Bản án số 458/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 458/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 458/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 458/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: T/c hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 458/2026/DS-PT Bản án số 458/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 458/2026/DS-PT Bản án số 458/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 458/2026/DS-PT
Ngày 14/9/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; tuyên
bố văn bản thỏa thuận và cam kết
là vô hiệu; yêu cầu điều chỉnh
sang tên lại quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong
Các Thẩm phán: Ông Võ Minh Triều
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà
Mai Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng
4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận và cam kết là
vô hiệu; yêu cầu điều chỉnh sang tên lại quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực A - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 292/2026/QĐXX-PT
ngày 26/5/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Phan Văn H, sinh năm 1985; có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1991; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Văn Việt T, sinh năm 1989; vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Văn Việt T là: Ông Hồ Ngọc H, sinh
năm 1987; có mặt.
Địa chỉ: Khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang (Văn bản uỷ quyền ngày
04/3/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1972; vắng mặt.
2. Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1976; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; vắng mặt.
4. Ông Trà T, sinh năm 1969; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Đường L, khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
5. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971; có mặt.
6. Ông Lê Thành K, sinh năm 1964; có mặt.
Cùng địa chỉ: Đường L, khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim
T, bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Thành K, bà Nguyễn Thị L là: Ông Bùi Hảo T, sinh
năm: 1960; có mặt.
Địa chỉ: Đường N, khu phố S, phường R, tỉnh An Giang (Văn bản uỷ
quyền ngày 07/9/2026).
7. Văn phòng Công chứng P.
Địa chỉ: Đường B, khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L – Trưởng Văn phòng
công chứng P; vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Văn Việt T; Những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L1,
ông Lê Thành K, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Phan Văn H và bà Nguyễn Thị P trình bày:
Do cần vốn để làm ăn nên vào ngày 16/01/2023, vợ chồng ông Phan Văn
H, bà Nguyễn Thị P có thế chấp cho ông Văn Việt T bản gốc giấy chứng nhận
QSD đất số DH 909064, thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m², toạ
lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, do Sở tài nguyên và
môi trường tỉnh Kiên Giang cấp ngày 05/12/2022, do ông Phan Văn H đứng tên
chủ sử dụng, để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), lãi suất 3%/tháng
với số tiền 90.000.000 đồng/tháng, nhưng hai bên không làm giấy tay thế chấp.
Để đảm bảo cho việc vay số tiền nói trên ông Văn Việt T yêu cầu vợ chồng
ông H, bà P phải ký văn bản thỏa thuận và cam kết thuê lại thửa đất trên với giá
90.000.000đ/tháng, đồng thời ông T yêu cầu vợ chồng ông H, bà P làm thêm hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nói trên cho ông T tại phòng
công chứng. Vì cần vốn làm ăn nên vợ chồng ông H, bà P đã đồng ý. Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà P và ông Văn Việt
T ký kết ngày 16/01/2023 do Văn phòng công chứng P chứng thực số 342, quyển
số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Thời gian đầu ông H, bà P trả tiền lãi đầy đủ cho ông T và đã trả lãi cho
ông T được hơn 07 tháng tương đương số tiền 630.000.000 đồng. Sau đó, do tình
hình kinh tế làm ăn không được nên vợ chồng ông H, bà P không có khả năng
trả tiền lãi cho ông T nữa và cũng xin ông T giảm tiền lãi nhưng ông T không
3
đồng ý. Do chưa có khả năng trả lãi và giao trả tiền vốn gốc cho ông T, thì ông
T doạ nói sẽ làm thủ tục sang tên và chiếm giữ thửa đất nói trên của vợ chồng
ông H, bà P. Trong khi đó vợ chồng ông H, bà P chỉ vay tiền của ông T và cũng
trả lãi đầy đủ cho ông T được số tiền 630.000.000 đồng, nhưng do tình hình kinh
tế làm ăn không được nên không trả tiếp tiền lãi nữa thì ông T không đồng ý cho
vợ chồng ông H, bà P chuộc lại thửa đất đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay
và cố tình chiếm giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất của vợ
chồng ông.
Do đó, ông H, bà P đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông
Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký kết ngày 16/01/2023 do
Văn phòng công chứng P chứng thực số 342, quyển số 01/2023 TP/CC-
SCC/HĐGD, đối với thửa số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại
khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu
P, tỉnh An Giang), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 909064 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang cấp ngày 05/12/2022 do Phan Văn
H đứng tên quyền sử dụng.
- Hủy bỏ Văn bản thỏa thuận và cam kết giữa vợ chồng Phan Văn H,
Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký kết ngày 16/01/2023 đối với thửa đất số 73,
tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố
P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang), theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DH 909064 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Kiên Giang cấp ngày 05/12/2022 do Phan Văn H đứng tên quyền sử dụng.
- Buộc ông Văn Việt T giao trả lại cho ông H, bà P bản gốc giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DH 909064 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Kiên Giang cấp ngày 05/12/2022 do Phan Văn H đứng tên quyền sử dụng.
- Ông H, bà P đồng ý trả lại ông T số tiền gốc đã vay của ông T là 03 tỷ
đồng. Yêu cầu Tòa án tính lại lãi suất theo quy định pháp luật đối với số tiền gốc
03 tỷ đồng từ ngày 16/01/2023.
Trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm, ông Phan Văn H
và bà Nguyễn Thị P mới biết được ông Văn Việt T đã đem thửa đất của vợ chồng
ông chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Quốc V, nên vợ chồng ông H, bà
P đã làm đơn yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn Việt T
và ông Nguyễn Quốc V số chứng thực 185 quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/01/2024 tại Văn phòng công chứng P đối với thửa đất số
73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành
phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang), theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 909064 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Kiên Giang cấp ngày 05/12/2022.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 244235, thửa đất số 73,
tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố
P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang) do Chi nhánh
4
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc cấp ngày 06/02/2024 đứng tên
ông Nguyễn Quốc V.
- Buộc ông Nguyễn Quốc V giao trả lại ông Phan Văn H và bà Nguyễn
Thị P quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số
99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên
Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang).
Bị đơn ông Văn Việt T và người đại diện theo ủy quyền là ông Hồ
Ngọc H trình bày:
Trước đây vợ chồng ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P có đến tìm ông
Văn Việt T trao đổi thương lượng vay mượn hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số tiền là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Do hoàn cảnh nợ nần, đang thiếu
vốn làm ăn. Vì tình nghĩa ông T đã đồng ý với hình thức chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, ông T cũng phải đi vay mượn của người khác và ngân hàng để đủ
số tiền nêu trên. Đến ngày 16/01/2023, ông T và vợ chồng ông Phan Văn H, bà
Nguyễn Thị P ra làm thủ tục công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, loại đất trồng cây lâu năm,
trên đất có một căn nhà tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên
Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang). Ngay sau khi ông T và vợ
chồng ông H, bà P ký công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong, ông
T đã giao đủ số tiền 03 tỷ đồng cho vợ chồng ông H, bà P và vợ chồng ông H,
bà P có thỏa thuận cam kết chung với ông T với nội dung: Trong thời hạn 06
tháng, nếu như vợ chồng ông H, bà P không trả đủ số tiền thuê nhà hàng tháng
và không mua lại nhà và đất nói trên thì ông T được quyền đơn phương hủy hợp
đồng thuê nhà và được quyền làm các thủ tục khác như đăng bộ sang tên ông T
hoặc cầm cố, thế chấp, sang nhượng cho người khác. Vợ chồng ông H, bà P
không được cản trở hay khiếu nại gì về sau, vì đã hết thời hạn bảo lưu tài sản và
ngược lại trong thời hạn bảo lưu ông T cũng không được quyền đăng bộ sang
tên cũng như không thế chấp, cầm cố, tặng cho, bảo lãnh, thực hiện một nghĩa
vụ dân sự cho người nào khác. Trong suốt thời gian 06 tháng ông T đã thực hiện
đúng như cam kết, nhưng về phía vợ chồng ông H không thực hiện đúng theo
giao kèo cam kết, quá thời hạn 06 tháng vợ chồng ông H, bà P không trả lại đủ
số tiền thuê nhà và đất và cũng không mua lại được nhà đất nêu trên. Sau đó,
ông T đã chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Quốc V theo
quy định pháp luật và hiện nay quyền sử dụng đất đã được cấp đổi sang tên ông
V và ông V là người đang trực tiếp quản lý nhà đất.
Do đó, đối với các yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của
ông H, bà P thì ông T không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Nguyễn Văn V, bà
Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê
Thành K (do ông Trà T là người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Giữa ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L với ông
Phan Văn H là anh em cùng cha khác mẹ, ông V, bà L1, bà L là con người mẹ
lớn, còn H là con của người mẹ nhỏ, còn ông Trà T là chồng bà L và ông K là
5
chồng bà L1. Nguyên nhân giữa ông V, bà L1, bà L và ông H có họ khác nhau
là do anh em bên ông V theo họ bà ngoại do bà ngoại nuôi từ nhỏ, do ba ông V
có vợ sau nên mẹ ông V cho ông V và các chị theo họ bà ngoại. Còn bà Nguyễn
Thị P là vợ của Phan Văn H, còn Văn Việt T thì không có quan hệ thân thích gì
chỉ biết nhau do người ở địa phương. Từ trước đó ông V chưa từng làm ăn hay
giao dịch gì với ông T.
Vào ngày 28/11/2023, ông V biết được ông Hồ Ngọc H có rao bán miếng
đất thửa số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường
D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang trên mạng xã hội thì được biết đây là miếng
đất của ông H, bà P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có
phần mộ của cha ông V, bà L1 và bà L và thông tin từ ông H cho hay là ông T
có rao bán miếng đất này với giá 3,8 tỷ đồng. Do áp lực về việc ông Tuấn đặt
cọc số tiền 500 triệu đồng để mua lại miếng đất này với giá 3,8 tỷ đồng, nên anh
em trong gia đình mới hay việc này và có gặp ông H cùng ông Tuấn để thỏa
thuận về việc giữ lại khu mộ của gia đình, sau đó ông Tuấn không đồng ý đập
bức tường bít lại khu mộ (bức tường bít khu mộ là do ông H và ông H xây trước
đó), nên ông V có bàn lại với anh chị em trong gia đình gồm vợ chồng bà L1,
ông K và vợ chồng bà L, ông Trà T cùng vay ngân hàng để đàm phán lại với
ông H và ông Tuấn để mua lại toàn bộ phần đất này, mục đích là để giữ lại khu
mộ và giữ lại miếng đất của cha ông V, bà L1 và bà L. Sau đó, ông Tuấn đồng
ý rút lại tiền cọc, nên anh em trong gia đình đã cùng nhau vay ngân hàng tiền
3,7 tỷ đồng để mua lại khu đất, tài sản thế chấp của chị L1 nhưng 3 chị em cùng
đóng lãi chung của số tiền vay 3,7 tỷ đồng và để cho ông V là người đại diện
đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Trong tổng số tiền 3,7 tỷ đồng thì mỗi người một phần, chia đều ra
số tiền vay và trách nhiệm đóng lãi của mỗi người như nhau. Mặc dù, hợp đồng
chuyển nhượng công chứng ghi giá chuyển nhượng là 3 tỷ đồng nhưng hai bên
có làm giấy tay ghi giá chuyển nhượng là 3,7 tỷ đồng và bên các ông, bà đã
thanh toán đủ số tiền này cho ông T là 3,7 tỷ đồng.
Hiện nay, quyền sử dụng đất thửa số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích
657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay
là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang) đã được ông V đăng ký xin cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất này và đã đứng tên ông V trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DM
244235 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc cấp ngày
06/02/2024.
Hiện nay, quyền sử dụng đất này vẫn do ông V đại diện đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giữ bản gốc, chưa thực hiện biến động
gì đối với quyền sử dụng đất này thông qua giao dịch nào khác với tổ chức, cá
nhân nào.
Sau khi ông V nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T, ông V
nhận thửa đất và tài sản gắn liền trên đất để quản lý sử dụng, đối với căn nhà
trên đất có sẵn thì ông V giữ nguyên, ông V có chỉnh cầu thang lại, dọn dẹp cây
trồng mặt bằng trên đất, xây mới tường rào một bên và đập bỏ một bên; và xây
6
mới cái am trên đất, cơ bản giống như lời trình bày của ông V trong biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2024 mà Thẩm phán đã ghi lại ý kiến.
Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn H, bà
Nguyễn Thị P thì ông Trà T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
do ông Trà T làm đại diện theo ủy quyền đều không thống nhất. Do việc nhận
chuyển nhượng lại diện tích nhà đất đã hoàn thành đúng quy định pháp luật,
mục đích để giữ lại khu mộ của gia đình, chứ không vì mục đích kinh doanh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A - An Giang đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn H,
bà Nguyễn Thị P.
1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng
ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký kết ngày 16/01/2023
do Văn phòng công chứng P chứng thực số 342, quyển số 01/2023 TP/CC-
SCC/HĐGD, đối với thửa số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại
khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu
P, tỉnh An Giang) là vô hiệu do giả tạo.
(Văn phòng công chứng Phú Quốc không có lỗi).
2. Tuyên bố văn bản thỏa thuận và cam kết không được công chứng, chứng
thực giữa vợ chồng Phan Văn H, Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký kết ngày
16/01/2023 đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại
khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu
P, tỉnh An Giang) là vô hiệu.
3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn
Việt T và ông Nguyễn Quốc V số chứng thực 185 quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/01/2024 tại Văn phòng công chứng P đối với thửa đất số
73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành
phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang) là vô hiệu.
(Văn phòng công chứng Phú Quốc không có lỗi).
4. Buộc ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho
ông Văn Việt T số tiền còn nợ từ hợp đồng vay tài sản là: 3.184.566.000 đồng.
Trong đó: Nợ tiền gốc là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) và nợ tiền lãi là
184.566.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn
đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357,
Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
5. Buộc ông Văn Việt T và ông Nguyễn Quốc V và các ông, bà gồm: ông
Trà T, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành
7
K phải có nghĩa vụ liên đới cùng với ông Văn Việt T để giao trả lại toàn bộ quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P
quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật.
(Về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất trong đó có căn nhà cấp
4, khu mộ, tường rào và sân được thể hiện chi tiết theo: Biên bản xem xét thẩm
định tại chỗ ngày 24/4/2024 của Tòa án, Tờ trích đo địa chính thửa đất số TĐ
237 – 2024 ngày 08/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố
P lập, Chứng thư định giá số 21.2/HĐDV – VATA ngày 13/8/2024 của Công ty
TNHH định giá A; Chứng thư định giá số 058/2025/130/CTĐG ngày 07/10/2025
của Công ty TNHH thẩm định giá và tư vấn E lập).
6. Buộc ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán cho ông
Nguyễn Quốc V giá trị tường rào có kết cấu móng đá, cột BTCT, tường gạch,
sơn nước, nền lát gạch ceramic, kèo sắt, mái ngói do ông V bỏ tiền ra xây dựng
trên đất có giá trị là 159.395.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu ba trăm
chín mươi lăm nghìn đồng).
7. Buộc ông Nguyễn Quốc V và những người liên quan gồm: ông Trà T,
bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành K
phải có trách nhiệm tháo dỡ, di dời mái che tạm và đồ đạc để trong mái che tạm
ra khỏi thửa đất để bàn giao lại thửa đất cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P
quản lý, sử dụng theo quy định (hình ảnh mái che tạm được thể hiện tại Bút lục
158)
8. Do hiện nay ông Nguyễn Quốc V đang đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DM 244235 đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích
657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là
khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố P cấp ngày 06/02/2024, nên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị P được
quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh
sang tên hoặc xin cấp mới lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông
Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P đối với quyền sử dụng đất này theo quy định pháp
luật.
Buộc ông Nguyễn Quốc V phải giao nộp lại bản gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DM 244235 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố P cấp ngày 06/02/2024 cho Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất
đai để điều chỉnh sang tên hoặc cấp mới lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P.
Trường hợp ông Nguyễn Quốc V không giao nộp lại bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DM 244235 đứng tên ông V. Kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DM 244235 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cấp ngày
06/02/2024 đứng tên ông Nguyễn Quốc V, để cấp mới lại Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P đối với thửa đất số 73, tờ
bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang
theo quy định pháp luật.
8
9. Đối với hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Văn Việt T và ông Nguyễn Quốc V số chứng thực 185 quyển số 01/2024
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2024 tại Văn phòng công chứng P đối với thửa đất
số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, khu phố M, phường D, thành phố P,
tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang) bị tuyên bố vô
hiệu. Do ông Văn Việt T và ông Nguyễn Quốc V đều không yêu cầu Tòa án giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong cùng vụ án, mặc dù đã được Tòa án
giải thích cho các ông biết về quyền yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng bị
tuyên vô hiệu nhưng các ông vẫn không yêu cầu, nên sau này có phát sinh tranh
chấp thì các ông được quyền khởi kiện thành vụ kiện khác tại Tòa án có thẩm
quyền để giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngày 09/02/2026, Tòa án nhân dân Khu vực A – An Giang ban hành
Quyết định số 08/2026/QĐ-SCBSBA về việc sửa chữa, bổ sung bản án số
21/2026/DSST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực A – An Giang
như sau:
- Tại dòng thứ 3 đến dòng thứ 11 từ dưới lên trang 11 của bản án đã
ghi:
“Tổng cộng tiền lãi là: 298.800.000 đồng + 784.686.000 đồng =
814.566.000 đồng (Tám trăm mười bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn
đồng). Cấn trừ vào số tiền ông H, bà P đã đóng được cho ông T là 630.000.000
đồng, nên tiền lãi còn lại ông H, bà P có nghĩa vụ thanh toán cho ông T đến ngày
29/01/2026 là: 184.566.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu năm trăm sáu
mươi sáu nghìn đồng).
Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi ông H, bà P có nghĩa vụ trả cho ông T từ
hợp đồng vay tài sản là: 3.184.566.000 đồng (Ba tỷ một trăm tám mươi bốn triệu
năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“Tổng cộng tiền lãi là: 298.800.000 đồng + 784.686.000 đồng =
1.083.486.000 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi ba triệu bốn trăm tám mươi
sáu nghìn đồng). Cấn trừ vào số tiền ông H, bà P đã đóng được cho ông T là
630.000.000 đồng, nên tiền lãi còn lại ông H, bà P có nghĩa vụ thanh toán cho
ông T đến ngày 29/01/2026 là: 453.486.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu
bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi ông H, bà P có nghĩa vụ trả cho ông T từ
hợp đồng vay tài sản là: 3.453.486.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi ba triệu
bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).”
- Tại dòng thứ 14 đến dòng thứ 18 từ dưới lên trang 14 của bản án đã
ghi: “Ông H, bà P phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền có nghĩa vụ thanh
toán cho bị đơn ông Văn Việt T là 3.184.566.000 đồng, án phí được tính là:
72.000.000 đồng + 2% x 1.184.566.000 đồng = 23.691.320 đồng + 72.000.000
đồng = 95.691.000 đồng (Chín mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn
đồng).”
9
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Ông Phan Văn H, bà Nguyễn
Thị P phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền có nghĩa vụ thanh toán cho bị
đơn ông Văn Việt T là 3.453.486.000 đồng, án phí được tính là: 72.000.000 đồng
+ 2% x 1.453.486.000 đồng = 72.000.000 đồng + 29.069.720 đồng =
101.069.720 đồng (Một trăm lẻ một triệu không trăm sáu mươi chín nghìn bảy
trăm hai mươi đồng).”
- Tại dòng thứ 01 đến dòng thứ 03 từ dưới lên trang 15 và dòng thứ
01 đến dòng thứ 02 từ trên xuống trang 16 của bản án đã ghi: “Buộc ông
Phan Văn H và bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Văn Việt T số
tiền còn nợ từ hợp đồng vay tài sản là: 3.184.566.000 đồng. Trong đó: Nợ tiền
gốc là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) và nợ tiền lãi là 184.566.000 đồng (Một
trăm tám mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Buộc ông Phan Văn H và bà
Nguyễn Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Văn Việt T số tiền còn nợ từ hợp
đồng vay tài sản là: 3.453.486.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi ba triệu bốn
trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Trong đó: Nợ tiền gốc là 3.000.000.000 đồng
(Ba tỷ đồng) và nợ tiền lãi là 453.486.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu
bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).”
- Tại dòng thứ 06 đến dòng thứ 14 từ dưới lên trang 17 của bản án đã
ghi: “Ông H, bà P phải chịu án phí có giá ngạch là 95.691.000 đồng (Chín mươi
lăm triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P đã nộp 900.000 đồng theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004414 ngày 16/01/2024 và 900.000 đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006633 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực A – An Giang). Số tiền án phí ông H, bà P còn phải nộp là: 93.891.000
đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng).”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Ông Phan Văn H, bà Nguyễn
Thị P phải chịu án phí có giá ngạch là 101.069.720 đồng (Một trăm lẻ một triệu
không trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi đồng). Được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P đã nộp 900.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004414 ngày 16/01/2024 và 900.000
đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006633 ngày 15/10/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực A – An Giang). Số tiền án phí ông H, bà P còn phải nộp là:
99.269.720 đồng (Chín mươi chín triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm
hai mươi đồng).”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm của tuyên án phí, chi phí tố tụng và báo quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, bị đơn ông Văn Việt T có đơn kháng cáo với
nội dung:
- Đề nghị công nhận Văn bản thỏa thuận và cam kết giữa ông Văn Việt T với
vợ chồng ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P ký kết ngày 16/01/2023 đối với thửa
10
đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D,
thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang);
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 16/01/2023 giữa ông Văn
Việt T với ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số
99, diện tích 657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên
Giang (Nay là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang);
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09/01/2024 giữa ông Văn
Việt T với ông Nguyễn Quốc V đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích
657,7m
2
, tọa lạc tại khu phố M, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay
là khu phố D, đặc khu P, tỉnh An Giang);
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô hiệu Văn bản thỏa thuận và các
hợp đồng chuyển nhượng nêu trên thì ông Văn Việt T yêu cầu nguyên đơn ông H,
bà P phải trả lại cho ông T số tiền gốc và lãi cụ thể như sau: Tiền gốc:
3.000.000.000 đồng + tiền lãi: 3.000.000.000 đồng x 20%/năm (1.66%/tháng) x
30.43 tháng (tính từ ngày 16/7/2023 đến ngày 29/01/2026 là 30 tháng 13 ngày)
1.515.414.000 đồng (tiền lãi). Tổng cộng tiền gốc và lãi ông T yêu cầu là:
4.515.414.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm mười lăm triệu bốn trăm mười bốn nghìn
đồng) và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật cho đến khi trả hết số tiền
nêu trên; yêu cầu trả một lần ngay khi bản án (quyết định) của Tòa có hiệu lực
pháp luật.
Ông Văn Việt T không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản lần 1 là 46.968.644 đồng và chi phi xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản lần 2 là 32.000.000 đồng. Bởi lẽ, dù tuyên công nhận hay vô hiệu Văn
bản thỏa thuận và các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thì nguyên đơn ông Phan
Văn H và bà Nguyễn Thị P vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với ông và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (giao đất hoặc trả tiền). Do đó nguyên đơn ông H,
bà P phải chịu các chi phí tố tụng nêu trên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T,
bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Thành K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội
dung: Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 21/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang để giao hồ sơ giải quyết lại
theo trình tự, thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Phan Văn H có ý kiến thỏa thuận: Ông H, bà P đồng ý
giao cho các ông, bà Nguyễn Quốc V, Trần Thị Kim T, Nguyễn Thị L, Trà T,
Nguyễn Thị L1, Lê Thành K một lần số tiền 04 (bốn) tỷ đồng kể từ ngày Bản án
có hiệu lực pháp luật. Sau khi ông H, bà P thực hiện xong nghĩa vụ trả đủ số tiền
04 (bốn) tỷ đồng thì ông V, bà T, bà L, ông T, bà L1, ông K có trách nhiệm giao
11
trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho ông Phan Văn
H, bà Nguyễn Thị P quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật.
(Về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất trong đó có căn nhà cấp
4, khu mộ, tường rào và sân được thể hiện chi tiết theo: Biên bản xem xét thẩm
định tại chỗ ngày 24/4/2024 của Tòa án, Tờ trích đo địa chính thửa đất số TĐ
237 – 2024 ngày 08/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố
P lập, Chứng thư định giá số 21.2/HĐDV – VATA ngày 13/8/2024 của Công ty
TNHH định giá A; Chứng thư định giá số 058/2025/130/CTĐG ngày 07/10/2025
của Công ty TNHH thẩm định giá và tư vấn E lập).
Người đại diện theo ủy quyền của các ông, bà Nguyễn Quốc V, Trần Thị
Kim T, Nguyễn Thị L, Trà T, Nguyễn Thị L1, Lê Thành K là ông Bùi Hảo T
đồng ý với ý kiến thỏa thuận của ông H.
- Đại diện bị đơn là ông Hồ Ngọc H có ý kiến đồng ý với ý kiến thỏa thuận
của ông H và ông Thủy.
- Bà L1 và ông K đồng ý theo ý kiến thoả thuận giữa các bên và thống nhất
theo ý kiến của người đại diện theo uỷ quyền của mình.
Đại diện Viện kiểm sát ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai
đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều
300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử:
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực A - An Giang; công nhận sự tự nguyện thoả thuận của
các đương sự tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P vắng mặt có đơn xin
xét xử vắng mặt; bị đơn ông Văn Việt T vắng mặt nhưng có người đại diện theo
ủy quyền là ông Hồ Ngọc H tham gia phiên tòa; những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông
Trà T vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Hảo T tham
gia phiên tòa; Văn phòng Công chứng P vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng
mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
[2] Về bản chất giao dịch thực tế và hiệu lực của các văn bản, hợp đồng liên
quan:
Căn cứ vào lời khai thống nhất của các đương sự cùng các tài liệu, chứng
cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Giao dịch thực tế ngày 16/01/2023 giữa ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P với
ông Văn Việt T là giao dịch vay tài sản với số tiền gốc 3.000.000.000 đồng, lãi
suất thỏa thuận 3%/tháng. Nhằm mục đích bảo đảm cho khoản vay nêu trên, các
12
bên đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m² (theo Giấy chứng nhận QSDĐ số DH
909064) và lập "Văn bản thỏa thuận và cam kết" cùng ngày 16/01/2023.
Xét thấy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/01/2023
được xác lập nhằm che giấu giao dịch vay tài sản. Do đó, theo quy định tại khoản
1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chuyển nhượng nêu trên bị vô
hiệu do giả tạo. Văn bản thỏa thuận và cam kết ký cùng ngày cũng là giao dịch
phụ thuộc nhằm bảo đảm cho hợp đồng giả tạo nên hoàn toàn không có giá trị
pháp lý.
Do Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/01/2023 bị vô
hiệu, bị đơn ông Văn Việt T không được quyền xác lập quyền sử dụng đất hợp
pháp đối với thửa đất số 73 nêu trên. Việc ông T tiếp tục ký Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/01/2024 cho ông Nguyễn Quốc V là hành vi
định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình. Vì vậy,
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Văn Việt T và ông Nguyễn Quốc V ngày 09/01/2024 bị vô hiệu là hoàn toàn
có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Phan Văn H (đồng thời thay mặt
cho bà Nguyễn Thị P), đại diện bị đơn ông Hồ Ngọc H và đại diện những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hảo T cùng bà Nguyễn Thị L1, ông Lê
Thành K đã tự nguyện bàn bạc, thống nhất và đi đến sự thỏa thuận toàn bộ về
việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Nguyên đơn ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm giao trả
cho các ông bà Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà
T, bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Thành K số tiền 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng kể
từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ngay sau khi ông H, bà P giao đủ số tiền 4.000.000.000 đồng nêu trên,
các ông bà Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T,
bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Thành K có trách nhiệm bàn giao lại toàn bộ quyền
sử dụng đất thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m² cùng toàn bộ
tài sản gắn liền trên đất cho ông H, bà P quản lý, sử dụng; đồng thời giao lại bản
gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 244235 do Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố P cấp ngày 06/02/2024 đứng tên ông Nguyễn Quốc
V.
- Ông Nguyễn Quốc V và những người liên quan gồm: ông Trà T, bà Trần
Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành K phải có
trách nhiệm tháo dỡ, di dời mái che tạm và đồ đạc để trong mái che tạm ra khỏi
thửa đất để bàn giao lại thửa đất cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P quản lý,
sử dụng theo quy định.
13
- Đại diện bị đơn ông Văn Việt T là ông Hồ Ngọc H hoàn toàn đồng ý với
nội dung thỏa thuận nêu trên, đồng thời các bên thống nhất việc giao nhận số
tiền 4.000.000.000 đồng này giải quyết dứt điểm toàn bộ quan hệ vay nợ gốc/lãi,
các hợp đồng chuyển nhượng, chi phí nhận chuyển nhượng và chi phí đầu tư xây
dựng/di dời tài sản trên đất giữa tất cả các đương sự trong vụ án.
- Về chi phí tố tung: Các đương sự tự chịu đối với phần chi phí đã nộp tạm
ứng tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Xét thấy: Nội dung thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện rõ sự tự
nguyện của các đương sự, không bị ép buộc hay lừa dối; các bên có đầy đủ năng
lực hành vi tố tụng; nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội và bảo đảm giải quyết triệt để, toàn diện quyền, nghĩa vụ tài
sản của tất cả các bên. Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận sự thỏa thuận
tự nguyện của các đương sự và sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST
ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A - An Giang.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do các đương sự thỏa thuận được với nhau tại
phiên tòa phúc thẩm nhưng không thỏa thuận về án phí dân sự sơ thẩm, Hội đồng
xét xử xác định nghĩa vụ án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 300 Bộ
luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các khoản án phí
sơ thẩm được xác định lại phù hợp với nội dung giải quyết tại bản án phúc thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm thì đương sự kháng cáo phải chịu
toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, bị đơn ông Văn Việt T và những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà
Nguyễn Thị L, ông Trà T, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành K, mỗi người
chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được khấu trừ vào tiền tạm ứng
án phí đã nộp.
[7] Về chi phí tố tụng: Các khoản chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và
chi phí thẩm định giá đã được cấp sơ thẩm xác định. Việc sửa bản án tại cấp
phúc thẩm chủ yếu do các đương sự tự thỏa thuận nên không có căn cứ xác định
cấp sơ thẩm có lỗi về nội dung giải quyết vụ án. Nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng
được xác định theo nội dung thỏa thuận của các đương sự tại phiên toà.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Áp dụng các Điều 117, 119, 122, 124, 131 và 133 Bộ luật dân sự năm
14
2015; Điều 26 và khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Văn Việt T; chấp nhận một
phần kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T, bà Nguyễn Thị L1 và
ông Lê Thành K.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực A - An Giang.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan
Văn H, bà Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký ngày 16/01/2023, được Văn
phòng Công chứng P chứng thực số 342, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD,
đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m², tọa lạc tại khu phố D,
đặc khu P, tỉnh An Giang, là vô hiệu do giả tạo.
2. Tuyên bố văn bản thỏa thuận và cam kết giữa ông Phan Văn H, bà
Nguyễn Thị P và ông Văn Việt T ký ngày 16/01/2023 đối với thửa đất nêu trên
là vô hiệu.
3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn
Việt T và ông Nguyễn Quốc V, số chứng thực 185, quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/01/2024 tại Văn phòng Công chứng P đối với thửa đất số
73, tờ bản đồ số 99, diện tích 657,7m² là vô hiệu.
4. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm
như sau:
- Ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn
Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, ông Trà T, bà Nguyễn Thị L1 và
ông Lê Thành K số tiền 4.000.000.000 (Bốn tỷ) đồng kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật.
- Sau khi ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P giao đủ số tiền 4.000.000.000
(Bốn tỷ) đồng thì ông Nguyễn Quốc V, bà Trần Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L,
ông Trà T, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành K có trách nhiệm giao trả toàn
bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 73, tờ bản đồ
số 99, diện tích 657,7m² cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P quản lý, sử dụng
theo quy định pháp luật; đồng thời giao lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DM 244235 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P
cấp ngày 06/02/2024 đứng tên ông Nguyễn Quốc V.
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được giao trả theo nội dung
thỏa thuận này được xác định theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
24/4/2024, Tờ trích đo địa chính thửa đất số TĐ 237-2024 ngày 08/5/2024 của
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P và các chứng thư định giá có
trong hồ sơ vụ án.
- Ông Nguyễn Quốc V và những người liên quan gồm: ông Trà T, bà Trần
Thị Kim T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thành K phải có
trách nhiệm tháo dỡ, di dời mái che tạm và đồ đạc để trong mái che tạm ra khỏi
thửa đất để bàn giao lại thửa đất cho ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P quản lý,
15
sử dụng theo quy định (hình ảnh mái che tạm được thể hiện tại Bút lục 158).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với
khoản tiền phải thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo Điều 357 và khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí có giá ngạch là:
112.000.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Phan Văn H, bà
Nguyễn Thị P đã nộp 900.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004414
ngày 16/01/2024 và 900.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006633
ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A – An Giang). Số tiền án phí ông H, bà P
còn phải nộp là: 110.200.000 đồng (Một trăm mười triệu hai trăm nghìn đồng)
- Ông Văn Việt T phải chịu án phí không có giá ngạch là: 900.000 đồng
đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí
sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án
phí ông T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000612
ngày 09/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông V, bà T, ông T, bà L,
ông K, bà L1 phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án
phí ông V, bà T, ông T, bà L, ông K, bà L1 đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai số 0000461 ngày 09/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An
Giang.
7. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị P phải chịu chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản lần 1 tổng cộng
46.968.644 đồng, ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị P đã thanh toán xong. Ông
T phải chịu chi phí thẩm định giá lần 2 là 32.000.000 đồng và đã thanh toán
xong.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-Toà phúc thẩm TANDTC tại TPHCM; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện Phúc thẩm 3;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực A - AG;
- Phòng THADS khu vực A - AG;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ
Lại Hiệp Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 458/2026/DS-PT Bản án số 458/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 458/2026/DS-PT Bản án số 458/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất