Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 09/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2026/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 09/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 10/2026/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 10/2026/HNGĐ-PT
Ngày 09 - 4 - 2026
V/v “ly hôn và tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quan Rin - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 29/2025/TLPT-HNGĐ,
ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc
“ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”;
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số 41/2025/QĐXX-PT ngày 03 tháng 12 năm 2025, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; Căn cước công dân
049193010496; Địa chỉ tạm trú: Số A, T, tổ G, phường L, thành phố Đà Nẵng; Nơi
đăng ký thường trú: thôn H, xã B, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Xuân V, sinh năm 1989; Căn cước công dân 045089008719;
Địa chỉ tạm trú trước đây: Số A, T, tổ G, phường L, thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký
thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã B, tỉnh Quảng Trị (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phan Xuân V có Luật sư Trần
Thanh B - Công ty L1 (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Phan Xuân V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Xuân V kết hôn năm 2015, có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, G, Quảng Trị (nay thuộc xã B - Quảng Trị), hôn
2
nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian
thì đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông
V hay đánh đập bà, mặc dù hai bên gia đình khuyên ngăn nhưng vợ chồng không có
tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Hiện bà không còn tình cảm
với ông V nên bà đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông V.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung Phan Nguyễn Đức A, sinh
ngày 20/06/2016 và Phan Nguyễn Bảo K, sinh ngày 15/12/2020. Ly hôn, bà có nguyện
vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Bảo K và giao con Nguyễn Đức A cho
ông V nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung.
Quá trình tố tụng, bị đơn Phan Xuân V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Về quan hệ con chung: Ông xác nhận có 02 con chung Phan Nguyễn Đức A,
sinh ngày 20/06/2016 và Phan Nguyễn Bảo K, sinh ngày 15/12/2020 như bà L trình
bày. Ly hôn, ông có nguyện vọng được nuôi hai con, không yêu cầu bà L cấp dưỡng
nuôi con.
Với nội dung như trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 43/2025/HNGĐ-ST
ngày 18/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng quyết định như sau:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Phan
Xuân V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn đối với ông Phan Xuân
V.
2. Về quan hệ con chung: Giao con Phan Nguyễn Đức A, sinh ngày 20/06/2016
cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng và giao con Phan Nguyễn Bảo K, sinh ngày
15/12/2020 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không ai
phải cấp dưỡng nuôi con.
Các bên dương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định
của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2025, bị đơn ông Phan Xuân V có đơn
kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về con chung, ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét giao hai con chung cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, ông không yêu cầu bà L cấp
dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu
3
quan điểm về pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung vụ án như sau:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng ở giai đoạn phúc
thẩm.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Xuân V, giữ
nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghe người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo; căn cứ vào các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa và nghe ý
kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Ngày 01/10/2025, bị đơn ông Phan Xuân V có đơn kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm về con chung trong thời hạn luật định, xét thấy đơn kháng cáo hợp lệ theo
quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
xem xét kháng cáo.
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt đối với bà L.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của ông Phan Xuân V về con chung thì thấy:
[3] Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, ông V cung cấp các chứng cứ
chứng minh cháu Phan Nguyễn Bảo K bị bệnh phổi biệt lập ngoài thùy ở thùy dưới
phổi trái đã được phẫu thuật, sức khỏe của cháu yếu; cháu K và cháu Phan Nguyễn
Đức A sống gắn kết với nhau từ nhỏ. Ngoài ra, ông V còn cho rằng bà L ngoại tình,
không có chỗ ở ổn định và không có trách nhiệm với các con; bà L không về thăm con
từ khi vợ chồng ông ly hôn đến nay. Do đó ông đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
giao hai con cho ông nuôi dưỡng và ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy: Khi ly hôn, ông V và bà L đều có nguyện vọng
được nuôi con và nguyện vọng này là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên việc giao con
chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ về quyền lợi mọi mặt của con. Quá
trình chung sống, cả ông V và bà L đều có trách nhiệm với các con thể hiện trong thời
gian vợ chồng vào Đà Nẵng sinh sống thì cả hai dành dùm gởi tiền về quê cho ông bà
nội chăm sóc giúp hai con. Từ khi khởi kiện cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, bà L tha
thiết được quyền nuôi dưỡng con mà cụ thể bà yêu cầu nuôi dưỡng cháu Bảo K, điều
này là phù hợp. Bởi lẽ cháu K là cháu gái, tại thời điểm xét xử sơ thẩm cháu K chưa đủ
5 tuổi, độ tuổi rất cần có sự chăm sóc chu đáo từ người mẹ. Đối với cháu Đức A, cháu
có nguyện vong được ở với ông V nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu A cho ông V
nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp và đảm bảo quyền lợi của các bên.
[5] Việc ông V cho rằng, cháu K bị bệnh phổi biệt lập ngoài thùy ở thùy dưới
phổi trái đã được phẫu thuật, sức khỏe của cháu yếu mà bà L thì không có trách nhiệm
4
với con nên ông đề nghị giao cho ông nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu K bị
bệnh phổi biệt lập ngoài thùy ở thùy dưới phổi trái từ khi bẩm sinh và cháu đã được
phẫu thuật từ năm 2022, đến thời điểm hiện nay sức khỏe cháu đã ổn định và phát triển
tốt.
[6] Ngoài ra, ông V cung cấp Giấy xác nhận của những người dân sống tại địa
phương của ông xác nhận ông V, cha mẹ ông V hiện đang nuôi hai cháu Phan Nguyễn
Đức A và Phan Nguyễn Bảo K ổn định tại thôn H, xã B, tỉnh Quảng Trị và từ thời
điểm ly hôn cho đến nay không thấy bà L về địa phương thăm nom, chăm sóc các
cháu. Tuy nhiên đây không phải là căn cứ để khẳng định bà L không có trách nhiệm
với các con. Thực tế bà L không từ bỏ quyền nuôi dưỡng con của mình.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về con chung.
[8] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9]
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông V không được chấp nhận nên
ông V phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, 82 và Điều 83 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Xuân V về con chung.
2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 18
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng về con chung như sau:
- Giao con Phan Nguyễn Đức A, sinh ngày 20/6/2016 cho ông Phan Xuân V
trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Phan Nguyễn Bảo K, sinh ngày 15/12/2020 cho bà
Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không ai phải cấp
dưỡng nuôi con.
- Các đương sự có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của
pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Xuân V phải chịu 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp
theo Biên lai thu số 0003594 (Ký hiệu: BLTU/25E) ngày 14/10/2025 của Thi hành án
dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 09/4/2026.
5
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng;
- Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Thị Phi Yến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Bản án số 4/2026/HNGĐ-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm