Bản án số 449/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 449/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 449/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 449/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 449/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 449/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà M yêu cầu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 449/2026/DS-PT
Ngày: 19-5-2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng mua
bán”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/4/2026 và ngày 19/5/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2026/TLPT-
DS ngày 20 tháng 3 năm 2026, về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 324/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 879/2026/QĐ-PT
ngày 07 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Xuân M, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M:
Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1972 (có mặt); Địa chỉ: 2 khu phố H, phường M,
tỉnh Đồng Tháp theo Giấy ủy quyền ngày 25/8/2025.
2. Bị đơn:
2.1. Nguyễn Việt N, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp P, xã L, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Việt N: Ông
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1981 (có mặt); Địa chỉ: Số D, L, phường Đ, tỉnh
Đồng Tháp theo Giấy ủy quyền ngày 15/4/2026.
2.2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
2
3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Việt N, bà Nguyễn Thị Hữu .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M uỷ quyền cho ông Phạm Ngọc
D đại diện trình bày: Trước ngày 18/12/2023, bà Nguyễn Thị Xuân M có bán
cho vợ chồng ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H thức ăn gia cầm theo
hình thức lấy hàng trước trả tiền sau. Việc mua bán không có hợp đồng bằng văn
bản nhưng bà M có ghi sổ theo dõi từng lần mua hàng, số tiền thanh toán. Do có
quen biết và tin tưởng nên bà M có cho vợ chồng ông N, bà H nợ tiền mua thức
ăn gia cầm nhiều lần. Đến ngày 18/12/2023, hai bên tiến hành tổng kết nợ. Ông
N, bà H còn nợ bà M số tiền 154.420.000 đồng. Bà M nhiều lần liên hệ với ông
N, bà H yêu cầu thanh toán nhưng ông N, bà H không thanh toán và kéo dài cho
đến nay. Bà M có gửi đơn ra Uỷ ban nhân dân (UBND) xã P, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (cũ), Uỷ ban xã tiến hành hoà giải nhưng không thành. Trước đó, ông N
có đến nhà mượn bà M sổ sách ghi nợ để về đối chiếu, bà M tin tưởng đưa cho
ông N nhưng ông N không trả lại. Tại biên bản về việc giải quyết mua bán thức
ăn tại UBND xã P (cũ), ông N thừa nhận còn nợ 94.500.000 đồng.
Nay bà M yêu cầu: Buộc ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H liên đới
trả cho bà M số tiền 94.500.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 18/12/2023 đến
ngày 18/12/2025 là 02 năm, lãi suất 10%/năm, thành tiền là 18.900.000 đồng.
Tổng cộng là 113.400.000 đồng. Trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H cùng uỷ quyền cho
ông Trần Văn T đại diện trình bày: Ông N, bà H không đồng ý với toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo đơn khởi kiện nguyên đơn cho rằng nợ
phát sinh từ năm 2020 đến 2023, thời điểm này gia đình không còn chăn nuôi gà
nữa nên không có mua thức ăn, đồng thời phía nguyên đơn cũng không cung cấp
được giấy biên nhận nợ hoặc giấy xác nhận nợ nào. Việc ông N trình bày tại
biên bản giải quyết tại xã P cũ về việc bà M chốt sổ nợ năm 2020 đến 2023 mà
không có ý kiến xác định thời gian cụ thể là do sơ suất, không am hiểu pháp luật
chứ thực tế số nợ 94.500.000 đồng là trước năm 2020 và ông đã thanh toán
xong. Ông N có nộp cho Tòa án vi bằng ghi nhận sự kiện có người làm chứng
ông N, bà H không còn chăn nuôi khoảng năm 2018 và có đơn yêu cầu áp dụng
thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng mua bán vì đã hết và yêu cầu đình chỉ vụ
án theo quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 324/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ
thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân M.
Buộc ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H liên đới trả cho bà Nguyễn
Thị Xuân M số tiền 113.400.000 đồng.
3
2. Kể từ ngày bà M có đơn yêu cầu thi hành án gửi Cơ quan Thi hành án
dân sự, mà ông N, bà H không thanh toán hoặc chậm thanh toán số tiền nêu trên
thì hàng tháng, ông N, bà H còn phải trả cho bà M khoản tiền lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật
Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H phải liên đới chịu số tiền
5.670.000 đồng án phí.
- H1 lại cho bà Nguyễn Thị Xuân M số tiền 4.504.000 đồng theo biên lai
số 0004125 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ
thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/01/2026, bị đơn ông Nguyễn Việt N và
bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn ông Nguyễn Việt N ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng A đại diện
trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N. Bởi các căn
cứ như: Theo Vi bằng ngày 17/12/2025 ông N cung cấp cho Tòa án đã chứng
minh ông N đã nghỉ chăn nuôi gà (gia cầm) từ năm 2018 không phải nghỉ năm
2023 như theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M. Sau khi
nghỉ chăn nuôi gia cầm thì ông N đã quyết toán với bà M và đã trả đủ số tiền
còn nợ 94.500.000 đồng vào năm 2018, khi đó bà M đã gạch sổ ghi nợ xong
nhưng do bà M giữ sổ nên tiếp tục khởi kiện, còn ông N không có giữ sổ theo
dõi mua hàng như trình bày của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu Hội đồng xét xử
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M uỷ quyền cho ông Phạm Ngọc D
đại diện trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Việt N
và bà Nguyễn Thị H, yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông N và bà H. Bởi vì, khi quyết toán nợ thì ông N, bà H còn nợ bà M số tiền
154.420.000 đồng, do có quen biết và tin tưởng nên bà M cho ông N mượn sổ
sách ghi nợ để về đối chiếu nhưng ông N không trả lại; Theo Biên bản về việc
giải quyết mua bán thức ăn (chăn nuôi) ngày 15/4/2025 của UBND xã P thì ông
N thừa nhận có mua thức ăn gia cầm của bà M và có nợ số tiền 94.500.000
đồng, vì vậy nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông N, bà H
trả số tiền mà ông N đã thừa nhận nợ là 94.500.000 đồng và yêu cầu trả lãi chậm
thanh toán. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thống nhất rút yêu cầu buộc
ông N, bà H trả lãi chậm thanh toán với số tiền 18.900.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
4
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà
Nguyễn Thị H thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư
ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành
và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Việt N và bà
Nguyễn Thị H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 324/2025/DS-ST ngày 29
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
792/PB-VKS-DS ngày 19/5/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp thụ lý và giải
quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp Hợp đồng mua bán” là đúng quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ
thẩm bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H không thống nhất bản án
sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc ông N, bà H kháng cáo vào ngày 05/01/2026 là
trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên
được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị H vắng mặt có đơn yêu cầu xét
xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M cho rằng bà có bán
cho vợ chồng ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H thức ăn gia cầm theo
hình thức lấy hàng trước trả tiền sau; việc mua bán không có hợp đồng bằng văn
bản nhưng bà M có ghi sổ theo dõi từng lần mua hàng, số tiền thanh toán. Đến
ngày 18/12/2023, hai bên tiến hành tổng kết nợ thì ông N, bà H còn nợ bà M số
tiền 154.420.000 đồng. Bà M nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng ông N, bà H
không thanh toán. Khi tranh chấp được hòa giải tại UBND xã P, huyện C, tỉnh
Tiền Giang (cũ) thì ông N thừa nhận còn nợ bà M 94.500.000 đồng nhưng đã
thanh toán xong năm 2019, tuy nhiên ông không đưa ra được tài liệu, chứng cứ
chứng minh. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông N và bà H liên đới trả cho bà M
số tiền 94.500.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 18/12/2023 đến ngày 18/12/2025
là 02 năm, lãi suất 10%/năm, thành tiền là 18.900.000 đồng. Tổng cộng là
5
113.400.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H không đồng ý với toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do ông N, bà H không còn chăn nuôi khoảng
năm 2018, số tiền nợ bà M đã thanh toán xong năm 2019 và có yêu cầu Tòa án
áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng mua bán vì đã hết và yêu cầu đình
chỉ vụ án theo quy định.
Điều này làm phát sinh tranh chấp hợp đồng mua bán giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M buộc bị đơn
ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M số
tiền mua thức ăn gia cầm còn nợ 94.500.000 đồng là có cơ sở, bởi lẽ theo Biên
bản về việc giải quyết mua bán thức ăn (chăn nuôi) ngày 15/4/2025 của UBND
xã P thì ông N thừa nhận có mua thức ăn gia cầm của bà M có nợ số tiền
94.500.000 đồng, ông N đã thanh toán xong nhưng ông không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của ông là có cơ sở. Việc ông N mua
thức ăn gia cầm với mục đích chăn nuôi gà nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế
của gia đình, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông N và bà H có
nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà M là có căn cứ.
Việc Tòa án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H liên
đới trả cho bà M tiền lãi đối với số tiền 94.500.000 đồng tính từ ngày
18/12/2023 đến ngày 18/12/2025 là 02 năm, lãi suất 10%/năm, thành tiền là
18.900.000 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đã rút yêu cầu
buộc ông N, bà H trả lãi chậm thanh toán. Xét thấy đây là sự tự nguyện của
đương sự và không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với
yêu cầu này của nguyên đơn theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Hoàng A đại diện theo ủy quyền của ông
Nguyễn Việt N vẫn giữ yêu cầu kháng cáo của ông N. Hội đồng xét xử xét thấy
trình bày của ông A là không đủ căn cứ, đồng thời bị đơn ông N và bà H cũng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H, tuy nhiên cần sửa một phần bản
án sơ thẩm về việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M rút một phần yêu cầu
khởi kiện về việc buộc ông N và bà H liên đới trả cho bà M tiền lãi đối với số
tiền 18.900.000 đồng và sửa án phí dân sự sơ thẩm mà bị đơn phải chịu.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở, nên được xem xét chấp nhận.
6
[7] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn
Thị H không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Việt N và bà
Nguyễn Thị H;
2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 324/2025/DS-ST ngày 29
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp do nguyên đơn
bà Nguyễn Thị Xuân M rút yêu cầu về việc buộc ông Nguyễn Việt N và bà
Nguyễn Thị H liên đới trả tiền lãi chậm thanh toán.
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
357, Điều 430 và Điều 440 Bộ luật Dân sự; Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân M về việc
buộc ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H liên đới trả cho bà Xuân M số
tiền mua thức ăn gia cầm còn nợ là 94.500.000 đồng.
2.2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân M về
việc buộc ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H liên đới trả tiền lãi đối với số
tiền 94.500.000 đồng tính từ ngày 18/12/2023 đến ngày 18/12/2025 là 02 năm,
lãi suất 10%/năm, thành tiền là 18.900.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H phải liên đới chịu số tiền
4.725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- H1 lại cho bà Nguyễn Thị Xuân M số tiền 4.504.000 đồng, theo biên lai
số 0004125 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
7
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Ông Nguyễn Việt N và bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông N, bà H đã nộp là
600.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000116
(300.000 đồng) và số 0000118 (300.000 đồng) ngày 05/01/2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp. H1 lại cho ông N, bà H số tiền thừa 300.000 đồng.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực M - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vực M - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tấn Lợi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm