Bản án số 274/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 274/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 274/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 274/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 274/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 274/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Minh T; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 274/2026/DS-PT
Ngày: 07 - 4 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Mạc Thị Chiên.
Ông Võ Bảo Anh
Ông Phạm Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Khương – Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Tô Hoàng
Ơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2026/TLPT-DS ngày
16 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2025/DS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 215/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (cũ), nay là: Ấp D, xã V,
thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Trần Thế D, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (cũ), nay là: Ấp D, xã V,
thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Đình P, sinh năm 1999.
Cư trú tại: khu V, phường V, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã V (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND
huyện V và UBND xã V, huyện V) (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ.
2
3.2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1947.
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (cũ), nay là: Ấp D, xã V,
thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp cho ông Lê Minh T2: Ông Lê Thành Đ, sinh năm
1979. Cư trú tại ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Ông Lê Minh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn ông Lê Minh T trình bày:
Ông Lê Minh T có phần đất tọa lạc tại Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu
Giang cũ, nay là Ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ trên bờ và thẳng xuống bờ sông
ngang là 7,59m, chiều dài 21m, giáp ranh với đất của anh Trần Thế D nhưng hiện
nay anh D đã chiếm hết diện tích dưới bờ sông của ông T. Phần đất trên bờ thuộc
thửa 1867, tờ bản đồ số 13, diện tích 123,9m
2
, tọa lạc tại Ấp D, xã V, huyện V,
tỉnh Hậu Giang đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp Giấy Chứng
nhận quyền sử dụng đất số CS02257 ngày 09/12/2021 đứng tên Lê Minh T. Phần
đất đang tranh chấp là phần đất ven giáp sông X và đường tỉnh 931B.
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là do cha mẹ ông T tạo lập,
bao gồm phần đất trên bờ đã phân chia, để thừa kế lại cho con, cháu trong gia
đình và phần đất dưới mé sông. Đến khoảng năm 1988-1989 thì ông T2 là người
quản lý, sử dụng phần đất này. Ông T2 sử dụng khoảng 05-06 năm thì không
quản lý, sử dụng nữa mà bỏ đất trống. Đến khoảng năm 2006 thì mẹ của anh D
(là chị ruột của ông T) về cất nhà trên phần đất giáp ranh phần đất tranh chấp và
che mái che trên phần đất đang tranh chấp. Sau khi mẹ của anh D chết (khoảng
năm 2019) thì anh D xây dựng hàng rào và mái che kiên cố trên phần đất tranh
chấp cho đến nay. Khi anh D xây dựng hàng rào và mái che kiên cố trên phần đất
tranh chấp thì ông T và các anh chị em khác trong gia đình không có ý kiến hay
phản đối gì.
Đối với việc phần nhà của ông T2 lấn qua phần đất đang tranh chấp thì ông
T không có ý kiến, yêu cầu trong vụ án này. Ông T yêu cầu anh Trần Thế D phải
trả lại cho ông T phần đất đã lấn chiếm là phần đất ven giáp sông X và đường tỉnh
931B có vị trí, diện tích và số đo các cạnh theo như kết quả đo đạc thực tế.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông T thống nhất
hoàn trả giá trị công trình xây dựng trên đất cho anh D theo kết quả định giá tài
sản.
Theo nội dung bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh
Trần Thế D bày:
Phần đất dưới mé sông đang tranh chấp trước đây là đất của bà ngoại anh D
cho mẹ anh D và mẹ anh D đã cất nhà trên đất cách đây khoảng 30 năm. Sau khi
mẹ anh D mất (năm 2019) thì cho anh D và anh hai anh D tiếp tục ở trên nhà đất
cho đến nay. Cách đây hơn 05 năm anh D có xây thêm một phần nhà kéo dài từ
3
nhà cũ qua phần đất tranh chấp. Khi xây dựng nhà thì ông T không có ý kiến hay
phản đối gì. Do phần đất này thuộc quyền quản lý của Nhà nước, anh D chỉ là
người đang thực tế sử dụng nên nay ông T yêu cầu anh D trả lại phần đất tranh
chấp thì anh D không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, đề nghị
Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và anh D không có yêu cầu
gì thêm.
Ngoài phần đất đang tranh chấp, thì anh D còn 01 thửa đất trên bờ là phần
thừa kế của mẹ anh D để lại và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên Trần Thế D và 01 phần đất giáp ranh phần đất đang tranh chấp có xây
dựng nhà cấp 04. Đối với việc phần nhà của ông T2 lấn qua phần đất đang tranh
chấp thì anh D không có ý kiến, yêu cầu trong vụ án này. Trường hợp Tòa án
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T thì anh D đề nghị Tòa án xử lý theo quy
định của pháp luật đối với phần công trình xây dựng trên đất.
Theo nội dung biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 trình bày:
Ông Lê Văn T1 có mối quan hệ là anh ruột của ông Lê Minh T và là cậu
ruột của cháu Trần Thế D. Hiện tại ông T1 có phần đất và căn nhà bán kiên cố
trên đất giáp ranh với phần đất đang tranh chấp giữa ông T và anh D. Trên phần
đất đang tranh chấp thì có một phần nhà do ông T1 đang quản lý, sử dụng lấn qua
tuy nhiên diện tích này không lớn và phần đất này thuộc quyền quản lý của Nhà
nước nên ông T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Trường hợp
sau khi Tòa án giải quyết vụ án mà các bên không thống nhất, thỏa thuận được và
phát sinh tranh chấp liên quan đến phần nhà, đất này thì ông T1 sẽ khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là do cha mẹ ông T1 tạo lập,
bao gồm phần đất trên bờ đã phân chia, để thừa kế lại cho con, cháu trong gia
đình và phần đất dưới mé sông. Đến khoảng năm 1988-1989 thì ông T1 là người
quản lý, sử dụng phần đất này. Ông T1 sử dụng khoảng 05-06 năm thì không
quản lý, sử dụng nữa mà bỏ đất trống. Đến khoảng năm 2006 thì mẹ của anh D về
cất nhà trên phần đất giáp ranh phần đất tranh chấp và che mái che trên phần đất
đang tranh chấp. Sau khi mẹ của anh D chết (khoảng năm 2019) thì anh D xây
dựng hàng rào và mái che kiên cố trên phần đất tranh chấp cho đến nay. Khi anh
D xây dựng hàng rào và mái che kiên cố trên phần đất tranh chấp thì bản thân
ông, ông T và các anh chị em khác trong gia đình không có ý kiến hay phản đối
gì. Ngoài phần đất đang tranh chấp, thì các anh chị em trong gia đình ông T1 đều
được chia mỗi người 01 thửa đất trên bờ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên riêng từng người. Riêng anh D cũng được hưởng 01 thửa
đất trên bờ là phần thừa kế của mẹ anh D để lại.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang có người đại diện hợp pháp là
ông Cao Hoàng B trình bày:
4
Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang thống nhất với ý kiến của
Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang tại Công văn số 22/UBND ngày
08/01/2025 và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm trong vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang có người đại diện hợp pháp là ông
Nguyễn Minh N không thể hiện ý kiến, yêu cầu và đề nghị vắng mặt trong suốt
quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn
giữ nguyên ý kiến. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân
xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang và Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang là
Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Cần Thơ có người đại diện hợp pháp là ông
Đinh Chí T3 trình bày:
Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Cần Thơ thống nhất và giữ nguyên ý
kiến tại Công văn số 22/UBND ngày 08/01/2025 của Ủy ban nhân dân huyện V,
tỉnh Hậu Giang và không có yêu cầu gì thêm trong vụ án. Đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đối với việc sử dụng đất của anh Trần Thế D cũng như của mẹ anh Trần
Thế D từ trước đến nay chưa có vi phạm hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
Nguyên đơn đã giao nộp tài liệu, chứng cứ: Bản tự khai, Đơn xin xác nhận,
Căn cước công dân của nguyên đơn (bản phô tô), Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CS02257 và CS02256 (bản phô tô), Hồ sơ hòa giải ở cơ sở.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2025/DS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh T đối
với bị đơn anh Trần Thế D về việc yêu cầu buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn
phần đất mà bị đơn đã lấn chiếm của nguyên đơn.
2. Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Minh T được miễn án phí dân sự sơ
thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Lê Minh T phải chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), chi phí định
giá với số tiền là 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn ông
Lê Minh T được khấu trừ tiền tạm ứng chi phí định giá và xem xét, thẩm định tại
chỗ đã nộp nên không phải nộp thêm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng; quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/8/2025, nguyên đơn Lê Minh T kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự
sơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 –
Cần Thơ. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, xét lại theo trình tự phúc thẩm theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày: Phần đất là của mẹ nguyên
đơn khai phá từ trên bờ xuống mé sông. Phần đất trên bờ đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhưng phần đất mé sông chưa được cấp giấy. Mẹ ông đã
chia cho các anh chị em trong gia đình mỗi người một phần từ trên bờ xuống mé
sông, nhưng D đã lấn chiếm khiến gia đình nguyên đơn không có đường xuống
sông nên gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và sinh hoạt. Nay nguyên đơn
chỉ yêu cầu tòa giải quyết cho nguyên đơn khoảng ngang 2m đến 3m mà không
cần 7m như đơn khởi kiện để nguyên đơn có đường đi xuống sông.
Đại diện bị đơn trình bày: Phần đất bị đơn cất nhà là do mẹ bị đơn được bà
ngoại cho ở từ năm 1993, bị đơn đã cất nhà ở từ đó đến giờ và cũng đã sửa nhiều
lần nhưng nguyên đơn cũng không tranh chấp gì. Việc bị đơn yêu cầu chừa 3m để
làm đường đi xuống sông bị đơn không đồng ý vì căn nhà đã cất liền với những
công trình khác. Hơn nữa, phần đất của ông T nếu đi thẳng xuống mé sông là
phần đất của ông Lê Văn T1. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên
đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự.
Về nội dung: Qua hồ sơ thể hiện phần đất tranh chấp là đất ven kinh thuộc
hành lang bảo vệ an toàn đường sông, do Nhà nước quản lý. Ông T không có giấy
tờ gì chứng minh phần đất thuộc quyền sơ hữu của mình, cũng không chứng minh
được ông D chiếm đất của ông. Do đó, cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung
cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, áp
dụng khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Lê Minh T có đơn kháng cáo đúng
theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét về sự vắng mặt cuả người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt đại
diện Ủy ban nhân dân phường V, tuy nhiên Ủy ban nhân dân phường V đã có đơn
xin xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân
sự xét xử vắng mặt đối với Ủy ban nhân dân phường V.
6
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Lê Minh T với những nội dung
sau: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 33/CHK ngày
17/3/2025 của Công ty Cổ phần Đ1 thì phần đất tranh chấp là phần đất được ký
hiệu “Đất ven”, có diện tích thực tế 116,1m
2
, vị trí ngang trước giáp đường tỉnh
931B, ngang sau giáp sông X, tọa lạc tại Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cũ
(nay là Ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ).
[2.2] Theo Mảnh trích đo nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Công văn
319/TA-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 yêu cầu cung cấp thông tin phần đất
tranh chấp. Trên cơ sở đó, ngày 08/01/2025 Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu
Giang có Công văn số 22/UBND có nội dung như sau: “xác định diện tích đất
này là đất có nguồn gốc do Nhà nước quản lý (UBND xã), loại đất giao thông
công cộng (thủy lợi) thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, hiện
trạng do người dân đang sử dụng thì không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định”.
[2.3] Ngoài ra, theo Biên bản xác minh ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Vị Thủy, xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là do cha,
mẹ ông Lê Minh T tạo lập, bao gồm phần đất trên bờ đã phân chia, để thừa kế lại
cho con, cháu trong gia đình và phần đất dưới mé sông. Đến khoảng năm 1988-
1989 thì ông Lê Văn T1 là người quản lý, sử dụng phần đất này. Ông T1 sử dụng
khoảng 05-06 năm bỏ đất trống. Đến khoảng năm 2006 thì mẹ của anh D về cất
nhà trên phần đất giáp ranh phần đất tranh chấp và che mái che trên phần đất đang
tranh chấp. Sau khi mẹ của anh D chết, thì anh D xây dựng hàng rào và mái che
kiên cố trên phần đất tranh chấp cho đến nay. Khi anh D xây dựng hàng rào và
mái che kiên cố trên phần đất tranh chấp thì ông T và các anh chị em khác trong
gia đình ông T không có ý kiến hay phản đối gì.
[2.4] Như vậy, xét về chủ quyền đất ông T không có gì chứng minh mình là
người có quyền sử dụng phần đất tranh chấp; về mặt thực tế, ông T không trực
tiếp sử dụng phần đất. Về mặt pháp lý, đây là phần đất ven thuộc hành lang bảo
vệ an toàn công trình công cộng, do Nhà nước quản lý. Ông D hiện cũng đang sử
dụng phần đất của Nhà nước. Do đó, không có căn cứ để buộc ông D phải giao trả
phần đất cho ông T. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Lê Minh T là phù hợp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Minh T cũng không có chứng cứ mới
để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có căn cứ để chấp
nhận kháng cáo của ông T;
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là
có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn do là người cao
tuổi.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Minh T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2025/DS-ST ngày 27/8/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
07/4/2026).
Nơi nhận:
- VKSND TP Cần Thơ;
- TAND Khu vực 11 – Cần Thơ;
- P. THADS KV11 – Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Mạc Thị Chiên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm