Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Xuân Lộc (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 47/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2024/DS-ST
Ngày: 30-8-2024
V/v “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Quang Nghĩa
Bà Đỗ Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét
xử thẩmng khai vụ án thụ số: 286/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm
2023 về việc Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 Quyết định
hoãn phiên tòa số 253/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 1990
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 1992
Địa chỉ: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn B, sinh năm: 1938
Địa chỉ: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện hp pháp của ông Lê Văn B: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm:
1990
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/12/2023).
2. Chị Lê Thị T1, sinh năm: 1981
Địa chỉ: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
2
3. Chị Lê Thị N, sinh năm: 1983
Địa chỉ: ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
4. Chị Lê Thị Ngọc T2, sinh năm: 1992
Địa chỉ: ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T, chị H, ông B, chị T1, chị N và chị T2 vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn chLê Thị Ngọc T:
Cha mẹ chị ông Văn B, sinh năm 1938 Thị N1, sinh năm 1958
với nhau tất cả 06 người con gồm: chị Thị T1, sinh năm: 1981; chị Thị
N, sinh năm: 1983; anh Văn N2, sinh năm 1986 đã chết ngày 18/8/2000 theo
giấy chứng tử số 20, quyển số 01/2015 ngày 02/4/2015 của UBND xã X, huyện X,
tỉnh Đồng Nai, khi chết mới 16 tuổi, chưa vcon; chị Thị Ngọc T, sinh
năm: 1990; chị Lê Thị Ngọc T2, sinh năm: 1992 và chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm:
1994.
Thị N1 có cha là ông Văn C (đã chết năm 1975), mẹ là bà Nguyễn
Thị C1 (đã chết năm 1974). Ngoài ra, mẹ chkhông cha mẹ nuôi không
người cong riêng, con nuôi nào khác.
Ngày 28/01/2021, bà N1 chết theo giấy chứng tử s 05 ngày 29/01/2021 của
UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Khi chết bà N1 không để lại di chúc.
Khi còn sống, N1 ông B tạo lập được tài sản chung gồm: quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
diện tích 495,9 m
2
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu ncác công trình khác gắn liền với
đất số CY 230451 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn BThị N1, nguồn gốc
thửa đất trên do N1 ông Biên nhận chuyển nhượng vào năm 2020; 01 căn nhà
xây cấp 4 được xây dựng trên thửa đất nêu trên, căn nhà được xây dựng vào năm
2020. Theo chứng thư thẩm định giá số 196/TĐG-CT ngày 13/5/2024 ca ng ty
Cổ phần T3, quyền sử dụng đất, công trình xây dựng các tài sản khác gắn liền
với đất tổng giá trị 1.214.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm mười bốn triệu đồng).
Sau khi bà N1 chết, gia đình ch đã nhiều lần họp bàn, thương lượng đphân
chia di sản N1 để lại theo hướng chia đều cho những người được hưởng thừa
kế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thực hiện được do chị H không thống nhất, không
đồng ý ký tên vào biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế yêu cầu được
chia cho quyền sử dụng một phần thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, xã X, có chiều
ngang 04 mét, chiều dài hết đất hoặc được chia số tiền là 500.000.000 đồng (m
trăm triệu đồng). Chị, ông B và các chị em khác trong gia đình không đồng ý với
yêu cầu của chH.
Nay, chị yêu cầu chia di sản thừa kế của N1 một nửa giá trị tài sản trong
khối tài sản chung của bà N1 và ông B có giá trị là 607.000.000 đồng (Sáu trăm l
bảy triệu đồng) theo pháp luật cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N1
gồm: ông B, chị T1, chị N, chị, chT2 và chị H mỗi người một phần bằng nhau có
3
giá trị 101.167.000 đng (Một trăm lẻ một triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn
đồng). Chị có nguyện vọng được nhận phần thừa kế của mình bằng tiền và giao lại
quyền sử dụng đất cho cha chị là ông Lê Văn B được quyền sử dụng.
Số tiền chi phí tố tụng chị đã tạm ứng gồm: chi phí đo đạc, xem xét thẩm
định tại chỗ, chi phí trích lục hồ sơ là 4.228.740 đồng và chi phí thẩm định giá tài
sản 33.000.000 đồng, chị yêu cầu mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi
phí tố tụng theo tỷ lệ phần tài sản được chia.
* Theo các bản tự khai, biên bản đối chất trong quá trình giải quyết vụ án
bị đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày: Chị là con gái út của ông Lê Văn B và bà
Thị N1. Chị thống nhất với lời trình bày của chị Thị Ngọc T về quan hệ nhân
thân của bà N1. Ngày 28/01/2021, bà N1 chết không để lại di chúc. Ngày
30/8/2023, chị cùng ông B 04 chị gái đến văn phòng C2 để thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế của bà N1. Tuy nhiên, văn bản phân chia di sản thừa kế này có nội
dung thỏa thuận để toàn bộ quyền sdụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất
số 2101, tờ bản đsố 59, X cho chị T đứng tên và quản lý sử dụng thì chị không
đồng ý. Chị nguyện vọng được nhận phần di sản thừa kế của N1 bằng tiền
với số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đng).
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Lê Văn B do chị Lê Thị Ngọc T làm đại diện trình bày: Ông B và N1 chung
sống với nhau từ năm 1980 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống,
ông B N1 06 người con chung Thị T1, sinh năm 1981; Thị N,
sinh năm 1983; Văn N2, sinh năm 1986 (đã chết năm 2000); Thị Ngọc T,
sinh năm: 1990; Thị Ngọc T2, sinh năm 1992 Thị Ngọc H, sinh năm 1994.
Ngoài ra, bà N1 không có người con riêng nào khác.
Ông B không đồng ý với yêu cầu của ch H vviệc chị H được nhận phần di
sản thừa kế của N1 bằng tiền với số tiền 500.000.000 đồng; ông đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của chị T, ông B yêu cầu Tòa án chia di sản của bà Lê Thị N1
một nửa giá trị tài sản trong khối tài sản chung của ông B và bà N1 theo pháp luật
cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của N1 gồm: ông B, chT1, chị N,
chị T, chị T2 chị H mỗi người một phần bằng nhau. Ông B nguyện vọng được
nhận phần thừa kế của mình bằng quyền sử dụng đất, ông B sẽ thanh toán lại phần
thừa kế cho các đồng thừa kế khác bằng tiền tương ứng với giá trị.
* Theo các bản tự khai, biên bản đối chất trong quá trình giải quyết vụ án,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị T1, chị Thị N chị Thị
Ngọc T2 cùng trình bày: Các chị con ruột của ông Văn B bà Thị N1.
Các chị thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ nhân thân của bà N1.
Ngày 28/01/2021, bà N1 chết không để lại di chúc. Khi bà N1 còn sống, bà N1
ông B tạo lập được tài sản chung gồm: quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2101,
tờ bản đồ số 59, xã X 01 căn nhà xây cấp 4 được xây dựng trên thửa đất nêu
trên, căn nhà được xây dựng vào năm 2020. Sau khi N1 chết, gia đình chị đã
nhiều lần họp bàn, thương lượng để phân chia di sản mà N1 để lại theo hướng
chia đều cho những người được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thực
hiện được do chị H không thống nhất, không đồng ý tên vào biên bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế. Các chị không đồng ý với yêu cầu của chị H là chia cho
4
chị H được quyền sdụng một phần thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, X,
chiều ngang 04 mét, chiều dài hết đất. Đồng thời, các chị cũng không đồng ý với
yêu cầu của chị H về việc chị H được nhận phần di sản thừa kế của N1 bằng tiền
với số tiền là 500.000.000 đồng. Các chị yêu cầu cầu chia di sản thừa kế của bà N1
là một nửa giá trị tài sản trong khối tài sản chung của bà N1 và ông B có giá trị
607.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ bảy triệu đồng) theo pháp luật cho 06 người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của bà N1 gồm: ông B, chị T1, chị N, chị T, chị T2 và chH
mỗi người một phần bằng nhau giá trị 101.167.000 đồng (Một trăm lmột
triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Các chị có nguyện vọng được nhận phần
thừa kế của mình bằng tiền và giao lại quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn B được
quyền sử dụng.
* Ý kiến của Kiểmt viên ti phiên tòa:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng ca Thẩm phán và Hội đồng xét xử tkhi
thụ lý vụ án đến nay về cơ bản là đúng theo quy định pháp luật. Nguyên đơn chị T,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông B, chị T1, chị N, chị T2 đã thực hiện
đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh
những yêu cầu hợp pháp của mình là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71,
73, 96, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị H không thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật T tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T,
chia di sản thừa kế của bà N1 là một nửa giá trị tài sản trong khối tài sản chung của
N1 ông B theo pháp luật cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
N1 gồm: ông B, chị T1, chN, chT, chT2 chị H mỗi người một phần bằng
nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu chia di sản
thừa kế của bà Lê Thị N1 theo pháp. Do đó, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh
chấp về thừa kế quyền sử dụng đấttheo quy định tại Điều 649 Bộ luật Dân sự
2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp lut này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án theo quy đnh ti khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đất tranh chấp tọa lạc tại ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên thẩm quyền giải
quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về cách tố tụng: Chị T khởi kiện chị H, do đó xác định chị T nguyên
đơn, chị H bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền nghĩa vụ của ông B, chị
T1, chị N, chị T2 nên xác định nhng người này là ngưởi quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 28/01/2021 Thị N1 chết. Ngày
09/10/2023, chị T nộp đơn khởi kiện tại Toà án. Do đó việc khởi kiện là còn trong
5
thời hạn theo quy định tại Điều 611 và Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[5.1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều
thừa nhận ông Lê Văn Bbà Thị N1 chung sống với nhau từ m 1980 nhưng
không đăng kết hôn. Tại biên bản xác minh ngày 26/8/2024 tại Công an X
thể hiện, ông Lê Văn B chủ hộ, Lê Thị N1 có mối quan hệ với chủ hộ là vợ.
Như vậy, căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành
Luật Hôn nhân và Gia đình; Thông số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
BTP ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Bộ tư pháp về hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của
Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân Gia đình thì hôn nhân của ông B
N1 là hợp pháp.
[5.2] Về hàng thừa kế của bà Thị N1: các đương sự đều thống nhất, khi
còn sống thì bà N1 có tất cả 06 người con gồm: chị T1, chị N, chị T, chị T2, chị H
anh Văn N2 đã chết năm 2015 (chết trước N1, khi chết anh N2 chưa
vợ, con). Ngoài ra, N1 không người con nuôi nào khác, cha mcủa N1
cũng đã chết từ lâu do già yếu. Như vậy xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà N1
gồm: Ông Lê Văn B, sinh năm 1938; chị Lê Thị T1, sinh năm 1981; chị Lê Th N,
sinh năm 1983; chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1990; chị Lê Thị Ngọc T2, sinh năm
1992 và chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1994.
[5.3] Về di sản thừa kế:
Các đương sự đều thống nhất trong quá trình chung sống thì ông B và bà N1
tạo lập được tài sản chung gồm: quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2101, tờ bản
đồ số 59, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai có diện tích 495,9 m
2
; 01 căn nhà xây cấp
4 được xây dựng trên thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59 nêu trên. Việc thừa nhận
của các đương sự phù hợp với tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh X cung
cấp: thửa đất số 2101, tờ bản đồ s59, X diện tích 495,9 m
2
, được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CY230451 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn B và bà Thị N1, nên đây là tài sản
chung của ông B N1. Theo chng thư thẩm định giá số 196/TĐG-CT ngày
13/5/2024 của Công ty Cổ phần T3, quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và các
tài sản khác gắn liền với đất có tổng giá trị là 1.214.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm
mười bốn triệu đồng).
Về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của các đương sự, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Do ông B và bà N1 có quan hệ hôn nhân, nên thửa đất số 2101, tờ bản
đồ số 59, xã X và nhà ở cùng các tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của
vợ chồng. Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân Gia đình Bộ luật n sự thì
tài sản chung của vợ chồng tài sản chung hợp nhất thể phân chia; ông B
yêu cầu được nhận phần tài sản của mình bằng quyền sdụng đất và sở hữu các tài
sản trên đất, các đồng thừa kế còn lại đều yêu cầu nhận tiền nên giao quyền sử dụng
đất, quyền sở hu nhà các tài sản khác gắn liền với đất cho ông B quản lý, s
dụng; phân chia di sản thừa kế của bà N1 bằng giá trị quyền sử dụng đất và các tài
sản gắn liền với đất thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, xã X thành tiền là phù hợp.
6
Như vậy, xác định phần di sản thừa kế mà Thị N1 để lại một nửa giá
trị tài sản trong khối tài sản chung của N1 và ông B, gtrị 607.000.000
đồng (1.214.000.000 đồng : 02).
[5.4] Về yêu cầu của bị đơn: chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được nhận phần di
sản thừa kế của N1 bằng tiền với số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu
đồng), các đồng thừa kế khác gồm ông B, chị T1, chị N, chị T và chị T2 không
đồng ý với yêu cầu ca chị H. Xét thấy, yêu cầu của chị H không phù hợp với quy
định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên không chấp nhận.
[5.5] Về yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
chị Thị Ngọc T, ông Lê Văn B, chị Thị T1, chị Lê Thị N, chLê Thị Ngọc
T2 thống nhất yêu cầu chia di sản thừa kế của N1 một nửa gtrị tài sản trong
khối tài sản chung của bà N1 và ông B có giá trị là 607.000.000 đồng (Sáu trăm l
bảy triệu đồng) theo pháp luật cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N1
gồm: ông B, chị T1, chị N, chị T, chị T2 chị H mỗi người một phần bằng nhau
có giá trị là 101.167.000 đồng (Một trăm lẻ một triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn
đồng). Yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015
nên chấp nhận.
Chị T1, chị N, chị T và chị T2 có nguyện vọng được nhận phần thừa kế của
mình bằng tiền giao lại quyền sử dụng đất cho ông Văn B được quyền sử
dụng. Ông B nguyện vọng được nhận phần thừa kế của mình bằng quyền sử
dụng đất, ông B sẽ thanh toán lại giá trị phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác
bằng tiền tương ứng với giá trị. Xét thấy, hiện nay ông B đang sống trên thửa đất
số 2101, tờ bản đồ số 59, xã X; đồng thời ông B đang là chủ sử dụng quyền sử dụng
một nửa diện tích đất đối với thửa đất nêu trên, nghĩ nên giao quyền sử dụng toàn
bộ diện tích đất 495,9 m
2
thuộc thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, X cho ông B
được quyền quản lý, sử dụng buộc ông B toán lại gtrị phần thừa kế cho chị
Thị T1, chị Thị N, chị Thị Ngọc T, chị Thị Ngọc T2 chị Thị
Ngọc H mỗi người số tiền 101.167.000 đồng (Một trăm lẻ một triệu một trăm
sáu mươi bảy ngàn đồng) (607.000.000 đồng : 06 người).
[7] Về chi phí t tụng:
Tổng số tiền chi phí tố tụng nguyên đơn chị Thị Ngọc T đã tạm ứng
37.228.740 đồng gồm: chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí trích lục
hồ sơ là 4.228.740 đồng và chi phí thẩm định giá tài sản là 33.000.000 đồng, chị T
yêu cầu mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí tố tụng theo tỷ lệ phần
tài sản được chia. Xét thấy yêu cầu của chị T phù hợp với quy định tại Điều 157
Điều 165 Bộ luật Tố tng dân sự, do đó buộc ông Văn B, chLê Thị T1, ch
Thị N, chLê Thị Ngọc T2 và chị Lê Thị Ngọc H mỗi người phải hoàn trả cho ch
Thị Ngọc T số tiền chi phí tố tụng phải chịu là 6.204.790 đồng (Sáu triệu hai
trăm lẻ bốn ngàn bảy trăm chín mươi đồng) (37.228.740 đồng : 6 người).
[8] Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Ông Văn B người cao tuổi và đơn xin miễn án phí
nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
7
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Chị Lê Thị T1, ch Thị N, chị Lê Thị Ngọc T, chị Lê Th Ngọc T2 và chị
Thị Ngọc H phải chịu 5.058.350 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi tám
ngàn ba trăm năm mươi đồng) (101.167.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 2 khoản 4
Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 213, Điều 218, Điều 219, Điều 221, Điều 609, Điều 611, Điều 612,
Điều 613, Điều 614, Điều 650, Điều 651, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, Điều
66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 vviệc thi hành
Luật Hôn nhân và Gia đình; Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
BTP ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Bộ pháp về hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000
của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T
về việc chia di sản thừa kế của Thị N1 là quyền sử dụng diện tích đất 247,95
m
2
thuộc một phần thửa đất số 2101, tờ bản đồ số 59, X, huyện X, tỉnh Đồng
Nai theo quy định của pháp luật.
2. Xác định diện tích đất 495,9 m
2
thuộc 2101, tờ bản đồ số 59, xã X, huyện
X, tỉnh Đồng Nai được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CY230451 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn BLê Th
N1 cùng nhà các tài sản khác gắn liền với đất tài sản chung vợ chồng của
ông Lê Văn B và bà Lê Thị N1.
Di sản thừa kế Thị N1 để lại một nửa tài sản trong khối tài sản
chung của bà Lê Thị N1 ông Văn B, giá trị là 607.000.000 đồng (Sáu trăm
lẻ bảy triệu đồng).
3. Giao cho ông Văn B được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 595,9
m
2
, quyền sở hữu nhà các tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số số
2101, tờ bản đồ số 59, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các
công trình khác gắn liền với đất số CY 230451 ngày 19/11/2020 cho ông Văn
B và bà Lê Thị N1.
Ông Văn B trách nhiệm liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến
hành thtục đăng ký cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
và các tài sản khác gắn liền với đất và chịu chi phí theo quy định của pháp luật.
Buộc ông Lê Văn B phải thanh toán lại cho chThị T1, chị Lê Thị N, chThị
8
Ngọc T, chị Thị Ngọc T2 và chị Thị Ngọc H mỗi người 101.167.000 đồng
(Một trăm lẻ một triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
Kể từ ngày bản ánhiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357,
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về chi phí tố tụng
Buộc ông Văn B, chị Thị T1, chị Thị N, chị Thị Ngọc T2 chị
Thị Ngọc H mỗi người phải hoàn trả cho chị Thị Ngọc T số tiền là 6.204.790
đồng (Sáu triệu hai trăm lẻ bốn ngàn bảy trăm chín mươi đồng).
5. Về án phí:
Buộc chị Lê Thị T1, chị Lê Thị N, chị Lê Thị Ngọc T2 và chị Lê Thị Ngọc H phải
nộp 5.058.350 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi tám ngàn ba trăm năm mươi
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Thị Ngọc T phải nộp 5.058.350 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi tám
ngàn ba trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) theo
biên lai thu số 0008974 ngày 23 tháng 10 năm 2024 ca Chi cục thi hành án dân sự
huyện Xuân Lộc. Chị Thị Ngọc T còn phải nộp số tiền 3.558.350 đồng (Ba
triệu năm trăm năm mươi tám ngàn ba trăm năm mươi đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể tnhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp
luật.
7 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND huyện Xuân Lộc;
- Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
- UBND cấp xã;
- Các đương sự;
- Lưu án văn, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Tải về
Bản án số 47/2024/DS-ST Bản án số 47/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2024/DS-ST Bản án số 47/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất