Bản án số 262/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 262/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 262/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 262/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Th - Tạ Thiên A
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 262/2026/DS-PT
Ngày 04 - 9 - 2026
V/v yêu cầu buộc tháo dỡ
công trình liền kề và bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Văn Hảo, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 131/2026/DS-PT ngày 01 tháng
7 năm 2026 về việc “yêu cầu buộc tháo dỡ công trình liền kề và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng”; Do Bản án dân sự sơ thẩm số 249/2026/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số 246/2026/QĐ-PT ngày 03 tháng 8 năm 2026 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990 và ông Nguyễn Kiều Đ,
sinh năm 1982; Cùng địa chỉ: Số H C, phường N, thành phố Đà Nẵng (đều có mặt).
- Bị đơn: Ông Tạ Thiên Â, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số I C, phường N, thành phố
Đà Nẵng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1988; Địa
chỉ: Số I C, phường N, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
ơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Kiều Đ trình bày:
Ngày 27/6/2017, vợ chồng ông, bà ký hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất tại Văn phòng C với bên thuê là ông Tạ Thiên Â; Thời hạn thuê: 05
2
năm (kể từ ngày 01/07/2017) để kinh doanh quán café M. Tài sản thuê là: quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số 17; địa chỉ thửa đất: Số nhà H C, N, thành phố
Đà Nẵng; diện tích 100 m
2
đất ở đô thị; tài sản gắn liền với đất: nhà ở riêng lẻ; diện tích
sàn 142,50m
2
; diện tích xây dựng 92,50m
2
.
Tháng 4 năm 2020, ông  trả nhà vì ông  thuê được đất trống bên cạnh (lô 91-
95 C, N, Đà Nẵng), vợ chồng ông, bà không hề phạt ông  theo hợp đồng và tạo điều
kiện cho ông  thanh lý hợp đồng để yên tâm kinh doanh, ông  có hỗ trợ cho vợ
chồng ông bà 20 triệu đồng để sơn lại bên trong nhà để ở. Trong quá trình làm công
trình quán C1 tại địa chỉ 9 C như hiện nay, ông Tạ Thiên  không xây tường quán mà
nhân lúc vợ chồng bà bận và không thường xuyên ở nhà, ông  đã sử dụng bờ tường
ngoài nhà của vợ chồng ông, bà để làm tường quán café và đã tự ý lắp đặt ống sắt, dàn
điều hòa và xà gồ vào nhà bà T là số nhà H C, N, thành phố Đà Nẵng (bà không biết lô
91-95 Chương Dương cơ quan nào cấp giấy phép xây dựng mà lại không xây tường
nhưng gắn giàn sắt và sử dụng tường nhà bà như vậy). Vợ chồng ông, bà đã nhiều lần
yêu cầu tháo mọi giàn sắt đòn đông ở lầu 1 và 2 của lô đất 91-95 C đã gắn vào giàn sắt,
tường nhà vợ chồng ông bà, các giàn máy điều hòa quán café M1, cục N và các vít bắt
ống gắn vào bờ tường của 2 lầu nhưng 5 năm nay ông  không chịu tháo. Nếu bà T
tháo gỡ để xây nhà thì quán café của ông  sẽ có nguy cơ sụp đổ nên vợ chồng ông, bà
không tự tháo. Đồng thời, ông  tự ý sơn vẽ lên tường nhà vợ chồng bà mà không có sự
cho phép của vợ chồng bà.
Vợ chồng ông bà đã làm văn bản gửi phường N, thành phố Đà Nẵng yêu cầu can
thiệp giải quyết tranh chấp và sau đó Ủy ban nhân dân phường N mời các bên lên hòa
giải vào ngày 10/7/2025 với nhiều nội dung nhưng hai bên không thống nhất.
Ngày 25/7/2025, Ủy ban nhân dân phường N đã trả lời cho vợ chồng bà bằng
Công văn 213/PKTHTĐT về nội dung việc ông  lắp đặt ống sắt, dàn điều hòa và xà gồ
nhà bên 89 C: “nội dung này do hai bên không thống nhất cách xử lý của Phòng kinh
tế, hạ tầng và Đô thị đề xuất nên đề nghị bà T gửi đơn ra Tòa án để xử lý về việc tranh
chấp.”
Nay vợ chồng bà yêu cầu Tòa giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Tạ Thiên  phải tự tháo dỡ mọi giàn sắt đòn đông ở lầu 1 và 2 của lô
đất 91-95 C gắn vào giàn sắt và tường nhà vợ chồng bà tại địa chỉ H C, N; tháo gỡ toàn
bộ các giàn máy điều hòa, cục nóng điều hòa và các vít bắt ống giàn sắt gắn vào bờ
tưởng của nhà bà, trám bít lại toàn bộ tường đã bị ông Tạ Thiên  đục, đóng đinh vít và
giàn sắt vào tường; buộc ông Tạ Thiên  không được sử dụng bờ tường ngoài nhà bà
làm tường quán C1. Đồng thời sơn trả lại mặt tường nhà bà như lúc ban đầu.
- Buộc ông Tạ Thiên  bồi thường các thiệt hại sau:
- Tổn thất mặt tinh thần với số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)
- Sau khi tháo gỡ sẽ mua xi măng, sơ lại tường, công trám, số tiền là: 18.000.000
đồng (mười tám triệu đồng): S và công sơn: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng y) + Xi
măng và công trám: 8.000.000 đồng (tám triệu đồng y)
3
- Tiền ông Tạ Thiên  sử dụng tài sản gắn liền với đất của bà hơn 05 năm nay đã
dùng bán café: 2.000.000/ tháng x 63 tháng = 126.000.000 đồng (một trăm hai sáu triệu
đồng y).
Theo mức giá thị trường khu vực xung quanh giá thuê đất trống đã 20.000.000
đồng 1 lô/tháng (hai mươi triệu đồng/tháng).
- Chi phí bà T phải thuê luật sư: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- Tổng chi phí ông Tạ Thiên  bồi thường cho bà T là: 214.000.000 đồng (hai
trăm mười bốn triệu đồng).
* Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Tạ Thiên  đã giải
quyết xong về việc tháo dỡ mọi giàn sắt đòn đông ở lầu 1 và 2 của lô đất 91-95 C gắn
vào giàn sắt và tường nhà bà Nguyễn Thị Thanh T tại địa chỉ H C, N; tháo dỡ toàn bộ
các giàn máy điều hòa, cục nóng điều hòa và các vít bắt ống giàn sắt gắn vào bờ tường
của nhà bà, trám bít lại toàn bộ tường đã bị ông Tạ Thiên  đục, đóng đinh vít và giàn
sắt vào tường. Tại phiên toà sơ thẩm, bà T rút yêu cầu này.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại: Vợ chồng bà T yêu cầu:
- Tiền ông Tạ Thiên  sử dụng tài sản gắn liền với đất của bà để dùng bán café:
2.000.000 đồng/ tháng x 45 tháng (tháng 02/2021- tháng 10/2025) = 90.000.000 đồng
(chín mươi triệu đồng).
Theo mức giá thị trường khu vực xung quanh giá thuê đất trống một lô đã
20.000.000 đồng/tháng (hai mươi triệu đồng/tháng).
Tổng chi phí ông Tạ Thiên  bồi thường cho vợ chồng bà T là: 90.000.000 đồng
Đối với các yêu cầu khác gồm: Bồi thường thiệt hại về tinh thần, chi phí mua xi
măng về trám lại tường, sơn vôi tường…, chi phí thuê luật sư thì vợ chồng bà T rút các
yêu cầu này tại phiên toà.
* Bị đơn ông Tạ Thiên  trình bày:
Tầng 2 hiện trạng đòn đông và mái tôn của 2 nhà dính liền nhau. Do trước đây
ông có thuê nhà của bà Nguyễn Thị Thanh T và lô đất bên cạnh để kinh doanh, có thỏa
thuận để lại tài sản trên nhà bà T sau khi hết hợp đồng, những gì không cần thì tháo dỡ.
Cụ thể thợ đang tháo dỡ vách kính, sắt thì gia đình bà T bảo dừng lại, sau này mẹ chồng
và chồng bà T qua xin lại kính về dùng, có nói năm sau xây nhà thì trả lại; còn phần mái
nhà giữ nguyên cho hai bên sử dụng, vì để 2 bên không bị rỉ nước và phần mái bên nhà
bà T kết cấu chịu lực yếu hơn, sau này ai có nhu cầu xây sửa nhà thì tự cắt ra. Vấn đề
này ông  có trình bày tại cuộc họp với phường N ngày 10/7/2025. Nếu bà T có nhu
cầu thì tự cắt ra, bên ông  tạo điều kiện thuận lợi để làm và chịu mọi trách nhiệm rủi
ro về tài sản nếu có sự cố xảy ra phía bên ranh giới quán cà phê của ông Â.
Tầng 1 không có bất cứ giàn sắt nào liên quan đến nhà bà T, chỉ tiếp giáp sát mặt
tường. Vật dụng ông trang trí được nối trực tiếp từ giàn sắt của quán cà phê của ông,
không có khoan, đục vô nhà bà T từ khi thanh lý hợp đồng.
4
Hiện tại các cục điều hòa lạnh và nóng, giàn sắt, không liên quan đến nhà bà T.
Đã gỡ các cục điều hòa lạnh trong nhà cách đây mấy năm theo yêu cầu của bà T, 2 cục
điều hòa lạnh này được bắt khi còn thuê nhà bà T và khi thanh lý hợp đồng thuê nhà,
gia đình bà T đều biết và cho để lại.
Ốc sắt còn sót trên tường nhà bà T đưa ra tại cuộc họp ở phường N ngày
10/7/2025. Ông đã trình bày nhà bà T kiện ông ra phường trong khi giàn sắt họ thò qua
bên quán cà phê của ông Â, họ cắt xong thì ông cắt (những con ốc này là thực trạng
cách đây 5 năm khi thanh lý hợp đồng họ đã kiểm tra và đều biết).
Tường nhà bà T đã xây hết diện tích đất của mình, thực trạng đã có khi bàn giao
bà T đã biết, ông không có phát sinh thêm vào tường của bà T và không có nhu cầu sử
dụng tường của gia đình bà T.
Việc yêu cầu bồi thường của bà T: Ông thấy vô lý, không có cơ sở và đã bồi
thường những gì theo yêu cầu trước khi thống nhất các vấn đề để ra công chứng thanh
lý hợp đồng.
Các vấn đề liên quan đến nhà: Ông đã bồi thường và gửi tiền cho thợ bà T với số
tiền 18 triệu và họ đã làm thêm những việc xử lý chống thấm sàn bê tông mái không
liên quan đến trách nhiệm của ông. Nhà bà T cùng thợ của bà T kiểm tra tất cả và đồng
ý thực trạng đó mới thống nhất với ông và cùng ký hợp đồng thanh lý thuê nhà, công
chứng vào ngày 21/7/2020, số công chứng 167 quyển số 01H TP/CC- SCC/HĐGD.
Về tổn thương mặt tinh thần: Bà T đã yêu cầu vô lý và vu khống ông. Ngược lại
nhà bà T đã có những hành vi, hành động cố ý gây áp lực, mất trật tự xã hội, ảnh hưởng
đến tinh thần gia đình và việc kinh doanh của ông.
Từ những ý kiến trên, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1: Thống nhất với ý kiến
của bị đơn ông Tạ Thiên Â.
Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 249/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã quyết định như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh
T, ông Nguyễn Kiều Đ đối với bị đơn ông Tạ Thiện Â1 về việc “Buộc tháo dỡ công
trình liền kề và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”
- Buộc ông Tạ Thiên  có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh T,
ông Nguyễn Kiều Đ số tiền: 1.000.000/ tháng x 45 tháng = 45.000.000 đồng (Bốn mươi
lăm triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn Kiều Đ
đối với ông Tạ Thiên  về việc buộc ông Tạ Thiên  phải tháo dỡ mọi giàn sắt, các
giàn máy điều hòa, cục nóng điều hòa và các vít bắt ống giàn sắt gắn vào bờ tường của
nhà bà T.
5
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn Kiều Đ
đối với ông Tạ Thiên  về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần, chi phí mua xi
măng về trám lại tường, sơn vôi tường… chi phí thuê luật sư.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, các chi phí tố tụng khác và
quyền kháng cáo cho các đương sự biết.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 28/5/2026, ông Tạ Thiên  nộp đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về vụ án như sau:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Tạ Thiên Â, giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ngày 28/5/2025, ông Tạ Thiên  nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời
hạn luật định, xét thấy đơn kháng cáo là hợp lệ theo quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét kháng cáo.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Tạ Thiên  thì thấy:
Ngày 27/6/2017, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Kiều Đ ký Hợp đồng
cho thuê nhà đất tại H C, phường N thành phố Đà Nẵng đối với ông Tạ Thiên  và bà
Trần Thị T1. Theo hợp đồng thể hiện, ông  thuê nhà đất thời hạn 5 năm với mục đích
kinh doanh cà phê; giá thuê cho 2 năm đầu là 15.000.000 đồng, năm thứ 3 là
16.500.000 đồng, từ năm thứ 4 là 18.000.000 đồng. Đến ngày 21/7/2020, hai bên thỏa
thuận thanh lý hợp đồng. Sau đó, ông  thuê các lô đất sát bên nhà bà T để xây dựng
quán kinh doanh cà phê.
Quá trình xây dựng, hai bên phát sinh mâu thuẫn, bà T cho rằng ông  tự ý sử
dụng bức tường nhà bà để gắn giàn sắt đòn đông ở tầng 1 và 2 của lô đất 95 C vào dàn
sắt và tường nhà bà, gắn dàn điều hòa cục nóng điều hòa và bắt các vít, bắt ống dàn sắt
vào tường nhà bà, tự ý sử dụng bức tường ngoài để làm tường quán cà phê, vẽ và trang
trí trên bức tường của nhà bà. Từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 10 năm 2025, bà yêu cầu
ông  phải tháo dỡ các công trình liền kề nhưng ông  không thực hiện mặc dù chính
quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vì vậy bà khởi kiện yêu
cầu ông Ân T2 dỡ và bồi thường thiệt hại.
6
Quá trình giải quyết vụ án, ông  đã tháo dỡ toàn bộ công trình gắn vào tường
nhà của bà T2 và đã sơn trám lại bức tường. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà T2 đã rút các
yêu cầu đối với phần buộc tháo dỡ công trình gắn với tường nhà, rút yêu cầu bồi thường
tổn thất tinh thần và chi phí sơn sửa bức tường nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối
với yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ.
Riêng yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà T2 đối với ông  về việc ông  đã sử
dụng bức tường nhà bà T2 để kinh doanh cà phê. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời
khai của ông  tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm hôm nay thể hiện thực tế ông  đã
sử dụng tường nhà của bà T2 để làm tường quán cà phê kinh doanh là có thật như bắt
vít vào tường, vẽ tranh, treo tranh trên tường và sử dụng bức tường làm bức tường nhà
bà T2 không còn nguyên vẹn, gây mất thẩm mỹ, làm giảm sút việc sử dụng tài sản. Mặc
dù bà T2 đã nhiều lần yêu cầu ông  phải tháo dỡ công trình gắn trên tường nhà bà
nhưng ông  không thực hiện. Như vậy ông  đã vi phạm Điều 176 Bộ luật Dân sự về
mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản, đã xâm phạm đến tài sản của bà T2 từ việc
sử dụng tường nhà để kinh doanh và hưởng lợi từ tài sản này. Căn cứ vào mức giá thuê
nhà theo hợp đồng và thực tế thiệt hại xảy ra, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông  phải có
nghĩa vụ bồi thường cho bà T2 số tiền 45.000.000 đồng (1.000.000 đồng x 45 tháng =
45.000.000 đồng) là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Â, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Tạ
Thiên  phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, 167, 170, 176, 584,
585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
I. Không chấp nhận kháng cáo của ông Tạ Thiên Â, giữ nguyên quyết định Bản
án dân sự sơ thẩm số 249/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Đà Nẵng về phần bồi thường thiệt hại.
1. Buộc ông Tạ Thiên  có có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh T
và ông Nguyễn Kiều Đ số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền
phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong
khoản tiền nêu trên.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Tạ Thiên  phải chịu 2.250.000 đồng (Hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn
đồng).
7
Bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn Kiều Đ phải chịu 2.250.000 đồng (Hai
triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo Biên lai thu số 0003350 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố
Đà Nẵng. Vậy hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Kiều Đ số tiền
3.100.000 đồng.
II. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Tạ Thiên  phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo
Biên lai số 0006346 ngày 15/6/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
IV. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 2 - Đà Nẵng;
- TAND khu vực 2 - Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Thị Phi Yến
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất