Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện U Minh Thượng (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 51/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN U MINH THƯỢNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-09-2024
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tám
2. Ông Lê Hoàng Vũ
- Thư ký phiên tòa: Thị Thúy Kiều - Thư Tòa án nhân dân huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên
Giang: Ông Huỳnh Hải Đăng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng,
tỉnh Kiên Giang xét xử công khai thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ số
88/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ
ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Huỳnh N, sinh năm 1995 (mặt).
2. Bị đơn: Anh Trương Trí H, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đào Thị Hằng, sinh năm 1966 (Mẹ anh H Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Minh Thành A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên
G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 02 năm 2024 trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Huỳnh N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Đỗ Huỳnh N anh Trương Trí H (Sau đây gọi tắt
chị N, anh H) quen biết do mai mối sau một thời gian tìm hiểu cả hai tự
2
nguyện tiến đến hôn nhân năm 2013 và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân
Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang ngày 18/02/2019. Vợ
chồng chị N, anh H chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến, không tiếng nói chung,
không hợp. Anh H không lo làm ăn, chăm sóc vợ, con hàng ngày tụ tập bạn
uống rượu, gia trưởng trong gia đình, mỗi lần uống rượu về nhà kiếm chuyện
chửi mắng chị N. Anh H còn ghen tuông cớ nhiều lần dùng bạo lực đối
với chN; anh H tự quản tiền tiêu xài riêng, bỏ mặc vvà con không quan
tâm. Nhiều lần chị N, anh H hàn gắn nhưng anh không thay đổi, nên sống ly
thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị
N yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị N, anh H 01 người con chung Trương Quốc Hiển,
sinh ngày 17/11/2014, giới tính nam, hiện con đang sống với anh H. Vợ chồng
ly hôn chị N giao con chung Trương Quốc Hiển cho anh H nuôi dưỡng. Chị N
không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Chị N, anh H không tài sản chung, nợ chung
cũng không ai nợ anh, chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn anh
Trương Trí H biết về yêu cầu khởi kiện của chị N nhưng anh H vắng mặt
không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đào Thị Hằng (Mẹ anh H).
Hiện con chung của chị N, anh H cháu Trương Quốc Hiển (Cháu nội
Hằng) đang sống chung với bà Hằng, cùng với anh H.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị N kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh H, do vợ
chồng ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau, mỗi người
sống một nơi; vợ chồng chị N, anh H 01 người con chung Trương Quốc
Hiển, theo nguyện vọng của con thì muốn sống với chị N khi cha mẹ ly hôn. Chị
N đồng ý nuôi con chung Trương Quốc Hiển, chị không yêu cầu anh H cấp
dưỡng nuôi con; chia i sản chung chị N xác định không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng phát biểu
quan điểm:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ vụ án đến thời điểm nghị án,
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện, chấp hành đúng các
3
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn cho chị N được ly hôn với anh H; về con chung cháu Trương Quốc Hiển,
sinh ngày 17/11/2014 tại bản tự khai ngày 11/7/2024 cháu Hiển nguyện
vọng được sống với chN khi cha mẹ ly hôn, nên giao con chung Trương Quốc
Hiển cho chị N nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N
không yêu cầu; chia tài sản chung không có nên miễn xét.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền xét xử: Đây quan hệ tranh chấp vly hôn và nuôi
con chung của vợ chồng chị N, anh H. Bị đơn anh H nơi trú trên địa giới
hành chính huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân
huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trương Trí H được Tòa án triệu tập
tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không do. Căn cứ
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét
xử vụ án vắng mặt anh H.
[3]. Về tham gia tố tụng: Cháu Trương Quốc Hiển con chung của chị N,
anh H. Cháu Hiển đang sống chung với anh H, nhưng anh thường xuyên đi làm
thuê để lại cháu Hiển cho Đào Thị Hằng (Bà nội của cháu Hiển) chăm sóc
nuôi dưỡng. Do đó, Tòa án Thông báo và đưa Hằng vào tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[4]. Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị N, anh H quen biết do mai mối, tự nguyện tiến đến hôn
nhân, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2013 đăng kết hôn trễ
hạn tại Ủy ban nhân dân Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên
Giang ngày 18/02/2019 nên hôn nhân của chị N, anh H là hợp pháp. Lý do chị N
yêu cầu ly hôn do vợ chồng bất đồng ý kiến, không có tiếng nói chung, tính tình
không hợp. Anh H không lo làm ăn thường tụ tập bạn bè uống rượu, mỗi khi
say rượu về nhà thể hiện tính gia trưởng, ghen tuông. Từ đó, anh H nhiều lần
dùng bạo lực đối với chị N. Vợ chồng chị N, anh H nhiều lần hàn gắn nhưng
4
không thành nên tự ly thân từ năm 2019 đến nay và tình trạng mâu thuẫn của vợ
chồng chị N, anh H cũng được chính quyền địa phương xác nhận là đúng.
Tại phiên tòa, HĐXX đã phân tích động viên, hàn gắn nhưng chN kiên
quyết yêu cầu được ly n với anh H. Mâu thuẫn giữa chị N và anh H xảy ra
trong thời gian dài sống ly thân từ năm 2019 đến nay đã hơn 04 năm, cả hai
không phương cách hàn gắn, bỏ mặc để mâu thuẫn kéo dài, mỗi người
sống một nơi, không quan tâm nhau. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N,
anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu ly
hôn với anh H sở để HĐXX chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014, HĐXX thống nhất cho chị N được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị N, anh H 01 người con chung Trương Quốc Hiển
đang sống với anh H, sống chung nhà với Đào Thị Hằng (Bà nội của cháu
Hiển). Tại bản tự khai ngày 11/7/2024 cháu Hiển có nguyện vọng được sống với
chị N khi cha mẹ ly hôn tại phiên tòa chị N yêu cầu được nuôi con chung
Hiển, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. HĐXX nhận thấy, mặc
cháu Hiển đang sống với anh H nhưng anh thường xuyên đi làm, để cháu Hiển
nhà cho Hằng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm c. Chị N mỗi tháng đều gửi
tiền cho Hằng từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ để Hằng nuôi cháu Hiển. Do
vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu H, Tòa án nhiều lần triệu tập bà
Hằng đưa Hằng vào tham gia tố tụng nhưng không đến Tòa án. Xét v
điều kiện nuôi con của chị N, anh H ngang nhau, nhưng cháu Hiển sinh ngày
17/11/2014 đến nay đã hơn 09 tuổi, cháu nguyện vọng được sống với chị N
khi cha mly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm
2014, HĐXX thống nhất giao cháu Hiển cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, đúng
với nguyện vọng của cháu Hiển là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh H
không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N không yêu cầu.
Về chia tài sản chung: Chị Như, anh Hiếu không tài sản chung nợ
chung cũng không ai nợ anh, chị nên không u cầu Tòa án giải quyết,
HĐXX miễn xét.
Xét lời đnghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh
Thượng là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận.
[5]. Về án phí ly hôn: Chị N phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều
147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015.
- Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm
2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Đỗ Huỳnh N được ly hôn với anh Trương Trí H.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Quốc Hiển, sinh ngày 17/11/2014,
giới tính nam cho chị Đỗ Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng.
Buộc anh Trương Trí H Đào Thị Hằng (Bà nội của cháu Hiển)
nghĩa vụ giao cháu Trương Quốc Hiển cho chị Đỗ Huỳnh N nuôi dưỡng. Anh H
không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trương Trí H quyền quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục
nuôi dưỡng con chung không ai quyền ngăn cản nhưng không được lợi dụng
quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi
con.
3. Về chia tài sản chung: Chị N, anh H không tài sản chung, nợ chung
cũng không ai nợ anh, ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn
xét.
Trong trường hợp, sau khi ly hôn phát sinh tranh chấp về quyền tài sản
nợ trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện
dân sự khác.
4. Về án phí ly hôn: Chị Đỗ Huỳnh N phải chịu án phí ly hôn 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo lai thu số 0000621 ngày 15/4/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
5. Báo quyền kháng cáo: Đương sự mặt quyền kháng cáo Bản án
trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt
thì thời hạn kháng cáo 15 ngày ktngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
6
sự, sửa đổi bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Kiên Giang; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Kiên Giang; (Đã đóng dấu, ký tên)
- VKSND huyện U Minh Thượng;
- CCTHADS huyện U Minh Thượng;
- UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
- Các đương sự;
- Lưu HS, văn phòng.
Danh Hoàng
Tải về
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất