Bản án số 513/2025/DS-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 513/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 513/2025/DS-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 513/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 513/2025/DS-ST Bản án số 513/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 513/2025/DS-ST Bản án số 513/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Mai Phương
2. Bà Lưu Thị Kim Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
1, Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Nội tham gia phiên tòa:
Phạm Huyền Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Nội xét
xử thẩm công khai vụ án dân sự thẩm thụ số 280/2025/TLST- DS ngày
22/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 268/2025/QĐXX-DSST ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn
phiên tòa số 173/2025/QĐST-DS ngày 10/9/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T5; Trụ sở: Toà nhà T6, s E phố L,
phường T, quận H, thành phố Nội (nay Toà nhà T6, số E phố L, phường C,
thành phố Nội). Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P Chức vụ: Chủ tịch
Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP T5; Đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn
Xuân T, ông Ngô Văn L, Nguyễn Thị Linh C, ông Tạ Quang H (theo giấy uỷ
quyền số 1390/2024/GUQ-TPB.DR ngày 07/3/2024).
(Ông Nguyễn Xuân T có mặt)
- Bị đơn: Đặng Hoàng L1; sinh năm: 1982; ĐKHKTT: Số D đường P,
phường Q, quận B, thành phố Nội (nay Số D đường P, phường B, thành phố
Nội); Nơi ở: 17 ngõ H T, quận Đ, thành phố Nội (nay 17 ngõ H T,
phường Đ, thành phố Hà Nội).
(Bà Đặng Hoàng L1 có mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
Bản án số: 513/2025/DS-ST
Ngày: 24/9/2025
V/v : Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Thị M, sinh năm 1972;
2. Ông Trần Quang T1, sinh năm 1972;
3. Anh Trần Quang N, sinh năm 1993;
4. Chị Nguyễn Thị Huệ T2, sinh năm 1996;
5. Cháu Trần Phương T3, sinh năm 2017;
6. Cháu Trần Khánh A, sinh năm 2019;
7. Cháu Trần An N1, sinh năm 2021;
Cùng địa chthường trú: TDP K, phường D, quận H, thành phố Nội (nay
TDP K, phường D, thành phố Hà Nội).
Đại diện theo uỷ quyền cho ông Trần Quang T1, Trần Thị M, anh Trần Quang
N, chị Nguyễn Thị Huệ T2, cháu Trần Phương T3, cháu Trần Khánh A, cháu Trần
An N1 là: ông Mậu Xuân C1, ông Bùi Minh A1, Nguyễn Thị Khánh H1 (Theo
hợp đồng uỷ quyền số công chứng 549; Quyển số: 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD tại
Văn Phòng C2 Thành phố Hà Nội giấy ủy quyền số công chứng 2699 quyển
số 02/2025/CCGD ngày 10/7/2025 tại Văn phòng C2). (Ông Mậu Xuân C1 có mặt)
8. Văn phòng C3; Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Hữu D, Địa chỉ: L khu
T, phường H, quận H, Hà Nội (nay là phường H, Hà Nội). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 03 năm 2023 và các lời khai tiếp theo
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Ngân hàng TMCP T5 đã cấp tín dụng cho Đặng Hoàng L1 các khoản vay
như sau:
1. Khoản vay thứ 1:
Ngày 28/8/2020, giữa Ngân hàng TMCP T5 và bà Đặng Hoàng L1 đã ký Hợp
đồng cho vay từng lần số: 80/2020/HDTD/TTKD MDH/01, theo đó số tiền
Ngân hàng cấp cho bên vay 2.100.000.000 đồng; Mục đích: vay thanh toán tiền
mua bất động sản ; Lãi suất áp dụng kể từ ngày giải ngân đầu tiên cho đến ngày
28/8/2021 9,5%/năm; Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày
28/8/2040; Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm
chuyển nợ quá hạn; Lãi được tính theo công thức thể hiện tại hợp đồng.
3
Phía Ngân hàng đã giải ngân bên vay Đặng Hoàng L1 đã nhận nợ
bằng khế ước giải ngân và nhận nợ số: 80/2020/GNN/TTKD MDH/01 ngày
28/8/2020 và văn bản sửa đổi bổ sung số: 80/2020/VBSĐBS/TTKD MDH/01 ngày
25/10/2021 với số tiền giải ngân: 2.100.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng từ
ngày 29/8/2020 đến 28/8/2040. Tại khế ước nhận nợ thể hiện: Lãi suất vay
9,5%/năm; Lãi quá hạn 150% lãi trong hạn; Trả nợ nhiều lần theo lịch trả nợ do
T6 gửi khách hàng định kỳ 1 tháng 1 lần; Lãi trả vào ngày 26 hàng tháng.
2. Khoản vay thứ 2:
Ngày 08/9/2020, giữa Ngân hàng TMCP T5 Đặng Hoàng L1 đã
Hợp đồng cho vay số: 80/2020/HDTD/TTKD MDH/02, theo đó số tiền Ngân
hàng cấp cho Đặng Hoàng L1 vay 300.000.000 đồng; Mục đích: vay tiêu
dùng ; thời hạn vay 60 tháng từ ngày 9/9/2020 đến ngày 8/9/2025; Lãi suất áp dụng
kể từ ngày giải ngân đầu tiền cho đến ngày 8/12/2020 là 20,2%/năm.
3. Khoản vay thứ 3:
Ngày 25/10/2021 giữa Ngân hàng TMCP T5 và bà Đặng Hoàng L1 đã ký đề
nghị gia hạn nợ và văn bản sửa đổi, bổ sung số 80/2020/VBSĐBS/TTKD MDH/01
ngày 25/10/2021, theo đó Ngân hàng đã giải ngân cho Đặng Hoàng L1 vay
35.000.000 đồng; mục đích: gia hạn nợ gốc khoản vay số 049D22L20241; thời hạn
vay 240 tháng từ ngày 29/8/2020 đến 28/8/2040; Lãi suất áp dụng ktừ ngày giải
ngân đầu tiên cho đến ngày 28/8/2021 là 9,5%/năm.
4. Khoản vay thứ 4:
Ngày 7/9/2020 Đặng Hoàng L1 đã đề nghị T6 phát hành thẻ tín dụng
thông qua kết đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T6 kiêm hợp đồng sử dụng
thẻ. Căn cứ đơn đnghị phát hành thẻ n dụng nêu trên, T6 đồng ý cấp thẻ hạn
mức tín dụng 100.000.000 đồng đã phát hành cho L1 01 thẻ tín dụng T6
hạng Platinum, số tiền giải ngân khách hàng đã sử dụng trên toàn bộ hạn mức được
cấp.
Quá tnh thực hiện Hợp đồng, Đặng Hoàng L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Tạm tính đến ngày 26/11/2024 tổng số tiền Đặng Hoàng L1 còn nợ Ngân
hàng TMCP T5 (T6) đối với 4 hợp đồng tín dụng nêu trên là: 3.148.435.088 đồng
(ba tỷ một trăm bốn mươi tám triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn không trăm tám
mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là: 2.141.673.111 đồng; nợ lãi trong hạn:
673.384.140 đồng; nợ lãi quá hạn: 86.233.693 đồng; nợ lãi chậm trả: 118.244.574
đồng; nợ thẻ tín dụng: 128.899.570 đồng.
4
(Đã trả 752.844.207 đồng trong đó nợ gốc là: 293.326.889 đồng; nợ lãi trong
hạn: 456.494.056 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.655.621 đồng; nợ lãi chậm trả: 1.367.641
đồng).
vậy, Ngân hàng TMCP T5 (T6) khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân Quận
Ba Đình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Nội) buộc bà Đặng Hoàng L1 phải
thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền nợ gốc lãi phát sinh tạm tính đến ngày
26/11/2024 là: 3.148.435.088 đồng (ba tỷ, một trăm bốn mươi tám triệu, bốn trăm
ba mươi lăm nghìn, không trăm tám mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là:
2.141.673.111 đồng; nợ lãi trong hạn: 673.384.140 đồng; nợ lãi quá hạn:
86.233.693 đồng; nợ lãi chậm trả: 118.244.574 đồng; nợ thẻ tín dụng: 128.899.570
đồng tiếp tục thanh toán tiền lãi được tính kể từ ngày 26/11/2024 theo mức lãi
suất thỏa thuận tại các Hợp đồng hạn mức tín dụng cho đến khi bà Đặng Hoàng L1
trả xong nợ.
Ngoài ra, đề nghị Tòa án cho xử tài sản thế chấp của khoản vay như sau:
Để bảo đảm cho nghĩa vtrả nợ gốc lãi của các hợp đồng tín dụng trên, L1
đã thế chấp tài sản của mình là Quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở có diện
tích 128,1m
2
tại thửa đất số 965-2, 965-6, tờ bản đsố: 01, địa chỉ: K, L, Phường
D, quận H, Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CV 448315, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO
30710 do Stài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020 cho anh
Trần Quang N Trần Thị M. Ngày 30/6/2020 Văn phòng Đ chi nhánh quận
H xác nhận chủ sử dụng đất anh Trần Quang N theo hợp đồng tặng cho số công
chứng: 1811/Q2.3/2020 lập tại văn phòng C4 ngày 15/6/2020, hồ số 200616-
0027. Ngày 01/9/2020, văn phòng Đ chi nhánh quận H cập nhật chuyển nhượng
cho bà Đặng Hoàng L1 theo hồ sơ số 200828-0020.
Trường hợp Đặng Hoàng L1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ
cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên T6 quyền yêu cầu quan thi hành án
buộc Đặng Hoàng L1 phải thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm cho khoản vay
của bà Đặng Hoàng L1 theo cam kết tại hợp đồng thế chấp tuyên Ngân hàng
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
bị đơn bà Đặng Hoàng L1 trình bày:
Do nhu cầu vay tiền nên giữa Đặng Hoàng L1 và Ngân hàng TMCP
T5 đã kết các hợp đồng tín dụng cùng các thỏa thuận về lãi suất đúng như
Nguyên đơn đã trình bày đúng. Sau khi kết các hợp đồng tín dụng trên, phía
5
bị đơn đã được nhận đủ stiền vay theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ.
Tài sản thế chấp cho khoản vay là đúng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn số tiền:
752.844.207 đồng, sau đó do gặp khó khăn về kinh tế nên bđơn đã để vi phạm
nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện, bị đơn đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện
miễn lãi, lãi phạt chậm trả cho bị đơn. Trong trường hợp bị đơn không trả được số
tiền nợ gốc còn lại cho Ngân hàng, bị đơn đnghị Ngân hàng phát mại tài sản
bị đơn đã thế chấp là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà diện tích
128,1m
2
tại thửa đất s965-2, 965-6, tờ bản đồ số: 01, địa chỉ: K, L, Phường D,
quận H, Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CV 448315, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 30710
do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020 cho anh Trần
Quang N và bà Trần Thị M. Ngày 30/6/2020 Văn phòng Đ chi nhánh quận H xác
nhận chủ sử dụng đất là anh Trần Quang N theo hợp đồng tặng cho số công chứng:
1811/Q2.3/2020 lập tại văn phòng C4 ngày 15/6/2020, hồ số 200616-0027.
Ngày 01/9/2020, văn phòng Đ chi nhánh quận H cập nhật chuyển nhượng cho
Đặng Hoàng L1 theo hồ sơ số 200828-0020.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Thị M, ông Trần Quang T1, anh Trần Quang N, chị Nguyễn
Thị Huệ T2, cháu Trần Phương T3, cháu Trần Khánh A, cháu Trần An N1 do
ông Mậu Xuân C1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào năm 2020 do anh Trần Quang N cần tiền gấp để làm ăn kinh doanh, nên
bố mẹ anh có cho anh mượn giấy tờ gốc của thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV448315. Sau
đó anh Trần Quang N đã tự ý đăng biến động, sang tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CV 448315 của bố mẹ anh mà không báo cho bố mẹ anh biết.
Vào thời điểm đó, do anh N đang bị nợ xấu Ngân hàng nên không thể đứng
tên tài sản để vay vốn được, do đang cần tiền gấp nên anh N nhờ chị Đặng
Hoàng L1 đứng hộ tên tài sản trên để làm thủ tục vay số tiền 2.100.000.000 đồng.
Sau khi anh N làm thủ tục sang tên chuyển nhượng cho chị Đặng Hoàng L1,
chị L1 đã làm thủ tục thế chấp tài sản của gia đình anh N để vay vốn tại Ngân hàng
TMCP T5 Chi nhánh T7 để đứng tên vay hanh N số tiền: 2.100.000.000 đồng,
chị L1 đã thu phí đứng hộ tên vay vốn với số tiền là 100.000.000 đồng.
Trên thực tế hàng tháng anh N là người đóng gốc lãi khoản vay trên tại Ngân
6
hàng TMCP T5. Tài sản nhà đất tại địa chỉ đất số 965-2, 965-6, tbản đồ số: 01,
địa chỉ: K, L, Phường D, quận H, Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV 448315, số vào sổ
cấp GCN: CS-HĐO 30710 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày
20/5/2020 vẫn do cả gia đình anh N sử dụng, sở hữu quản n định từ trước
cho đến nay mà không hề có sự tranh chấp nào.
Trần Thị M, ông Trần Quang T1, anh Trần Quang N, chNguyễn Thị
Huệ T2, cháu Trần Phương T3, cháu Trần Khánh A, cháu Trần An N1 cùng khẳng
định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa anh Trần Quang N chị Đặng Hoàng
L1 là giao dịch giả tạo để nhằm mục đích vay vốn tại Ngân hàng.
Anh Trần Quang N đã đơn yêu cầu độc lập đã được Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Nội thụ lý yêu cầu độc lập, cụ thể anh N yêu cầu:
1. Yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số công chứng
2734/2020/CNQSDĐ ký ngày 27/8/2020 tại văn phòng C3.
2. Yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số 1236/2020/HĐTC ngày 3/9/2020
giữa bà Đặng Hoàng L1 với Ngân hàng TMCP T5 chi Nhánh T7.
Ngày 13/8/2025, ông Mậu Xuân C1 đại diện theo ủy quyền của Trần
Thị M, ông Trần Quang T1, anh Trần Quang N, chị Nguyễn Thị Huệ T2, cháu
Trần Phương T3, cháu Trần Khánh A, cháu Trần An N1 đơn bổ sung yêu cầu
độc lập. Ông C1 bổ sung yêu cầu hủy đăng biến động sang tên chuyển nhượng
cho bà Đặng Hoàng L1 ngày 01/9/2020 tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CV 448315.
Đồng thời phía người quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng cung cấp các tài liệu
chứng cứ để chứng minh cho giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh
Trần Quang N và bà Đặng Hoàng L1 là giao dịch giả tạo.
2. Văn phòng C3 do ông Bùi Hữu D là đại diện theo pháp luật trình bày:
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất ở số 2734/2020/HĐCN, quyển số: 02 VP/CC-
SCC/HĐGD ngày 27/8/2020 tại văn phòng C3 giữa bên chuyển nhượng anh
Trần Quang N bên nhận chuyển nhượng Đặng Hoàng L1 về trình tự, văn
phòng công chứng làm theo đúng quy trình pháp luật. Về hình thức, nội dụng, việc
xác định chủ thể quan hệ hợp đồng có số công chứng nên trên là phù hợp quy định
của pháp luật.
7
Đồng thời văn phòng ng chứng cũng xin vắng mặt tại các buổi làm việc,
các buổi hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
*Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX buộc bị đơn thanh
toán khoản tiền nợ tính đến ngày 24/9/2025, tổng số tiền là: 3.473.080.483 đồng,
trong đó:
- Khoản ncủa hợp đồng cho vay từng lần số: 80/2020/HĐTD/TTKD MDH/01:
dư nợ gốc: 1.912.400.915 đồng.
+ Lãi trong hạn: 759.997.890 đồng
+ Lãi quá hạn: 105.225.629 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 130.983.658 đồng
+ Tổng cộng: 2.908.608.092 đồng.
- Khoản nợ của hợp đồng cho vay số: 80/2020/HĐTD/TTKD MDH/02
+ Dư nợ gốc: 195.000.000 đồng.
+ Lãi trong hạn: 69.717.240 đồng
+ Lãi quá hạn: 99.857.232 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 15.256.974 đồng
+ Tổng cộng: 379.831.446 đồng.
- Khoản nợ theo đề nghị gia hạn nợ và văn bản sửa đổi bổ sung:
+ Dư nợ gốc: 34.272.196 đồng.
+ Lãi trong hạn: 15.694.231 đồng
+ Lãi quá hạn: 2.538.373 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 3.236.575 đồng
+ Tổng cộng: 55.741.375 đồng.
- Khoản nợ của HĐ thẻ tín dụng:
+ Dư nợ gốc: 76.795.895 đồng
+ Lãi: 52.103.675 đồng
+ Tổng cộng: 128.899.570 đồng.
8
Ngoài ra, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu xử tài sản đảm bảo trong
trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ.
*Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày. Bị đơn đề nghị Ngân hàng
miễn phần nợ lãi chấp nhận trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đồng ý để
Ngân hàng phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ của bị đơn.
Đối với yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn
khẳng định giao dịch mua bán chuyển nhượng giữa bị đơn và anh Trần Quang N
đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn xác nhận tin nhắn zalo đại diện theo
ủy quyền của anh Trần Quang N cung cấp đúng tin nhắn qua lại giữa bị đơn với
anh Trần Quang N. Tuy nhiên đây chỉ là các thỏa thuận bên ngoài về việc anh N sẽ
mua lại nhà với giá thỏa thuận tại thời điểm mua bán.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị M, ông Trần Quang T1, anh Trần Quang N, chị Nguyễn Thị
Huệ T2, cháu Trần Phương T3, cháu Trần Khánh A, cháu Trần An N1 vẫn giữ
nguyên ý kiến như đã trình bày và giữ nguyên yêu cầu độc lập.
- Văn phòng C3 vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về sự tuân thủ pháp luật của Hội đồng
xét xử nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Những
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt là chưa chấp hành quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với Đặng Hoàng L1.
Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi còn nợ.
- Bác yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần
Quang N.
- Bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang N phải
chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây ván “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng”,
bị đơn Đặng Hoàng L1 HKTT tại: D P, phường Q, quận B, Nội.
vậy, Tòa án nhân n khu vực 1, Nội thụ giải quyết là thuộc thẩm quyền
theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
9
Đối với việc vắng mặt của Văn phòng C3, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, văn
phòng công chứng đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa và đã ý kiến gửi
Tòa án. Đồng thời Văn phòng C3 cũng đã có ý kiến đề nghị được vắng mặt tại các
buổi hòa giải, các phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng
mặt theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2]. Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu do đương sự xuất trình Tòa án thu thập được thể
hiện: Giữa Ngân hàng TMCP T5 Đặng Hoàng L1 đã kết 03 Hợp đồng tín
dụng và 01 đề nghị gia hạn nợ, cụ thể như sau:
* Ngày 28/8/2020, hai bên đã Hợp đồng cho vay từng lần số:
80/2020/HDTD/TTKD MDH/01, theo đó số tiền mà Ngân hàng cấp cho bên vay là
2.100.000.000 đồng; Mục đích: vay thanh toán tiền mua bất động sản ; Lãi suất áp
dụng kể từ ngày giải ngân đầu tiên cho đến ngày 28/8/2021 9,5%/năm; Lãi suất
áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 28/8/2040; Lãi suất quá hạn bằng: 150%
lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi được tính theo
công thức thể hiện tại hợp đồng. Theo đó Ngân hàng đã giải ngân bên vay đã
nhận nợ bằng khế ước giải ngân nhận nợ số: 80/2020/GNN/TTKD MDH/01
ngày 28/8/2020 với số tiền giải ngân: 2.100.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng
từ ngày 29/8/2020 đến 28/8/2040. Tại khế ước nhận nợ thể hiện: Lãi suất vay
9,5%/năm; Lãi quá hạn 150% lãi trong hạn;Trả nợ nhiều lần theo lịch trả nợ do
T6 gửi khách hàng định kỳ 1 tháng 1 lần; Lãi trả vào ngày 26 hàng tháng.
Thực hiện hợp đồng, Đặng Hoàng L1 đã thanh toán được 558.265.746
đồng, trong đó tiền gốc là 187.599.085 đồng, lãi trong hạn là 368.961.127 đồng, lãi
quá hạn: 610.576 đồng, lãi chậm trả: 1.094.958 đồng.
* Ngày 08/9/2020, giữa Ngân hàng TMCP T5 Đặng Hoàng L1 đã
Hợp đồng cho vay số: 80/2020/HDTD/TTKD MDH/02, theo đó số tiền Ngân
hàng cấp cho Đặng Hoàng L1 vay 300.000.000 đồng; Mục đích: vay tiêu
dùng ; thời hạn vay 60 tháng từ ngày 9/9/2020 đến ngày 8/9/2025; Lãi suất áp dụng
kể từ ngày giải ngân đầu tiền cho đến ngày 8/12/2020 là 20,2%/năm.
Thực hiện hợp đồng, Đặng Hoàng L1 đã thanh toán được 191.382.008
đồng, trong đó tiền gốc 105.000.000 đồng, lãi trong hạn 85.091.260 đồng, lãi
quá hạn: 1.034.348 đồng, lãi chậm trả: 256.400 đồng.
* Ngày 25/10/2021 giữa Ngân hàng TMCP T5 Đặng Hoàng L1 đã
đề nghị gia hạn nợ văn bản sửa đổi, bổ sung số 80/2020/VBSĐBS/TTKD
10
MDH/01 ngày 25/10/2021, theo đó Ngân hàng đã giải ngân cho bà Đặng Hoàng L1
vay 35.000.000 đồng; mục đích: gia hạn nợ gốc khoản vay số 049D22L20241;
thời hạn vay 240 tháng từ ngày 29/8/2020 đến 28/8/2040; Lãi suất áp dụng kể từ
ngày giải ngân đầu tiên cho đến ngày 28/8/2021 là 9,5%/năm.
Thực hiện hợp đồng, Bà Đặng Hoàng L1 đã thanh toán được 3.196.453 đồng,
trong đó tiền gốc 727.804 đồng, i trong hạn 2.441.669 đồng, lãi quá hạn:
10.697 đồng, lãi chậm trả: 16.283 đồng.
* Ngày 7/9/2020 Đặng Hoàng L1 đã dề nghị T6 phát hành thẻ tín dụng
thông qua kết đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T6 kiêm hợp đồng sử dụng
thẻ. Căn cứ đơn đnghị phát hành thẻ n dụng nêu trên, T6 đồng ý cấp thẻ hạn
mức tín dụng 100.000.000 đồng đã phát hành cho L1 01 thẻ tín dụng T6
hạng Platinum, số tiền giải ngân khách hàng đã sử dụng trên toàn bộ hạn mức được
cấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Đặng Hoàng L1 đã vi phạm nghĩa vụ
thanh toán. Toàn bộ số tiền nợ chưa thanh toán đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày
29/02/2022 và được tính lãi theo lãi suất nợ quá hạn.
Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn xác nhận khoản tiền còn nợ như
Nguyên đơn đã trình bày. Hai bên không tranh chấp về số tiền vay, số tiền còn
nợ, lãi suất cho vay. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn xuất trình thì
tính đến ngày xét xử (24/9/2025), bị đơn còn nợ Nguyên đơn tổng số tiền của 3
hợp đồng tín dụng và 01 đề nghị gia hạn nợ là: 3.473.080.483 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ thỏa thuận của hai bên tại
Hợp đồng tín dụng, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 Luật
các tchức tín dụng 2024 thì Ngân ng quyền áp dụng các biện pháp xử
theo quy định của pháp luật để đòi nợ. Ngoài ra, việc thỏa thuận về lãi suất trong
hạn quá hạn giữa Ngân hàng và bên vay phù hợp với quy định của pháp luật
được bị đơn chấp nhận, các bên không tranh chấp về cách tính lãi. vậy, yêu
cầu đòi thanh toán tiền nợ của nguyên đơn căn cứ được chấp nhận, cần buộc
bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ của cả 03 Hợp đồng tín dụng và 01
đề nghị gia hạn nợ, tính đến ngày xét xử 24/9/2025 là: 3.473.080.483 đồng, bao
gồm nợ gốc là: 2.141.673.111 đồng, nợ lãi trong hạn là: 845.409.361 đồng, lãi quá
hạn: 207.621.234 đồng, lãi chậm trả: 149.477.207, cụ thể:
- Đối với khoản nợ của hợp đồng cho vay từng lần số: 80/2020/HĐTD/TTKD
MDH/01: dư nợ gốc: 1.912.400.915 đồng
11
+ Lãi trong hạn: 759.997.890 đồng
+ Lãi quá hạn: 105.225.629 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 130.983.658 đồng
+ Tổng cộng: 2.908.608.092 đồng.
- Đối với khoản nợ của hợp đồng cho vay số: 80/2020/HĐTD/TTKD
MDH/02
+ Dư nợ gốc: 195.000.000 đồng.
+ Lãi trong hạn: 69.717.240 đồng
+ Lãi quá hạn: 99.857.232 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 15.256.974 đồng
+ Tổng cộng: 379.831.446 đồng.
- Đối với khoản nợ theo đề nghị gia hạn nợ và văn bản sửa đổi bổ sung:
+ Dư nợ gốc: 34.272.196 đồng.
+ Lãi trong hạn: 15.694.231 đồng
+ Lãi quá hạn: 2.538.373 đồng
+ Phạt lãi chậm trả: 3.236.575 đồng
+ Tổng cộng: 55.741.375 đồng.
- Đối với khoản nợ của HĐ thẻ tín dụng:
+ Dư nợ gốc: 76.795.895 đồng
+ Lãi: 52.103.675 đồng
+ Tổng cộng: 128.899.570 đồng.
Ngoài ra, bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo quy định
tại các hợp đồng tín dụng ktừ ngày tiếp theo ngày t xử thẩm cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ gốc.
* Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Theo lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong vụ án thể hiện: Do cần tiền để
làm ăn nhưng tại thời điểm đó anh Trần Quang N đang nxấu nên không thể trực
tiếp làm thủ tục vay tiền tại Ngân hàng được. Anh N đã nhờ Đặng Hoàng L1
đứng vay Ngân hàng. Để làm được điều này thì anh Trần Quang N phải làm thủ
tục chuyển nhượng nhà đất đang đứng tên nh sang tên cho Đặng Hoàng L1.
12
Ngày 27/8/2020 Đặng Hoàng L1 anh Trần Quang N kết hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số công chứng 2734/2020/HĐCN, quyển số 02/VP/CC-SCC/HĐGD tại văn
phòng C3. Sau đó Đặng Hoàng L1 làm các thủ tục để vay vốn tại Ngân hàng
TMCP T5.
Tại tin nhắn trao đổi trên zalo giữa Đặng Hoàng L1 anh Trần Quang N
thể hiện việc chuyển nhượng này chỉ nhằm mục đích “đáo hạn”, “ký vay”. Tại vi
bằng số 2125/2024/VB-TPLS1 ngày 31/12/2024 của văn phòng T8 đã ghi nhận lại
tin nhắn zalo trên máy điện thoại của anh Trần Quang N. Đặng Hoàng L1 cũng
xác nhận tin đây là tin nhắn giữa bà L1 và anh N.
Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất thể hiện giá trị chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng tuy
nhiên số tiền L1 chuyển cho anh N lại 2.100.000.000 đồng (trùng với nội
dung tin nhắn trao đổi qua lại trên zalo).
Hiện nay gia đình anh N vẫn sinh sống thường xuyên tại mảnh đất trên t
trước đến nay. Giữa anh N và bà L1 không có biên bản bàn giao nhà đất, giấy nhận
tiền bán nhà hay có bất kỳ thỏa thuận nào khác.
Từ các chứng cứ nêu trên đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, quyền sở hu nhà tài sản khác gắn liền với đất số công
chứng 2734/2020/HĐCN, quyển số 02/VP/CC-SCC/HĐGD tại văn phòng C3 được
kết giữa anh Trần Quang N bà Đặng Hoàng L1 giả tạo, nhằm che giấu
quan hệ vay tiền giữa anh Trần Quang N, Đặng Hoàng L1 với Ngân hàng
TMCP T5.
*Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: Quyền sdụng đất quyền sở hữu
nhà diện tích 128,1m
2
tại thửa đất số 965-2, 965-6, tờ bản đsố: 01, địa chỉ:
K, L, Phường D, quận H, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV 448315, số vào sổ cấp GCN:
CS-HĐO 30710 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020
cho anh Trần Quang N Trần Thị M. Ngày 30/6/2020 Văn phòng Đ chi
nhánh quận H xác nhận chủ sử dụng đất anh Trần Quang N theo hợp đồng tặng
cho số công chứng: 1811/Q2.3/2020 lập tại văn phòng C4 ngày 15/6/2020, hồ
số 200616-0027. Ngày 01/9/2020, văn phòng Đ chi nhánh quận H cập nhật chuyển
nhượng cho bà Đặng Hoàng L1 theo hồ sơ số 200828-0020.
13
Hội đồng xét xthấy: Hợp đồng thế chấp tài sản trên được công chứng
được đăng giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng đất nhà thẩm
quyền và được kết đúng quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 về giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng hợp pháp và hiệu lực thi
hành đối với các bên. vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử
tài sản đảm bảo để thu hồi nợ nếu bị đơn không trả được nợ. Việc kết hợp đồng
chuyển nhượng giữa Đặng Hoàng L1 anh Trần Quang N hiệu, tuy
nhiên việc bà Đặng Hoàng L1 thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân
hàng TMCP T5, anh Trần Quang N biết cùng thực hiện với Đặng Hoàng L1
nên Ngân hàng là người thứ ba ngay tình.
Tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của anh Trần Quang N tự nguyện trả lại
tiền cho Đặng Hoàng L1 bằng việc anh N tự nguyện chịu trách nhiệm trả nợ
khoản vay của Đặng Hoàng L1 tại Ngân hàng TMCP T5 để làm thủ tục giải
chấp tài sản bảo đảm. Đây là sự tự nguyện của đương sự, cần được chấp nhận.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền
tạm ứng án phí đã nộp. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần
Quang N phải chịu 1 phần án phí Dân sự sơ thẩm do phần yêu cầu độc lập không
được chấp nhận. Anh N được hoàn trả lại một phần tạm ứng án phí sau khi trừ đi
án phí phải chịu. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều
227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 122; Điều 124; Điều 131; Điều 133; Điều 160, Điều 163, Điều 246 Bộ
luật dân sự;
- Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 103 Luật các tổ chức tín
dụng năm 2024.
- Nghị định 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định 11/NĐ-CP ngày
22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
14
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 đối với Bà Đặng
Hoàng L1.
- Buộc Đặng Hoàng L1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP T5 tổng
số tiền nợ phát sinh từ 03 hợp đồng và 01 đề nghị gia hạn nợ là: 3.473.080.483 (Ba
tỷ, bốn trăm bảy mươi ba triệu, không trăm tám mươi ngàn, bốn trăm tám ba)đồng,
bao gồm nợ gốc là: 2.141.673.111 đồng, nợ lãi trong hạn là: 845.409.361 đồng, lãi
quá hạn: 207.621.234 đồng, lãi chậm trả: 149.477.207 đồng (Tạm tính đến ngày
24/9/2025), cụ thể:
+ Đối với khoản nợ của hợp đồng cho vay từng lần số:
80/2020/HĐTD/TTKD MDH/01 ngày 08/9/2020: nợ gốc: 1.912.400.915 đồng;
Lãi trong hạn: 759.997.890 đồng; Lãi quá hạn: 105.225.629 đồng;
Phạt lãi chậm trả: 130.983.658 đồng;Tổng cộng: 2.908.608.092 đồng (Tạm tính
đến ngày 24/9/2025).
+ Đối với khoản nợ của hợp đồng cho vay số: 80/2020/HĐTD/TTKD
MDH/02 Ngày 08/9/2020: nợ gốc: 195.000.000 đồng; Lãi trong hạn:
69.717.240 đồng; Lãi quá hạn: 99.857.232 đồng; Phạt lãi chậm trả: 15.256.974
đồng; Tổng cộng: 379.831.446 đồng (Tạm tính đến ngày 24/9/2025).
+ Đối với khoản nợ theo đề nghị gia hạn nợ văn bản sửa đổi bổ sung
Ngày 25/10/2021: nợ gốc: 34.272.196 đồng; Lãi trong hạn: 15.694.231 đồng;
lãi quá hạn: 2.538.373 đồng; Phạt lãi chậm trả: 3.236.575 đồng; Tổng cộng:
55.741.375 đồng (Tạm tính đến ngày 24/9/2025).
+ Đối với khoản nợ của HĐ thẻ tín dụng Ngày 7/9/2020: dư nợ gốc:
76.795.895 đồng; Lãi: 52.103.675 đồng; Tổng cộng: 128.899.570 đồng (Tạm tính
đến ngày 24/9/2025).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử thẩm, Đặng Hoàng L1 còn phải
tiếp tục chịu khoản tiền i đối với khoản tiền nợ chưa thanh toán cho đến khi
thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi xuất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng
15
tín dụng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh N trách nhiệm trả nợ thay L1 số
tiền vay Ngân hàng TMCP T5 lãi như trên. Nếu anh N không trả nợ được
bằng tiền thì Ngân hàng TMCP T5 có quyền phát mại tài sản thế chấp của anh N
cho L1 khoản tiền vay Ngân hàng TMCP T5 gồm cả gốc lãi như đã xác
định trên. Nếu phát mại trả nợ thừa thì anh N được nhận lại, nếu thiếu thì
Liên tiếp T4 trả nợ cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của anh Trần Quang N. Xác nhận
hợp đồng đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số công chứng 2734/2020/HĐCN, quyển số 02/VP/CC-
SCC/HĐGD tại văn phòng C3 kết giữa anh Trần Quang NĐặng Hoàng
L1 là vô hiệu do giả tạo.
- Về giải quyết hậu quả của Hợp đồng chuyển nhượng hiệu: Hai bên
hoàn trả cho nhau những đã nhận. Anh N phải trả bà L1 số tiền 2.100.000.000
đồng đã nhận của Đặng Hoàng L1, nhà đất tại địa chỉ thửa đất số 965-2, 965-
6, tbản đồ số: 01, địa chỉ: K, L, Phường D, quận H, Nội, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số
CV 448315, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 30710 do Sở tài nguyên môi
trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020 (vẫn do gia đình anh N quản lý, sở hữu
và sử dụng).
*Về việc các bên đã sang tên trên Giấy chứng nhận QSD đất:
Do Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, nhà đất vẫn thuộc quyền sở hữu của
anh Trần Quang N nên việc Đặng Hoàng L1 mang tài sản đi thế chấp
hiệu. Tuy nhiên trong vụ án này, Ngân hàng không hề biết việc chuyển nhượng
nhà đất trên giả tạo. Ngân hàng đã làm đầy đủ hồ thủ tục cho vay, cho thế
chấp theo quy định của pháp luật, Do vậy trong vụ án này Ngân hàng người
thứ 3 ngay tình.
Ngân hàng trách nhiệm làm thủ tục giải chấp, trả lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi bà L1
hoặc anh N thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP T5 thì giấy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất đứng tên Đặng Hoàng L1 bị huỷ bỏ. Đặng Hoàng L1 anh Trần
Quang N phải trách nhiệm liên hệ với các quan thẩm quyền để làm các
thủ tục giấy tờ điều chỉnh lại biến động giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất số CV 448315, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 30710 do Sở tài
16
nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020 để đứng tên anh Trần
Quang N và bà Trần Thị M.
Nếu Đặng Hoàng L1 không m thì anh Trần Quang N quyền đơn
phương đến quan Nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh biến động hoặc cấp
mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Thị M
trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CV 448315, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 30710 do Sở tài
nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 20/5/2020.
Anh Trần Quang N trách nhiệm thay bà Đặng Hoàng L1 trả số tiền còn
nợ tại Ngân hàng TMCP T5 theo 03 hợp đồng 01 giấy đề nghị trên. Sau khi
hoàn thành nghĩa vụ với Ngân hàng, tNgân hàng trách nhiệm giải chấp tài
sản trên. Trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất các
giấy tờ liên quan khác khi thế chấp tài sản cho Ngân Hàng TMCP T5.
3. Về án phí: Đặng Hoàng L1 phải chịu án phí dân sự thẩm là:
101.461.610 (Một trăm linh một, triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, u trăm
mười) đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP T5 số tiền 44.818.807 đồng (bằng chữ:
bốn mươi bốn triệu tám mười tám nghìn tám trăm linh bảy đồng) đã tạm ứng án
phí theo Biên lai số 0030722 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự
Quận Ba Đình, thành phố Nội. (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 1
thành phố Hà Nội).
Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm (đã nộp 37.000.000
đồng được giữ lại 300.000 đồng. Hoàn trả lại cho anh Trần Quang N số tiền
36.700.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) đã tạm ứng án phí
theo Biên lai số 0031542 ngày 21/05/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội. (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 thành
phố Hà Nội).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, 7a
điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
17
Án xử công khai thẩm. Các đương sự mặt quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương svắng mặt quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 1, Hà Nội;
- Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, TP.
Hà Nội;
- TAND TP. Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Ngô Thị Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 513/2025/DS-ST Bản án số 513/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 513/2025/DS-ST Bản án số 513/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất