Bản án số 325/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 325/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 325/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 325/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Kim L.Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 402/QĐ-VKS-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai).Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 325/2026/DS-PT
Ngày: 06 5 2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Thẩm phán: Võ Thị Thanh Phượng
Ông Nguyễn Văn Nhân
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hòa Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình Thắng Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 382/2024/TLPT-DS ngày 10
tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án n sự thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Tòa án nhân dân khu
vực 6 – Đồng Nai) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 99/2025/QĐ-PT ngày 04
tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 231/2025/QĐ-PT
ngày 27 tháng 3 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi ngày xét xvụ án số:
279/TB-TA ngày 25 tháng 4 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc
thẩm số: 367/2025/QĐPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025; Thông báo về việc thời
gian mở lại phiên tòa số: 1918/TB-TA ngày 18 tháng 12 năm 2025; Quyết định
tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số: 19/2026/QĐPT-DS ngày 15 tháng 01 năm
2026; Thông báo về việc thời gian mở lại phiên tòa số: 53/TB-TA ngày 13 tháng
4 năm 2026 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số: 33/TB-TA
ngày 23 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị Kim L, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ).
2
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn L: Anh Phi H, sinh
năm 1988.
Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ).
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2020)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn L: Luật
Nguyễn Như T, sinh năm 1986 – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (nay là
Đoàn Luật sư thành phố Đ).
Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là Số
I, đường N, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố Đ).
2. Bị đơn: Trần Thị N, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ).
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Lê Trí D, sinh năm 1984.
3.2. Chị Lê Thị Thu H1, sinh năm 1986.
3.3. Anh Lê Phi H, sinh năm 1988.
3.4. Chị Lê Thị Thu H2, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: Ấp A, X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố
Đ).
3.5. Anh Lê Duy T1, sinh năm 1980.
Địa chỉ: E B, ấp E, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là T,
Thành phố Hồ Chí Minh).
3.6. Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1991.
3.7. Chị Lê Thị H3, sinh năm 1986.
3.8. Anh Lê Duy C, sinh năm 1983.
3.9. Anh Lê Duy P, sinh năm 1987.
3.10. Chị Lê Thị H4, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: Ấp A, X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố
Đ).
4. Người làm chứng:
4.1. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố
Đ).
4.2. Anh Lê Phước S, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L.
Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh
Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai).
3
(Bà L, anh H, Luật T, bà N, anh T1, chị Đ có mặt;
Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính của vụ án:
- Nguyên đơn Thị Kim L do anh Phi H đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Năm 1986, cha mẹ chồng của Thị Kim L cho L một miếng đất
diện tích 1.200m
2
. L gia đình sử dụng ổn định đến năm 1993 tiến hành đăng
ký, khai. Đến năm 1997, Nnước mở một kênh mương nước nội đồng đi
ngang qua đất của bà L nên chia phần đất của bà L làm hai phần.
Đến năm 1999, Nhà nước cấp lại Giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho
L sau khi đã mở con mương thì phần đất của L được cấp giấy 694m
2
thuộc thửa đất số 61, tờ bản đsố 113 (là thửa 558, tờ bản đồ số 12A cũ), xã X
đứng tên hộ bà Lê Thị Kim L. Hiện nay, trên phần đất còn lại chưa được cấp giấy
01 căn nhà L trồng tràm trên phần đất. Cạnh đất của L đất của
Trần Thị N đang sử dụng.
Tại đơn kiện ngày 17/6/2020, L yêu cầu N trả lại phần đất đã lấn chiếm
của bà L có diện tích là 108m
2
thuộc thửa số 558, tờ bản đồ 12A, xã X.
Qua quá trình làm việc sau khi đo vẽ căn cứ theo Bản vẽ của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai Chi nhánh X ngày 19/12/2022, L
xác định phần đất có diện tích 429,3m
2
tại các mốc (1, 2, 3, 4, 1) là phần đất hiện
nay bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số và phần đất có diện
tích 274,1m
2
tại các mốc (5, 6, b, c, d, 12, 13, 5) thuộc phần đất hiện nay L
đang sử dụng. Đồng thời, các phần diện tích đất chưa được cấp giấy gồm: 178m
2
tại các mốc (7, f, e, b, a, 7), 99.6m
2
tại các mốc (e, f, 11, 12, e), 0.5m
2
tại các mốc
(a, b, 6, a) thuộc phần đất trước đây của L nhưng do Nhà nước cấp thiếu sau
khi làm mương nước nên bà khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Trần Thị N phải trả lại
cho bà 278.1m
2
thuộc thửa đất số 34, 35 và 36, tờ bản đố số 113, X (các thửa
đất cũ là 162, 163 tờ bản đồ 12A, xã X).
- Bị đơn bà Trần Thị N trình bày:
Chồng ông Duy D1 (đã chết năm 2018) đã được Ủy ban nhân dân
huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O111221 ngày 17/3/1999 đối
với các thửa 522, 521, 526, tờ bản đồ số 12A và thửa 66, tờ bản đồ số 12B.
Sau khi ông D1 chết, các con làm thủ tục thừa kế thống nhất để nhận
thừa kế và đứng tên trên Giấy chứng nhận nên ngày 29/10/2009 được cập nhật
thay đổi chủ sử dụng. Riêng thửa đất số 66, tờ bản đồ 12B đã được nhà nước thu
4
hồi và cấp đổi giấy chứng nhận. Còn tờ bản đồ 12B đổi thành tờ bản đồ số 49, tờ
bản đồ 12A đổi thành tờ bản đồ 42.
Phần đất còn lại bà đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì không diện tích bao nhiêu. Đến năm 2020, làm thủ tục kê
khai để được cấp giấy chứng nhận tanh Phi H con L tranh chấp nên
chưa được cấp giấy chứng nhận. không phần đất của chưa được cấp sổ
là bao nhiêu nhưng từ khi chồng bà mất đến nay thì bà vẫn đang sử dụng canh tác
phần đất này. Liền kề với đất của bà anh H con L trồng tràm trên phần
đất của L, sau đó L cho rằng lấn đất của L, khi cho rằng lấn hơn
100m
2
, có khi cho rằng lấn 278.1m
2
, tuy nhiên bà L đã được Nhà nước cấp Giấy
chứng nhận và đã diện tích 694m
2
hiện nay L đang sdụng đúng phần
đất của bà L. Mặc dù có con mương đi ngang qua đất bà L nhưng từ lâu bà L vẫn
sử dụng và có bờ ranh ngăn cách hai bên, bản thân bà vẫn đang canh tác trên đất
của bà, không lấn sang đất của bà L.
Theo Bản vẽ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai chi
nhánh X ngày 19/12/2022 thì đất của L gồm: 429,3m
2
tại các mốc (1, 2, 3, 4,
1) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 274,1m
2
tại các mốc (5, 6,
b, c, d, 12, 13, 5) thuộc phần đất hiện nay bà L đang sử dụng.
Tuy nhiên, bà L khởi kiện và cho rằng phần đất của bà L phải thêm 278.1m
2
gồm: 178m
2
tại các mốc (7, f, e, b, a, 7), 99.6m
2
tại các mốc (e, f, 11, 12, e), 0.5m
2
tại các mốc (a, b, 6, a) và yêu cầu bà phải trả lại thì bà hoàn toàn không đồng ý vì
phần đất trên không thuộc trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L
L không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh đất của bà L. Phần
đất trên vẫn sử dụng từ trước đến nay đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận
thì bị bà L tranh chấp nên chưa được cấp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trí D, chị Lê Thị
Thu H1, anh Lê Phi H và chị Lê Thị Thu H2 trình bày:
Các anh chị con của L, phần đất L được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tài sản của bà L được nhận do bên cha mẹ chồng cho nên
các anh chị không tranh chấp hay có yêu cầu độc lập gì.
Các anh chị đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc xét xử tại phiên
tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Đ, chị Lê Thị
H3, anh Lê Duy C, anh Lê Duy P, anh Lê Duy T1 và chị Lê Thị H4 trình bày:
Các anh chị con của bà Trần Thị N ông Duy D1, ông D1 đã chết
năm 2018. Nay L khởi kiện N cho rằng N lấn đất của bà L là các anh ch
không đồng ý.
5
Các anh chị không tranh chấp hay yêu cầu độc lập cả. Các anh chị
đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa.
2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024,
Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Tòa án nhân dân khu
vực 6 Đồng Nai) đã căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị
Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án; Điều 7 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T2
quy định về hồ sơ địa chính; Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Thị Kim L về việc buộc
Trần Thị N phải trả lại phần đất lấn chiếm 278.1 m
2
tại các mốc giới (7,f,e,b,a,-
7) có diện tích 178 m
2
thuộc thửa 36 tờ bản đồ số 113; các mốc giới (e, f,11,12, -
e) có diện tích 99.6 m
2
thuộc thửa 34 tờ bản đồ số 113, các mốc (a,b,6, -a) có diện
tích 0.5 m
2
thuộc thửa 35 tờ bản đồ số 113 (theo bản vẽ của Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất – Chi nhánh X đo vẽ ngày 09/12/2022).
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của các đương sự theo luật định.
3. Kháng cáo của nguyên đơn:
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn bà Lê Thị Kim L kháng cáo đề nghị
cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23
tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay
Tòa án nhân dân khu vực 6 Đồng Nai) để xét xử lại với do Toà án cấp sơ
thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ, chưa xác minh nguồn gốc đất,
chưa xác minh ranh mốc cây tràm, bụi tre chưa làm việc thu hồi đền
đất đối với thửa đất 558, tờ bản đồ số 12A mà bà đề cập trong đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
4. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Đồng Nai):
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 402/QĐ-VKS-DS ngày 05 tháng 9
năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
(nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Đồng Nai) đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm hủy Bản án dân sự thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Tòa án nhân dân
6
khu vực 6 – Đồng Nai) do thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng
Nai giữ nguyên nội dung Kháng nghị.
5. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn:
Nguyên đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn
phần đất đã lấn chiếm diện tích 278.1m
2
. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, sau khi
tiến hành đo vẽ lại, căn cứ Phiếu đo đạc, chỉnh thửa đất ngày 11/9/2025 của
Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ thể hiện phần đất N lấn chiếm của L
diện tích 779,6m
2
nên đề nghị cấp phúc thẩm xem xét buộc bị đơn phải trả lại cho
nguyên đơn toàn bộ diện tích 779,6m
2
đất này.
Phần diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nguồn gốc
từ cha mẹ chồng cho, sử dụng ổn định.
Đối với Văn bản số 428 ngày 20/3/2026 và Văn bản số 478 ngày 30/3/2026
của Ủy ban nhân dân xã X xác định về nguồn gốc đất thửa đất số 34, 36 - tờ bản
đồ số 113, xã X (nay là tờ bản đồ số 224, xã X) do gia đình bà N khai phá là mâu
thuẫn với chính lời khai của N cho rằng đất mua của một người bạn vào năm
1986; đồng thời Ủy ban nhân dân xã X ng đã xác định thửa đất số 34 36 trên
đất sử dụng không ổn định hiện đang tranh chấp. Do vậy, không căn cứ cho
rằng đất này do N sử dụng ổn định.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị
đơn phải trả lại cho nguyên đơn toàn bộ phần đất có diện tích 779,6m
2
.
6. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đồng Nai tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại
phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của
pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa
vụ theo quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Cấp thẩm chưa xác minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng phần đất các
bên tranh chấp; không thu thập hồ đăng khai xin cấp cấp đổi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L N; không xác minh làm các thửa
đất số 161, 162, 163, 168, tờ bản đồ số 12A, X do L sử dụng các thửa
526, 522, 521 tờ bản đồ số 12A; thửa 66 tờ bản đồ số 12B, xã X do bà N sử dụng
hiện nay các thửa đất nào chỉ căn cứ vào Bản đồ hiện trạng khu đất số
7
7172/2022 ngày 09/12/2022 của Văn phòng Đ Chi nhánh X đo vẽ để xác định
thửa đất đất 558, tờ bản đồ số 12A, xã X (hiện nay là thửa đất số 61 và 35, tờ bản
đồ số 113) thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Việc cấp thẩm căn cứ vào việc
bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 558, tờ bản đồ s
12A, X với diện tích 694m
2
tương ứng với phần đất hiện nay L đang sử
dụng nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là chưa có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, tuy đã các Văn bản số 428 ngày 20/3/2026 Văn
bản số 478 ngày 30/3/2026 của Ủy ban nhân dân X thể hiện các thửa đất số
161, 162, 163, 168 - tbản đồ số 12A, X do Thị Kim L sử dụng,
tương ứng thuộc một phần thửa đất số 72 tờ bản đồ địa chính 106 xã X (nay là
tờ bản đồ số 217 xã X) và các thửa đất số 526, 522, 521 – tờ bản đồ số 12A, X
do Thị Kim L sử dụng, tương ứng thuộc thửa đất số 31 – tờ bản đđịa chính
113, xã X (nay là tờ bản đồ số 224, xã X); thửa đất số 34, 36 tờ bản đồ số 113,
X (nay tờ bản đồ số 224, X) nguồn gốc của Trần Thị N, do N
đăng kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa đủ điều kiện
xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất do đất sdụng không ổn định
hiện đang tranh chấp nhưng chưa thu thập hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn để xác định chính xác phần diện tích đất
tranh chấp.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 3, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
Thị Kim L; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện
Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai)
theo hướng hủy bản án dân sthẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Tòa án nhân
dân khu vực 6 – Đồng Nai) để giải quyết lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Đơn kháng cáo của
Thị Kim L làm trong hạn luật định, đương sự thuộc trường hợp được miễn
đóng tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định nên kháng cáo được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
Căn cứ Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Quyết định kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm
8
sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai) làm trong hạn luật định nên kháng nghị được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn căn cứ Phiếu đo đạc, chỉnh lý thửa đất ngày
11/9/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thay đối yêu cầu kháng cáo buộc
N trả lại cho bà L phần đất có diện tích 779,6m
2
là vượt quá phạm vi yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ phạm vi xét xử phúc thẩm,
không xem xét đối với phần diện tích đất tăng thêm so với cấp thẩm đã giải
quyết.
[2] Về nội dung vụ án và nội dung kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị N
phải trả cho L din tích 278,1m
2
đất gồm: 178m
2
được giới hạn bởi các mốc
(7, f, e, b, a, 7); 99,6m
2
được giới hạn bởi các mốc (e, f, 11, 12, e) và 0,5m
2
được
giới hạn bởi các mốc (a, b, 6, a) thuộc thửa đất 162, 163, 165 - tờ bản đồ 12A,
X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay thửa số 34, 35, 36 tờ bản đố số 224, X,
tỉnh Đồng Nai).
Bị đơn Trần Thị N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
không có yêu cầu phản tố.
Xét nguồn gốc, quá trình sử dụng của phần đất đang tranh chấp:
Theo bà L trình bày, gia đình sử dụng các thửa 161, 162, 163 168, tờ
bản đồ số 12A, X. Đến năm 1997, Nhà nước thu hồi một phần đất của để
mở mương nước. Sau đó ngày 27/02/1999, Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng dất số O092438 cho hộ Lê Thị Kim L đối với thửa đất số 558, tờ bản đồ
số 12A, X diện tích 694m
2
(là thửa 168 cũ) nay thửa đất số 61 tờ bản
đố số 224, xã X, tỉnh Đồng Nai; còn các thửa 161, 162, 163 chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị gia đình bà N lấn chiếm.
Đối với phần đất N đang quản sử dụng, theo N khai trước đây chồng
bà là ông Lê Duy D1 đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số O111221 ngày 17/3/1999 đối với các thửa là 526, 522, 521 – tờ bản đồ số 12A
thửa 66 tờ bản đồ số 12B, X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi ông D1
chết, các con thống nhất cho ý thừa kế toàn bộ phần đất trên được cập
thay đổi tên trên Giấy chứng nhận vào ngày 29/10/2009 đối với các thửa đất. Đối
với thửa đất số 66 tờ bản đồ 12B đã được Nhà nước thu hồi ngày 01/12/2004; còn
tờ bản đồ 12B được chỉnh lý thành tờ bản đồ số 49, tờ bản đồ 12 A tờ bản đồ
42.
Tại Văn bản số 428 ngày 20/3/2026 của Ủy ban nhân dân xã X cho biết: Các
thửa đất số 34 và 36, tờ bản đồ số 113 Xuân Tâm cũ có nguồn gốc: Các thửa đất
trên do bà Trần Thị N quản lý và sử dụng. Nguồn gốc do gia đình bà Trần Thị N
9
khai phá năm 1986. Hiện trạng thửa đất theo bản đồ địa chính hiện nay thuộc thửa
đất số 34, 36 tờ bản đồ số 113, X cũ nay là tờ bản đồ 224 X, đất trồng cây
hàng năm.
Theo Văn bản số 478 ngày 30/3/2026, Ủy ban nhân dân xã X xác định:
- Các thửa đất số 161, 162, 163, 168 – tờ bản đồ số 12A, xã X cũ tương ứng
thuộc một phần thửa đất số 72, tờ bản đồ địa chính 106 xã X cũ nay là tờ 217
X mới.
- Các thửa đất số 526, 522, 521 tbản đồ số 12A X ơng ứng thuộc thửa
đất số 31, tờ bản đồ địa chính 113 xã X cũ nay là tờ 224 xã X mới.
- Thửa đất số 66 tờ bản đồ số 12B xã X tương ứng thuộc thửa đất số 106, tờ
bản đồ địa chính 113 xã X cũ nay là tờ 224 xã X mới.
- Thửa đất số 34, 36 tờ bản đồ địa chính 113 X cũ nay là tờ 224 X mới
do Trần Thị N đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo
dữ liệu đăng ký kê khai bản đồ địa chính thành lập năm 2012), đất trồng cây hàng
năm chưa đđiều kiện xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đất sử
dụng không ổn định hiện đang tranh chấp.
Như vậy, các thửa đất số 161, 162, 163, 168 – tờ bản đồ số 12A, X, huyện
X, tỉnh Đồng Nai trước đây do L sử dụng nay thửa đất số 72, tờ bản đồ số
217, xã X, tỉnh Đồng Nai mới trong khi phần đất 278.1m
2
nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu bị đơn trả lại thuộc thửa đất số 34, 35 36, tờ bản đồ số 224 X. Đồng
thời, các thửa đất số 34, 36 tờ bản đồ số 224 X nguồn gốc do gia đình
Trần Thị N khai pvà bà N người đăng khai cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. L không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào thể hiện phần đất
diện tích 278.1m
2
trên thuộc quyền sử dụng của mình nên không căn cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, không căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 6 Đồng Nai) về việc hủy bản án thẩm không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn về việc sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của L không được chấp nhận nên L phải chịu tiền
án phí dân sự thẩm. Tuy nhiên, L thuộc trường hợp người cao tuổi nên miễn
án phí cho bà L.
[3.2] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Kim L không được chấp nhận nên
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà L người cao tuổi đơn
10
xin miễn án phí nên căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án; miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà L.
[4] Về chi phí tố tụng:
Tại cấp sơ thẩm, bà L tạm ứng số tiền 16.600.000 đồng bao gồm: 3.000.000
đồng chi phí xem xét tại chỗ, 2.000.000 đồng chi phí đo đạc, 11.600.000 đồng chi
phí định giá, do yêu cầu cầu của L không được chấp nhận nên L phải chịu
toàn bộ chi phí tố tụng này.
Tại cấp phúc thẩm, L tạm ứng số tiền 9.500.000 đồng chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ đo đạc, do kháng cáo của bà L không được chấp nhận nên
L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này.
[5] Quan điểm của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu tại hồ sơ quy định của pháp luật
nên không được chấp nhận.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa phù hợp một phần với các chứng cứ, tài liệu tại hồ sơ quy định
của pháp luật nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn Lê Thị Kim L.
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 402/QĐ-VKS-DS
ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Đồng Nai).
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Tòa án nhân
dân khu vực 6 – Đồng Nai).
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Luật Đất đai năm
2013; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử
dụng án phí lệ phí Tòa án; Điều 7 Thông số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 của Bộ T2 quy định về hồ sơ địa chính.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim L về việc buộc
Trần Thị N phải trả lại phần đất lấn chiếm là 278,1m
2
đất gồm: 178m
2
được giới
11
hạn bởi các mốc (7, f, e, b, a, 7); 99,6m
2
được giới hạn bởi các mốc (e, f, 11, 12,
e) và 0,5m
2
được giới hạn bởi các mốc (a, b, 6, a) thuộc thửa đất 162, 163, 165 -
tờ bản đồ 12A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là thửa số 34, 35, 36 – tờ bản đồ số
113, X, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo bản vẽ của Văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất Chi nhánh X ngày 09/12/2022 (nay thửa số 34, 35, 36 tờ bản đ
số 224, xã X, tỉnh Đồng Nai).
2. Về chi phí tố tụng:
L phải chịu toàn bộ chi phí ttụng 26.100.000 đồng (hai mươi sáu
triệu một trăm nghìn đồng). Bà L đã nộp xong.
3. Về án phí:
3.1. Án phí sơ thẩm:
Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
nhưng do L thuộc quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án; nên bà L được miễn nộp án phí.
Hoàn trả cho bà L số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã
nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền s0009335 ngày 17/6/2022 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 6 – Đồng Nai).
3.2. Về án phí phúc thẩm:
Lê Thị Kim L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 6 – Đồng Nai (2);
- Phòng THADS KV 6 Đồng Nai;
- UBND xã Xuân Hòa, TP Đồng Nai;
- Các Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Bùi Lan Hương
Tải về
Bản án số 325/2026/DS-PT Bản án số 325/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 325/2026/DS-PT Bản án số 325/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất