Bản án số 48/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 48/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 48/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 48/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 48/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 48/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Đồng VĂn T- Lê Thanh K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 48/2026/DS-PT
Ngày: 30/03/2026
V/v: “Tranh chấp ranh giới QSD đất,
bồi thường thiệt hại về tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Truyền.
Bà Vũ Thị An.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án
nhân dân tỉnh Thái nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 03 năm 2026, tại Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 190/2025/TLPT-DS ngày
13/11/2025 về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất; bồi thường thiệt hại
về tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐ-PT ngày 05 tháng 01
năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đồng Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Kim
H, sinh năm 1961; cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường H, thành phố P, tỉnh
Thái Nguyên (nay là tổ dân phố D, phường P, tỉnh Thái Nguyên). Ông T, bà H
có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh
năm 1978; địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh K, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố D,
phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P), tỉnh Thái Nguyên.
Có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đồng Thị H1, sinh năm 1971. Có mặt.
3.2. Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 2000. Có mặt.
2
3.3. Anh Lê Thành Đ, sinh năm 2007. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường H (nay là phường P), tỉnh Thái
Nguyên.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Đồng Công V, sinh năm 1959. Có mặt.
4.2. Ông Trần Văn M, sinh năm 1958. Có mặt.
4.3. Ông Đồng Văn C, sinh năm 1959. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đồng Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/7/2023, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày
16/12/2024, bản tự khai, biên bản hoà giải nguyên đơn ông Đồng Văn T và bà
Nguyễn Thị Kim H và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông T là
bà Nguyễn Thị Thanh N đồng quan điểm trình bày:
Gia đình ông T, bà H có thửa đất số 625, tờ bản đồ số 104, diện tích
370m
2
(đất thổ cư), được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 21/6/1993, mang tên ông Đồng Văn T. Trên đất năm 1995
gia đình ông, bà đã xây 01 ngôi nhà cấp 4 (nhà ống, tầng trên lợp ngói), phần
móng của ngôi nhà xây theo hình tháp (móng cân). Khi xây nhà ông bà không
xây sát đất nhà ông K bên cạnh mà để lại khoảng từ 50 đến 70 cm (tính từ mép
ngoài của móng). Hộ gia đình ông K ở giáp đất của bà ông bà về phía Bắc, năm
2012 ông K xây quán trên đất đã lợp lấn phần mái, phần nền sang đất nhà ông
bà, diện tích lấn khoảng từ 50 - 70cm, ông bà yêu cầu ông K dỡ bỏ phần mái,
phần nền xây lấn nhưng ông K chỉ hứa, khất lần không thực hiện. Hiện tại phần
nền, phần mái của quán nhà ông K lấn sang đất nhà ông bà khoảng 50 đến
70cm (chiều rộng), chiều sâu hết đất dài khoảng 29 m đến 31m. Ngày
05/5/2023 gia đình ông K xây nhà to trên đất, ở phía sau phần quán, giáp bếp
nhà ông bà, khi đào móng đã tự ý chém, đục móng, đổ bê tông chồng lên móng
nhà ông bà, lấn chiếm đất của gia đình ông bà dẫn đến hiện nay tường nhà ông
bị nứt dọc theo tường nhà, nhà tắm khoảng từ 8 đến 10 mét.Tại thời điểm ông
K đào móng ông bà đã yêu cầu ông K đào móng đúng ranh giới giữa 2 nhà,
nhưng khi ông không có mặt, ông K lại cho thợ đào lấn khoảng 65cm, ông báo
cáo tổ trưởng tổ dân phố, tổ dân phố đến chỉ nhắc nhở ông K không được đào
lấn, nhưng không lập biên bản. Ông K hứa khi đổ móng sẽ đổ đúng ranh giới
giữa 2 nhà. Ngày 07/5/2023 nhà ông K xây xung quanh móng để đổ giằng
móng thì đã đập gạch móng của nhà ông bà để xây tường nhà ông K sát tường
nhà ông bà. Ông bà báo cáo tổ dân phố ra ngăn cản không được xây nhưng do
ông K đã xây móng rồi nên tổ dân phố lập biên bản sự việc về việc ông K đã
xây lấn sang móng nhà ông bà 20 cm sau đó chuyển lên phường giải quyết.
3
Ngày 09/5/2023 ông T có đơn gửi Ủy ban nhân dân phường H đề nghị giải
quyết, Ủy ban nhân dân phường đã đến tận nơi yêu cầu ông K ngừng thi công.
Ngày 11/5/2023 vợ chồng ông K sang xin lỗi gia đình ông bà, khóc, hứa và đề
nghị ông rút đơn và hứa trả lại đất lấn chiếm, phần đã xây thì trả lại ở vị trí
khác, do vậy ông bà đã đồng ý tha thứ và rút đơn. Nhưng ngày 12/5/2023 trong
khi ông không có nhà ông K lại tiếp tục cho đổ móng nhà trùm lên móng nhà
cũ của gia đình ông bà, không thực hiện những cam kết trước đó và còn có
những lời lẽ xúc phạm ông bà.
Do ông K đã xây nhà lấn chiếm đất của ông bà nên ông bà đề nghị Tòa án
giải quyết buộc ông K phải trả lại phần đất cho gia đình ông bà: Chiều rộng
65cm, vị trí giáp ranh giữa đất của ông bà và nhà ông K, chiều dài kéo dài hết
đất của gia đình ông bà khoảng 29 đến 31 mét, diện tích đất khoảng 18 m
2
đến
24 m
2
.
Ngoài ra, khoảng năm 2023 ông Lê Thanh K xây nhà, trong quá trình xây
nhà, ông K đã cho người múc vào phần móng nhà của ông bà, làm vỡ 05 ống
thoát nước, đồng thời do múc đất vào phần móng của nhà ông bà nên đã dẫn
đến tình trạng mất an toàn, gây sụt lún, nứt tường của nhà ông bà và thiệt hại
đến tài sản của gia đình ông bà. Nhà của ông bà xây dựng năm 2020, trước khi
ông K xây nhà thì gia đình ông sử dụng hoàn toàn bình thường, không có vấn
đề gì. Đến nay do những hành động mà gia đình ông K gây ra thì nhà của ông
bà đã bị hư hỏng, gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của ông bà. Thời điểm
ông bà xây nhà có đầu tư khoảng 500.000.000 đồng. Nay ông bà yêu cầu ông
K bồi thường do việc phá 05 ống thoát nước nước trị giá 20.000.000 đồng (hai
mươi triệu đồng); Bồi thường việc đào móng, đục móng, chém móng, đổ chồng
móng lên móng nhà ông bà dẫn đến hiện nay nhà ông đang bị sụt lún, nứt
tường, nứt nền nhà kéo dài toàn bộ phần nền bếp trị giá 300.000.000 đồng (ba
trăm triệu đồng).
Căn cứ khởi kiện là: Biên bản hòa giải ngày 07/5/2023 của tổ dân phố D
có tổ trưởng và tổ phó đến lập biên bản và trong biên bản này xác định ngày
5/5/2023 ban quản lý của tổ dân phố và đại diện hai gia đình chứng kiến thống
nhất bằng lời nói là bên dưới sâu khoảng 01 mét phần móng nhà ông T có phần
móng nhô ra so với mặt phẳng của tường khoảng 15 đến 20 cm nói thuộc đất
của ông T. Phía ông K nói khi xây móng sẽ chừa lại không xây vào phần móng
thừa ra của nhà ông T và tại buổi làm việc ngày 07/5/2023 thì Ban quản lý, tổ
dân phố đã xác nhận nhà ông K đã xây đè lên móng nhà ông T. Trong biên bản
này đã có tổ trưởng, tổ phó và gia đình nhà ông T đã ký vào biên bản và tại
biên bản ngày 27/6/2023 của Ủy ban nhân dân phường H, lúc đầu hòa giải
không thành nhưng sau đó đã hòa giải thành thì hai gia đình đã thống nhất
được vì lúc đó nền nhà và tường nhà chưa bị nứt và trong biên bản này ông T
và ông K cũng đã thống nhất là ông T đồng ý là ngay sau khi ông K cắt và phá
bỏ phần đất lấn chiếm. Sau đó ông K không thực hiện. Nên ông T tiếp tục khởi
kiện và căn cứ vào hai biên bản này thì xác định phần đất gia đình nhà ông T
có diện tích chừa lại là có căn cứ và căn cứ vào biên bản đo đạc của Công ty
4
Đ1 vào ngày 27/5/2025 thì thấy rằng phần diện tích ở phía trước của nhà ông T
vẫn còn hơn 1,4 mét và đây là diện tích đang tranh chấp và ngoài ra còn phần
diện tích gia đình nhà ông K đã xây chắn và còn khe hở thể hiện trên bản đồ và
biên bản định giá tài sản đều xác định giá của hai ngôi nhà. Căn cứ những tài
liệu và chứng cứ nêu trên thì thấy yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ đề
nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T bà H. Bà H xác định mỗi
ống nước trị giá 6.000.000đồng (kể cả công lắp đặt).
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn đề nghị và tại phiên tòa bị đơn
ông Lê Thanh K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị H1
đồng quan điểm trình bày: Gia đình ông có thửa đất 626, tờ bản đồ số 104,
diện tích 320m
2
nguồn gốc là của bố mẹ đẻ ông được cấp từ năm 1989 đến
năm 1990 bố mẹ ông đã xây nhà cấp bốn tại vị trí quán bán hàng của gia đình
ông hiện nay và đến năm 1991 bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông ra ở riêng.
Năm 1993 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất này của
nhà ông về phía Nam giáp với thửa đất 625, tờ bản đồ số 104 của nhà ông T.
Năm 2012 ông phá nhà cũ mà bố mẹ ông đã xây để làm quán và phần mái tôn
ông có làm áp sát vào phần tường nhà trên của nhà ông K, lúc đó ông K cũng
nhất trí không có ý kiến gì. Hiện nay vẫn còn móng cũ nhà cấp 4 của gia đình
ông và mốc ranh giới cũ (ông đã có hình ảnh chụp lại). Gia đình ông ra ở trên
đất đó trước nhà ông T. Năm 1993 gia đình ông T mới ra ở và xây căn nhà giáp
với trục đường 261, các công trình còn lại ông T xây về sau và xây làm nhiều
lần. Quá trình sử dụng các bên không xảy ra tranh chấp khiếu kiện gì cho đến
khi gia đình ông mua được thửa ruộng 260 liền kề với đất gia đình ông và gia
đình ông T ở phía sau, thì gia đình ông T liên tục gây khó dễ, có những lời nói
xúc phạm nhà ông. Nói nhà ông ăn chặn đường đi tại thửa ruộng nhà ông mua
liền kề… Ông T đã gửi đơn kiến nghị nhà ông. Các cấp chính quyền giải quyết
vào tháng 8 năm 2020. Gia đình ông đã thiện chí hòa giải và cho gia đình ông
T sang đào đất, xác định ranh giới và đổ mốc bê tông, mốc cũ của móng nhà
cấp 4 của gia đình ông và gia đình ông T vẫn còn. Nhà cũ nhà ông T xây móng
cân và có để lại hẹ móng và xây các công trình về hết đất, ranh giới giữa hai
bên đã được xác định rõ ràng. Còn về ống thoát nước về phía sau của nhà ông
T, do phần sau nhà ông trước đây chưa xây nhà kiên cố nên có cho nhà ông T
để nhờ hai ống thoát nước từ téc bể nước nhà ông T xuống chạy dọc về phía
sau khoảng 08 đến 09 mét sau đó bắt vào bể biôga nhà ông T và ông có giao
hẹn với ông T khi nào gia đình ông làm nhà thì gia đình ông T phải tháo bỏ hai
ông thoát nước này đi. Hai bên chỉ nói mồm, không lập thành văn bản. Từ rất
lâu rồi, gia đình ông T cũng đã đổ mốc bê tông giáp ranh giữa 2 nhà để xác
định ranh giới, hiện nay giữa hai thửa đất, hai nhà vẫn còn một cột bằng sắt
chôn sâu xuống đất để làm ranh giới xác định giữa hai nhà, hai thửa đất từ
điểm mốc đó kéo thẳng đến điểm cuối của móng cũ nhà ông là ranh giới của cả
hai nhà.
Năm 2023 gia đình ông xây nhà mới trên đất, phần móng gia đình ông đã
làm thẳng từ trên xuống dưới hết đất của gia đình ông. Tại phần quán thì ông
đã xây tường lửng bằng gạch và phần trên ngăn bằng tấm tôn tính từ trục
5
đường 261 kéo thẳng đến cột nhà mới của nhà ông. Phần nhà chính khi xây
dựng ông cũng đã đào móng và xây giáp với phần tường nhà ông T. Tuy nhiên
khi gia đình ông xây dựng thì gia đình ông T lại kiện gia đình ông xây lấn đất
nhà ông T, trong khi nhà ông T xây lại nhà trước nhà ông và đã xây hết đất. Về
đường ống nước, trước đây khi nhà ông còn đang là nhà nhỏ thì gia đình ông
chưa xây hết đất (có phần hẹ móng làm ranh giới giữa hai nhà). Khi ông T xây
nhà thì có sang hỏi nhờ gia đình ông để phần đường ống nước sang phần đất
nhà ông, hứa sau này khi nhà ông xây nhà thì ông T sẽ bỏ phần ống nước đó đi.
Nên khi gia đình ông xây nhà đã sang nhiều lần yêu cầu gia đình ông T thu hồi
phần ống nước đó để cho gia đình ông xây dựng thì gia đình ông T không
nghe, do nhiều lần nói không được thì trong quá trình thuê máy múc để múc và
dọn dẹp thì đã bỏ phần ống nước nằm hoàn toàn trên đất của nhà ông nên ông
không đồng ý yêu cầu bồi thường thiệt hại như ông T đã trình bày gia đình ông
phá của nhà ông T 05 ống nước là không đúng mà chỉ có 02 ống nước loại phi
90 chiều dài khoảng từ 8 đến 9 mét. Đối với việc ông T yêu cầu ông bồi thường
số tiền 300.000.000đồng cho rằng gia đình ông đào móng đã chém móng, đục
móng nhà ông T gây lún nền, nứt tường nhà tắm và nhà bếp nhà ông T là
không có căn cứ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày: 28/9/2025 V/v:
“Tranh chấp quyền sử dụng đất, Ranh giới quyền sử dụng đất; Bồi thường
thiệt hại về tài sản” của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết
định:
Căn cứ Điều 26, điều 35, 39, điều 147, 157, 165, 166, 271, 273 Bộ luật tố
tụng dân sự; Điều 265 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 175 Bộ luật dân sự năm
2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBIVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Đồng
Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H về yêu cầu khởi kiện ông Lê Thanh K về tranh
chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất, đòi
bồi thường thiệt hại về tài sản.
1.1. Xác định ranh giới của thửa đất 625 và 626 thuộc tờ bản đồ số 104 vị
trí thửa đất tại tổ dân phố D, phường H (nay là phường P), tỉnh Thái Nguyên
được thể hiện qua các điểm sau đây: 1, 2, 3, 4, 5, 5a, 6, 7, 41, 20, 6a, 5b, 2a, 19,
có diện tích là 4,2 m
2
đất thổ cư (thể hiện trên sơ đồ là diện tích phần 2) thuộc
phần đất và quyền sử dụng của ông Đồng Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H tại
thửa đất số 625, tờ bản đồ số 104. Buộc ông Lê Thanh K, bà Phạm Thị H2, chị
Lê Thị Hải Y và anh Lê Thành Đ phải trả lại cho ông Đồng Văn T và bà Nguyễn
Thị Kim H diện tích đất nêu trên (có sơ đồ chi tiết kèm theo);
1.2. Xác định Ranh giới giữa hai thửa đất 625 và 626 thể hiện qua các điểm
41, 8, 9, 10, 11, 12; 24, 23, 22, 21, 20, 41 diện tích là 1,2 m
2
đất thổ cư (thể hiện
6
trên sơ đồ diện tích phần 1) thuộc phần đất của thửa 626 nhà ông Lê Thanh K và
bà Đồng Thị H1. Buộc ông Đồng Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H phải trả lại
cho ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 diện tích đất nêu trên (có sơ đồ chi tiết
kèm theo).
Các bên có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
điều chỉnh diện tích đất tại thửa 625, 626 và ranh giới thửa đất theo đúng hiện
trạng sử dụng đất.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Đồng
Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H buộc ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 phải
có trách nhiêm liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đồng Văn T và
bà Nguyễn Thị Kim H trị giá 02 ống thoát nước và công sửa chữa là
5.000.000đồng (năm triệu đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Văn T và bà Nguyễn
Thị Kim H đối với ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 về việc buộc ông K, bà
H1 phải bồi thường số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) do nứt tường,
lún nền và 15.000.000 đồng phần yêu cầu bồi thường ống nước không được
chấp nhận và phần đất trả lại cho nhà ông K 1,2 m
2
trị giá là 7.800.000 đồng.
Tổng cộng khoản tiền ông T và bà H không được chấp nhận là 322.800.000đồng
(ba trăm hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông K, bà H1 không thi hành
được khoản tiền bồi thường cho ông T, bà H. Ông T, bà H có đơn đề nghị thi
hành án thì hàng tháng ông K, bà H1 phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa
vụ thi hành án theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và đo đất: Buộc ông Đồng
Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm
nghìn đồng); ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 phải chịu 6.600.000 đồng.
Ông T đã nộp tạm ứng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nên ông K, bà H1
phải có trách nhiệm trả lại cho ông T số tiền 6.600.000 đồng (sáu triệu sáu trăm
nghìn đồng).
5. Về án phí: Buộc ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 phải liên đới chịu
1.615.000 đồng (một triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) án phí tài sản có giá
ngạch để nộp ngân sách nhà nước. Miễn toàn bộ án phí có giá ngạch là
16.140.000 đồng (mười sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) cho ông Đồng
Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quy định về quyền kháng cáo và thi hành án
theo quy định.
Ngày 08/10/2025 nguyên đơn ông Đồng Văn T kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Thái Nguyên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 23/2025/DS-
ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
7
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên nội
dung kháng cáo và có ý kiến cho rằng: Bản án sơ thẩm xét xử thiếu khách quan,
thiếu chính xác nên đã tuyên bản án không đúng quy định, cụ thể:
+ Ngay khi ông K phá móng, lấn chiếm đất, ông T đã báo TDP Diện. Ngày
5/5/2023 tổ dân phố D đã đến hiện trạng xem xét và yêu cầu ông K xây đúng
hiện trạng đất thì ông K hứa với TDP và hứa với gia đình ông T là không xây đè
lên móng nhà ông T, tôn trọng móng giật cấp của ông T. Tuy nhiên ngày
7/5/2023 ông K tiếp tục đổ giằng móng vào móng nhà ông T nên ông T báo tổ
dân phố D.
+ Ngày 7/5/2023, tổ TDP Diện lập biên bản sự việc xác định: Ông K đã
xây móng đè lên phần móng nhà ông T và không có hiện tượng nứt nền, nứt
tường nhưng sau đó nhà ông T bị nứt nền, nứt tường và hiện tượng ngày càng
nghiêm trọng.
+ Ngày 27/6/2023, UBND phường H đã tiến hành hòa giải thành. Tại buổi
hòa giải ông K đồng ý trả lại cho ông T phần đất cụ thể như sau:
Phía trước đường B lấy từ tường nhà ông T ra 15cm,
Từ điểm mốc giáp đường 261 kéo sâu về phía sau 10,5m lấy từ tường nhà
ông T ra 40cm,
Từ điểm vị trí 2 sẽ kéo đường thẳng đến mép ngoài trụ bê tông nhà ông K,
Ông K cam kết dọn dẹp mặt bằng để bàn giao đất cho ông T vào ngày
30/6/2023.
+ Tại biên bản hòa giải lần hai ngày 20/7/2023 tại phường ý kiến của ông K
như sau: Ông Lê Thanh K có mong muốn hòa giải với gia đình ông Đồng Văn T
theo các nội dung đã thống nhất ngày 27/6/2023. gia đình ông Lê Thanh K có
lời xin lỗi gia đình ông Đồng Văn T và mong muốn gia đình ông T đồng ý”
+ Bản vẽ hiện trạng ngày 7/5/2025 của Công ty CP Đ1 và bản đồ T xác
định phía trước thửa đất của ông T còn thiếu 1,4m chiều dài về phía thửa đất của
ông K (do ông K lấn chiếm); thửa đất 625 của ông T và thửa đất số 626 của ông
K đều thiếu diện tích so với giấy chứng nhận QSD đất đã cấp.
Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất, căn cứ kết quả đo vẽ, căn cứ vào bản đồ
địa chính, căn cứ biên bản làm việc của tổ dân phố, căn cứ biên bản hòa giải tại
địa phương xác định gia đình ông K lấn chiếm diện tích của gia đình ông T như
ông T khởi kiện là có căn cứ. Tổng diện tích tranh chấp là 18,77m
2
(phía trước
16,1m
2
, phía sau 2,67m
2
) và bồi thường thiệt hại.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện, đơn kháng cáo của ông
Đồng Văn T buộc ông K trả lại diện tích lấn chiếm và bồi thường thiệt hại cho
ông T.
Các đương sự giữ nguyên ý kiến trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm.
8
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến có
quan điểm như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là hợp lệ được xem xét, giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký và những
người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của
nguyên đơn ông Đồng Văn T; sửa bản án số 23/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các
đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà, xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đồng Văn T, Hội đồng
xét xử thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đồng Văn T đảm bảo về hình thức
và làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đồng Văn T:
Nguyên đơn ông Đồng Văn T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề
nghị sửa án sơ thẩm vì cho rằng ranh giới đất giữa nhà ông T và nhà ông K được
hình thành từ lâu, nhưng khi xây nhà ông T đã xây lùi vào khoảng 70cm so với
ranh giới, khi ông K xây nhà năm 2023 đã xây chồng lên móng nhà của nhà ông
T dẫn đến nứt tường nhà ông T.
Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với ranh
giới sử dụng đất giữa hai nhà, tại buổi thẩm định ngày 12/3/2026, qua xem xét
02 vị trí đào bên phía nhà ông T (do ông T đào) thấy:
+ Vị trí đào thứ nhất ở phía trước nhà ông T, giáp với phần tôn quây của
nhà ông K thấy móng nhà ông K ở phía trước là móng xây giật cấp, chân móng
rộng hơn so với tường là 27cm.
+ Vị trí đào thứ hai ở tường bếp nhà ông T phía giáp nhà xây 2 tầng của
nhà ông K, khi đào xuống thấy còn tường nhà cũ của nhà ông T, phần móng nhà
cũ phía hướng vào trong nhà rộng hơn so với tường là 8 đến 12cm.
Ngày 18/3/2026, Tòa án tiếp tục làm việc, xem xét hiện trạng 02 vị trí đào
bên phía nhà ông K (do ông K đào), thấy:
+ Vị trí đào thứ nhất phía ngoài nhà ông K (cách mép tường nhà ông K
3m), tại chân mái tôn phía sân nhà ông K, giáp với tường nhà ông T thấy: Chân
móng nhà ông T là móng xây giật cấp, phần móng rộng hơn so với tường nhà là
9
10cm. Chân móng nhà ông T và chân móng nhà ông K (cũ) không bị chồng, lấn
nhau, giữa 2 móng cách nhau 1 khoảng là 3cm.
+ Vị trí đào thứ hai ở sau nhà ông T (khu vực sau bếp), sau nhà ông K khi
đào xuống thấy: Chân tường nhà ông T hiện trạng là xây thẳng, không thấy phần
móng giật cấp; chân móng nhà ông K xây rộng ra so với tường là 8cm, chân
móng sát với móng nhà ông T.
Như vậy xem xét các vị trí đào ở cả phía nhà ông T và nhà ông K đều thấy
hai nhà không bị chồng móng.
Về việc ông T cho rằng đất của nhà ông còn chiều rộng khoảng 70cm chưa
xây hết đất thì thấy rằng: Nhà ông T và nhà ông K được cấp QSD đất cùng thời
điểm, nguồn gốc đất là do được nhà nước cấp, sau khi được cấp đất thì hai bên
đã xây nhà ở từ những năm 1990. Hiện nay ở chân móng nhà ông T vẫn còn
phần tường nhà cũ trùng với vị trí tường nhà mới hiện tại.
Tại biên bản làm việc ngày 07/5/2023 tại nhà ông T, có mặt đại diện xóm
(ông M – tổ trưởng tổ dân phố, ông V và ông C – Phó tổ trưởng tổ dân phố) có
nội dung “Hôm nay đại diện ban Q xác định thấy gia đình ông K đã xây móng
đè lên phần móng nhà ông Đồng Văn T với lý do căng dây vào đến đâu làm đến
đó”.
Sau đó trong buổi hòa giải tại UBND phường H ngày 27/6/2023 có mặt cả
hai bên đã thống nhất thỏa thuận về ranh giới sử dụng đất giữa hai nhà, cụ thể:
“Ông Lê Thanh K đồng ý trả lại cho ông Đồng Văn T phần đất cụ thể như
sau:
- Phía giáp tỉnh lộ 261: Lấy từ tường xây nhà ông Đồng Văn T ra 15cm.
- Từ điểm mốc giáo đường 261 kéo sâu về phía sau 10,5m: Lấy từ tường
nhà ông T ra 40cm.
- Từ điểm định vị thứ 2 sẽ kéo đường thẳng đến mép ngoại trụ bê tông nhà
ông K”
Sau đó ông T không đồng ý với nội dung thỏa thuận ngày 27/6/2023 nên
các bên hòa giải không thành. Tuy nhiên từ đó xác định được có việc ông K đã
xây lấn một phần diện tích đất giáp ranh với đất nhà ông T.
Mặt khác, tại bản vẽ hiện trạng sử dụng đất của Công ty cổ phần Đ1 thấy
rằng phần đất tranh chấp phần phía ngoài từ điểm 21 đến điểm 20, 19 đối chiếu
trên bản đồ địa chính là nằm trong thửa 625 của nhà ông T.
Tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản
1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận
hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
10
Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã
tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.”
Qua xem xét hiện trạng sử dụng đất của hai nhà, đối chiếu với ranh giới
giữa 02 thửa đất trên bản đồ địa chính và nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, thấy
rằng có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về tranh chấp ranh giới,
tranh chấp quyền sử dụng đất, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Về yêu cầu bồi thường thiệt của nguyên đơn do nhà bị nứt, qua xem xét
hiện trạng móng hai nhà không bị chồng, lấn; quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn không cung cấp được kết luận giám định chuyên môn, không chứng minh
được mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi xây dựng của bị đơn và thiệt
hại đối với công trình nhà ở của nguyên đơn, cũng như không chứng minh được
mức độ thiệt hại thực tế theo quy định của pháp luật. Phía nguyên đơn cũng
không có căn cứ nào khác chứng minh nguyên nhân gây nứt nhà là do việc bị
đơn xây nhà năm 2023 nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Về yêu cầu bồi thường ống nước bị phá vỡ, do hiện nay không còn tồn tại
hiện trạng như nguyên đơn trình bày nên không thể xác định được cụ thể nguyên
đơn bị thiệt hại cụ thể như nào, bị phá vỡ mấy ống, loại nào, kích thước cụ thể là
bao nhiêu, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và
lời khai của các bên đương sự để xác định số tiền bồi thường 5.000.000đ là phù
hợp.
Từ những căn cứ trên, thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo
của nguyên đơn ông Đồng Văn T, sửa bản án sơ thẩm.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại
phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và đo đất:
- Do yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận một phần nên mỗi bên
phải chịu ½ chi phí thẩm định tại cấp sơ thẩm. Ông T đã nộp tạm ứng
10.000.000đồng (mười triệu đồng) nên ông K, bà H1 phải có trách nhiệm trả lại
cho ông T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Nguyên đơn ông Đồng Văn T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm là 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn
đồng){ông T đã nộp và chi phí xong}.
[6]. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 phải liên
đới chịu 1.755.000đồng (một triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí
tài sản có giá ngạch để nộp ngân sách nhà nước. Ông Đồng Văn T và bà Nguyễn
Thị Kim H được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đồng Văn T không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
11
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Đồng Văn T. Sửa
bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Thái Nguyên.
1.1. Xác định ranh giới giữa thửa 626, TBĐ số 104, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số B 783252 do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày
21/6/1993 mang tên ông Lê Văn K1 (diện tích thửa 626 trong GCNQSD đất là
320m
2
đất thổ cư) với thửa 625, TBĐ số 104, Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số B 783225 do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 21/6/1993
mang tên ông Đồng Văn T (diện tích thửa 625 trong GCNQSD đất là 370m
2
đất
thổ cư) là đường thẳng đi qua các điểm 19, 2A, 20, 21, 22, 23, 24 (có sơ đồ chi
tiết kèm theo).
1.2. Công nhận QSD đất diện tích 5,4m
2
được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3,
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 24, 23, 22, 21, 20, 2A, 19, 1, thuộc quyền sử dụng của
nguyên đơn ông Đồng Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H (có sơ đồ chi tiết kèm
theo).
1.3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường thiệt hại tài
sản của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1 trả cho
nguyên đơn ông Đồng Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H số tiền 5.000.000đ (năm
triệu đồng).
1.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại tài sản của
nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu
đồng).
Các bên có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
điều chỉnh diện tích đất tại thửa 625, 626 và ranh giới thửa đất theo đúng hiện
trạng sử dụng đất.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và đo đất:
2.1. Buộc nguyên đơn ông Đồng Văn T và bị đơn ông Lê Thanh K, bà
Đồng Thị H1 mỗi bên phải chịu ½ chi phi thẩm định tại chỗ, định giá và đo đất
tại cấp sơ thẩm. Ông T đã nộp tạm ứng 10.000.000đồng (mười triệu đồng) nên
ông K, bà H1 phải có trách nhiệm trả lại cho ông T số tiền 5.000.000đồng (năm
triệu đồng).
2.2. Nguyên đơn ông Đồng Văn T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm số tiền là 4.100.000đ (bốn triệu một trăm
nghìn đồng){ông T đã nộp và chi phí xong}.
12
3. Về án phí:
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Thanh K và bà Đồng Thị H1
phải liên đới chịu 1.755.000đồng (một triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn
đồng) án phí tài sản có giá ngạch để nộp ngân sách nhà nước. Ông Đồng Văn T
và bà Nguyễn Thị Kim H được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đồng Văn T không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 2, tỉnh Thái Nguyên;
- Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm