Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 29/09/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 29/09/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 45/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 45/2025/DS-PT
Ngày 29 - 9 - 2025
V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Hoàng Hải Anh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân; Bà Trần Thị Khánh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoan – Thư ký viên chính.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLPT- DS
ngày 13 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/ DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Toà án nhân dân khu 6) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2025/QĐ-PT ngày
28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Phùng Thị O
Địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay Tổ F, phường L,
tỉnh Lào Cai). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Thanh G
Địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nay là: Tổ F, phường L,
tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
2. Bị đơn:Trần Thị H và ông Nguyễn Minh D.
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (nay là số
nhà A đường T, phường L, tỉnh Lào Cai).
Chỗ hiện nay: Số nhà B, đường H, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai,
(nay là số nhà B, đường H, phường C, tỉnh Lào Cai).
Người đại diện theo uỷ quyền của D: Ông Hoàng Minh D1
Địa chỉ: P, Tòa nhà G, số A V, phường Y, Quận C, thành phố Hà Nội (nay là
Phường Y, thành phố Hà Nội). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn - Trấn Thị H1 và ông Nguyễn Minh D
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn bà Phùng Thị O trình bày: Do có mối quan
hệ quen biết, nên ngày 08/4/2016 cho H1, ông D vay số tiền 2.390.000.000
đồng, thời hạn một tháng kể từ ngày 08/4/2016 đến 08/5/2016 để làm vốn kinh
doanh, lãi suất 2,5%/tháng. Sau khi viết giấy vay tiền bà O đã đưa đủ số tiền cho
H1, ông D như thoả thuận. Hết thời hạn, mặc dù bà O yêu cầu nhiều lần nhưng ông
H1, D không trả số tiền vay trên. Đến tháng 12/2023 ông D trả cho bà
100.000.000 đồng tiền lãi, từ đó đến nay không trả bà khoản tiền nào.
Nay bà O khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Huyền D2 thanh
toán trả cho bà số tiền nợ gốc 2.390.000.000 đồng, lãi suất trong tháng đầu không
tính, từ tháng 8/5/2016 yêu cầu ông D2, H1 phải thanh toán tiền lãi suất
0,5%/tháng của số tiền 2.390.000.000 đồng, cụ thể: 2.390.000.000đ x 0,5%/tháng x
104 tháng = 1.114.720.000đ, trừ đi số tiền lãi 100.000.000đ ông D2 đã trả vào
tháng 12/2023, còn lại số tiền nợ lãi 1.014.720.000đ. Tổng cộng cả gốc lãi
3.404.720.000đ (Ba tỉ, bốn trăm linh bốn triệu, bẩy trăm hai mươi nghìn đồng).
Bị đơn Trần Thị H trình bày: Đầu năm 2014 ông bà H, D2 vay của
Phùng Thị O số tiền 700.000.000đ, với lãi suất là 2.500đ/1 triệu/ngày , đến ngày
15/02/2015 bà H đã thanh toán cho bà O số tiền gốc là 700.000.000đ và một số tiền
lãi tại nhà O, trả bằng tiền mặt chứ không chuyển khoản, nợ lại một phần tiền lãi.
Ngày 08/4/2015 vợ chồng O sang nhà yêu cầu ông H, D2 vay số tiền
2.390.000.000đ, nhưng thực tế vợ chồng chị H không vay số tiền này.
Bị đơn ông Nguyễn Mạnh D3 trình bày: Năm 2013-2014 vợ chồng ông D3
đã nhiều lần vay tiền của O với tổng số tiền 700.000.000đ, lãi suất 2.500đ/1
triệu/ngày. Tháng 4/2016 O tính lãi số tiền lên đến 2.390.000.000đ, thực tế số
tiền này là số tiền lãi của số tiền gốc 700.000.000đ vợ chông ông D3 vay trước đó.
O nhiều lần gọi điện và đến nhà vợ chồng ông D3 yêu cầu trả tiền, ông D3 đã trả
cho O số tiền 100.000.000đ trong số 2.390.000.000đ. Do công việc làm ăn của
ông D3 không thuận lợi, không có thu nhập nên ông D3 nói với bà Okhi nào
thu nhập ông D3 trả dần. Nay O khởi kiện, ông D3 đề nghị Toà án xem xét
khách quan, thấu tình đạt lý.
Tại bản án số: 23/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lào Cai) quyết
định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều
144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288; Điều 465; Điều 466; Điều 468
của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Trần Thị H ông Nguyễn Minh D phải có trách nhiệm liên đới thanh
toán trả cho bà Phùng Thị O số tiền nợ gốc 2.390.000.000đ (Hai tỷ, ba trăm chín
mươi triệu đồng) và tiền lãi là 1.014.720.000đ (Một tỷ, một trăm linh bốn triệu, bảy
trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng cả gốc lãi 3.404.720.000đ (Ba tỷ, bốn trăm
linh bốn triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí, lãi xuất chậm thi hành án, quyền
kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 10/7/2025 bị đơn ông Nguyễn Minh D và bà Trần
Thị H kháng cáo toàn bộ bản án số 23/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 và yêu cầu Toà
án cấp phúc thẩm xem xét huỷ bản án trên và chuyển hồ cho Toà án nhân dân khu
vực 6, tỉnh Lào Cai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Phùng Thị O giữ nguyên yêu cầu khởi
kiên; bị đơn ông Nguyễn Minh D và bà Trần Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh n Bái tham gia phiên tòa phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền
nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự
2015; Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị H, ông Nguyễn Minh D, giữ
nguyên bản án thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân
thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lào Cai).
- Về án phí: Trần Thị H và ông Nguyễn Minh D phải chịu án phí phúc thẩm
theo quy định ca pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến ca Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
[1.1]. Xét đơn kháng cáo và biên lai thu tiền tạm ứng án phí của bà Trần Thị H
được nộp trong hạn luật định, đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Toà án cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án: Hợp đồng
vay tài sản” đúng, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1
Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân
dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lào
Cai).
[1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn - bà Phùng Thị O; đại diện theo ủy
quyền của bị đơn đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H và ông Nguyễn Minh D:
Xét thấy bà H, ông D, O ký kết giấy vay tiền với nhau, trong đó ghi số tiền
H, ông D vay của bà O 2.390.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án bà H, ông
D cho rằng chỉ vay O số tiền gốc 700.000.000đồng, với lãi suất là
2.500đ/1triệu/1ngày, số tiền 2.390.000.00thực chất tiền lãi còn nợ của khoản
nợ gốc sau khi chốt sổ, sau đó ngày 08-4-2016 bắt vợ chồng bà H ký nhận vào giấy
vay số tiền như O đã khởi kiện, yêu cầu vợ chồng bà H phải trả, tuy nhiên không
chứng minh được khi giấy vay tiền ông bép buộc, khống chế hay không đủ
tỉnh táo minh mẫn. Tại bản tự khai ông D, bà H đều thừa nhận sau khi bà O chốt sổ
soạn thảo giấy vay tiền ông bà đều tự vào giấy vay tiền đó, ông D đã trả cho bà
O số tiền 100.000.000đ, nhưng do việc làm ăn của ông không thuận lợi nên ông D
nói với O “…khi nào thu nhập sẽ trả dần…”. Như vậy, giữa H, ông D
đã xác lập quan hệ pháp luật về vay tài sản, khi xác lập quan hệ này bà H, ông D
O đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết, xác nhận vay tiền là
hợp pháp nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên, các bên phải
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm H, ông D không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình sở. Do đó, Toà án thành
phố L (nay là Toà án nhân dân khu vực 6), tỉnh Lào Cai đã buộc ông Nguyễn Minh
D và bà Trần Thị H2 phải trách nhiệm thanh toán số tiền gốc 2.390.000.000 đồng
tiền lãi 1.014.720.000đ, tổng cộng 3.404.720.000đ cho chPhùng Thị O
có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh D Trần Thị H; giữ nguyên Bản án
dân sự thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Tòa án nhân dân thành phố
Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là TAND khu vực 6, tỉnh Lào Cai).
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông
Nguyễn Minh D và bà Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản và sử dụng án phí lphí
Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh D, bà Trần Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Toà án nhân dân Khu vực 6, tỉnh
Lào Cai), như sau:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều
144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 465, Điều 466, Điều 468
của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Thị H
ông Nguyễn Minh D phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả cho bà Phùng Thị O
số tiền nợ gốc 2.390.000.000đ (Hai tỷ, ba trăm chín mươi triệu đồng) và tiền lãi là
1.014.720.000đ (Một tỷ, một trăm linh bốn triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Tổng cả gốc lãi là 3.404.720.000đ (Ba tỷ, bốn trăm linh bốn triệu, bảy trăm hai
mươi nghìn đồng).
- Về án pdân sự sơ thẩm: Trần Thị H và ông Nguyễn Minh D phải chịu là
100.094.400 đồng (Một trăm triệu, không trăm chin mươi bốn nghìn, bốn trăm
đồng); Phùng Thị O không phải chịu tiền án phí dân sự thẩm và được trả lại
tiền tạm ứng án phí đã nộp 50.047.200 đồng (m mươi triệu không trăm bốn
mươi bẩy nghìn, hai trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lphí số: 63
ngày 20-02-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
(nay là Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Lào Cai).
Khi bản án hiệu lực pháp luật, ktừ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Trần Thị H ông Nguyễn Minh D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân
sự phúc thẩm, được trừ vào stiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo
biên lai thu số 0000324 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
H, ông D đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yên cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT1 TAND tối cao;
- VKSND Tối Cao;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- Thi hành án DS tỉnh Lào Cai.
- Phòng THADS khu vực 6 - Lào Cai
- TAND khu vực 6 - Lào Cai;
- Các đương sự;
- Lưu HS, HCTP, TA.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Hoàng Hải Anh
Tải về
Bản án số 45/2025/DS-PT Bản án số 45/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 45/2025/DS-PT Bản án số 45/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất