bđơn đang định tại
Hoa Knên chưa làm được thủ tục ủy quyền cho bà T được nên T chưa thực
hiện được thủ tục chuyển nhượng theo quy định cho bà.
[2.2.2] Xét nội dung thỏa thuận, các bên thống nhất thời hạn 02 tháng để bà T
hoàn thiện thủ tục ủy quyền hợp pháp để thực hiện việc chuyển nhượng. Tuy nhiên
chưa hết thời hạn cam kết thì các bên đã phát sinh tranh chấp.
Tại phiên tòa ngày 26/02/2026, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã
xuất trình USB ghi âm, ghi hình thể hiện nội dung “Hôm nay là ngày 12/5/2022 là
chưa đến ngày hẹn nhưng bên gia đình T đã cung cấp đầy đủ giấy tờ ủy quyền
hợp pháp gọi H để xác nhận hẹn ngày ra công chứng làm thủ tục đặt cọc
nhà 10%-15% 02 tỷ đến 03 tỷ đồng. Nếu H hẹn ngày chính xác tiền đặt
cọc thì ông Vĩnh T7 sẽ mua vé máy bay từ Mỹ về Việt Nam để làm thủ tục nhận cọc
tiếp tục thủ tục sang tên theo quy định. Nhưng H đưa ra do không mua
nhà nữa xin gia đình chúng tôi cho thêm thời hạn 01 tháng để H tìm người
mua và gia đình chúng tôi vẫn cam kết không treo bảng bán nhà lên đợi H. Sau
thời hạn 01 tháng là đến ngày 12/6/2022 nếu H không tìm được người mua nhà
hoặc bà H không có khả năng tiếp tục mua thì bà H chịu mất tiền giữ chân suất ưu
tiên mua nhà và gia đình bà T sẽ treo bảng rao bán nhà cho người khác”.
Như vậy, nội dung video nói trên thể hiện giữa các bên đã thỏa thuận đặt
cọc để thực hiện việc mua, bán nhà; đồng thời H thừa nhận việc không tiếp tục
thực hiện việc mua nhà không xuất phát từ lỗi của bị đơn hay yếu tố khách quan về
giá cả, do nguyên đơn chưa chuyển nhượng được quyền sử dụng đất tại khu
vực hồ T. Nội dung của USB này được ghi vào ngày 12/5/2022, tức trong thời hạn
02 tháng theo thỏa thuận đặt cọc giữa các bên (từ ngày 15/4/2022); tại phiên tòa
ngày 26/02/2026 được Hội đồng xét xử đã mở công khai cho các bên cùng xem và
nghe, nguyên đơn cũng không phản đối gì về việc bị đơn xuất trình chứng cứ này.
Ngoài ra, tại hợp đồng đặt cọc mặc chỉ mình T tên nhận tiền đặt cọc,
tuy nhiên tại thời điểm giấy đặt cọc H biết đối tượng chuyển nhượng tài
sản thuộc sở hữu chung của các anh, chị, em trong gia đình của T nhưng vẫn
đồng ý mua. Đồng thời, theo nội dung của Hợp đồng ủy quyền số 1838, quyển số
04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/7/2010 Hợp đồng ủy quyền số 1693, quyển số
11-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/6/2011; tất cả đều do Văn phòng C3 công chứng
thì các anh, chị, em trong gia đình T (bên A) thể hiện ý chí bán căn nhà này;
trong đó có nội dung bà T (bên B) được“Toàn quyền định đoạt việc chuyển
nhượng đối với phần đồng sở hữu của bên A đối với nhà ở, đất nêu trên”; thời
hạn ủy quyền 20 năm kể từ ngày hợp đồng công chứng. Trong trường hợp
này bà T là một trong những đồng sở hữu, sử dụng, việc đặt cọc nói trên nhằm đảm
7
bảo cho việc thực hiện giao kết hợp đồng; nguyên đơn cho rằng chỉ một mình bà T
nên giao dịch này bị hiệu không căn cứ đồng thời cho rằng không biết
các hợp đồng ủy quyền trên là không có cơ sở.
[2.2.3] Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xuất tnh phiếu hướng dẫn số
2314/HD-CATP ngày 06/7/2022 của Công an thành phố Đ (cũ) có nội dung “Ngày
06/6/2022 bà H đơn tố cáo đến Công an về việc bà T không thực hiện hợp đồng
đặt cọc và không trả số tiền 200.000.000đ đặt cọc giữ chân mua nhà”.
Qua xem xét thì thấy rằng, H đơn tố cáo đến Công an thành phố Đ vào
ngày 06/6/2022; trong khi đó theo nội dung của Giấy nhận tiền cọc giữ chân mua
nhà” ngày 15/4/2022 thì thời hạn thỏa thuận 02 tháng kể từ ngày xác lập giao
dịch đặt cọc y; chưa hết thời hạn hai bên thỏa thuận, điều này thhiện về
mặt ý chí của bà H là không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc nói trên nữa
nên mới đơn gửi đến quan Công an để tố cáo việc T Không thực hiện
hợp đồng đặt cọc và không trả số tiền 200.000.000đ đặt cọc giữ chân mua nhà”.
Do đó, lỗi dẫn đến việc không thực hiện được thỏa thuận đặt cọc mua bán
nhà, chuyển nhượng quyền sdụng đất nói trên là của H. Tòa án cấp thẩm
buộc bà T phải trả lại cho bà H số tiền 200.000.000đ là không có cơ sở.
[3] Từ những phân tích trên, căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Huyền
Tôn Nữ Thanh T; sửa Bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[4] Về án phí:
Lẽ ra, bà Hồ Thị Thu H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi
kiện không được chấp nhận; T phải chịu án phí Dân sự thẩm không giá
ngạch đối với việc hủy hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, H T là người cao
tuổi theo quy định tại khoản 2 của Luật Người cao tuổi; căn cứ điểm đ khoản 2
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn toàn bộ án phí Dân sự thẩm cho H, bà T.
Bà T không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Chấp nhận kháng cáo của Huyền Tôn Nữ Thanh T; sửa Bản án Dân sự
thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Lâm
Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hồ Thị Thu H v việc:
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với bà Huyền Tôn Nữ Thanh T.
Hủy “Giấy nhận tiền cọc giữ chân mua nhà” ngày 15/4/2022 giữa Huyền
Tôn Nữ Thanh T và bà Hồ Thị Thu H.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hồ Thị Thu H về việc đề nghị
Huyền Tôn Nữ Thanh T phải trách nhiệm trả lại số tiền 200.000.000đ (hai
trăm triệu đồng).
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí Dân sự thẩm cho bà Hồ Thị Thu H Huyền Tôn
Nữ Thanh T.
Hồ Thị Thu H được nhận lại số tiền 5.300.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ
thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0001419 ngày
11/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
(nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng).
- Án phí phúc thẩm:
Huyền Tôn Nữ Thanh T không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
4. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
9
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 1 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng
(01);
- Các đương sự (02);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Tải về
Bản án số 263/2026/DS-PT Bản án số 263/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 263/2026/DS-PT Bản án số 263/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất