Bản án số 296/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 296/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 296/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 296/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Trọng H; Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 296/2026/DS-PT
Ngày: 26 - 5 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm, bà Nguyễn Thị My My
Thư phiên toà: Lại Thị Minh Hiền Thư Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên toà: Bà Lương
Th Diu Anh - Kim sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, ti tr s Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lk xét x
phúc thm công khai v án dân s th s 28/TLPT-DS, ngày 05 tháng 02 năm
2026 v vic “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Do bn án dân s thẩm
s: 32/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 ca Toà án nhân dân Khu vc 7 -
Đắk Lk, b kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét x s 222/2026/QĐ-PT,
ngày 03/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đào Văn V, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn D, M, tỉnh
Đắk Lắk (trước đây là thôn D, xã K, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
+ Ông Trần Trọng H, sinh năm 1972; địa chỉ: số nhà A đường M, phường B,
tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ hiện nay: Số E đường Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
+ Trần Lan V1, sinh năm 1999; địa chỉ: Buôn E, D, tỉnh Đắk Lắk
(trước đây là Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
-Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1; địa chỉ: Thôn A C, E, tỉnh Đắk Lắk (trước
đây là thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chu Thị L; địa chỉ: Thôn D X,
xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là thôn D, xã X, huyện E, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
2
- Người kháng cáo: Người đại din theo y quyn của nguyên đơn ông Trn
Trng H và b đơn ông Nguyễn Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình tố tụng tại phiên tòa người
đại diện của nguyên đơn ông Trần Trọng H trình bày:
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, ông Đào Văn V và ông Nguyễn Văn H1 thoả
thuận bằng miệng với nhau về việc ông V có đặt mua của ông H1 320 con heo giống
(mỗi con trọng lượng khoảng 13 đến 14kg/1con) với tổng stiền 832.346.000
đồng nên ông V đã chuyển khoản trước cho ông H1 20.000.000đ tiền đặt cọc. Sau
khi thoả thuận xong, ngày 23/10/2024 thì ông H1 gửi cho ông V số tài khoản
0363431785 đứng tên bà Chu Thị L - Mở tại Ngân hàng TMCP Q và yêu cầu ông
V chuyển tiền mua heo vào số tài khoản của bà Chu Thị L tổng số tiền 797.346.000
đồng. Sau đó, ông V đã chuyển vào số tài khoản của L 2 lần: (lần 1 chuyển
31.000.000 đồng lần 2 chuyển 766.346.000 đồng). Số tiền còn lại 15.000.000
đồng thì ông V đã thanh toán trực tiếp cho ông H1. Sau khi ông V đã chuyển khoản
thanh toán đủ tiền mua heo giống cho ông H1 832.346.000 đồng, thì đến ngày
24/10/2024 ông H1 đã bàn giao đủ 320 con heo giống cho ông V nuôi.
Tuy nhiên, sau khi ông V nhận heo về nuôi được 1 đến 2 ngày tông V phát
hiện ra đàn heo bỏ ăn, nên ông V đã ngay lập tức thông báo cho ông H1 biết về việc
đàn heo bỏ ăn, ông H1 đã đến trang trại của ông V để kiểm tra thực tế, sau đó ông
H1 trực tiếp lấy mẫu đưa đi xét nghiệm và ông H1 thông báo cho ông V biết là toàn
bộ đàn heo giống ông V mua của ông H1 đã bị mắc dịch bệnh tai xanh. Nên ngày
29/10/2024 ông H1 đến trang trại của ông V để yêu cầu thu hồi lại toàn bộ 320 con
heo giống nêu trên để ông H1 chở đi xử lý, tiêu huỷ ông H1 trả lại cho ông V
trước số tiền là 50.000.000 đồng.
Đến ngày 16/12/2024, ông V xét thấy việc heo con bị bệnh rủi ro nên bớt cho
ông H1 20.000.000đ thống nhất giữa hai bên nên ông H1 “Giấy xác nhận” về
việc đàn heo giống 320 con mà ông V mua của ông H1 đã bị “mắc bệnh tai xanh”
nên ông H1 đã thu hồi toàn bộ sheo trên cam kết hoàn trả lại cho ông V toàn bộ
số tiền mà ông V đã thanh toán cho ông H1 812.346.000 đồng (lấy số chẵn
812.000.000 đồng), ông H1 đã thanh toán trước đó cho ông V số tiền 50.000.000
đồng, số tiền còn lại 762.000.000 đồng, ông H1 hẹn đến hết tháng 12/2024 dương
lịch (tức 31/12/2024) sẽ thanh toán hết cho ông V.
Tuy nhiên đến nay đã quá thời hạn ông H1 cam kết trả lại toàn bộ số tiền
trên cho ông V, nhưng ông H1 vẫn không chịu thực hiện. Mặc ông V đã nhiều
lần yêu cầu ông H1 trả tiền, nhưng ông H1 cứ khất lần tìm cách trốn tránh không
trả tiền cho ông V.
vậy ông V yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H1 Chu Thị L
nghĩa vliên đới trả lại cho ông V toàn bộ số tiền còn lại 762.000.000 đồng (B
3
trăm sáu mươi hai triệu đồng) theo như ông H1 đã cam kết trong nội dung Giấy
xác nhận” lập ngày 16/12/2024.
* Theo bản tự khai quá trình m việc tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn
H1 trình bày:
Ngày 01/10/2024 tôi người bán cám cho ông Đào Văn V, ông V nhờ tôi
hỗ trợ, giới thiệu nguồn heo con đông V bắt về nuôi. Tại thời điểm đó tôi được biết
Chu Thị L có heo con bán và tôi đã giới thiệu cho ông V. Bà L có gửi video cho
ông V xem, ông V đồng ý bắt heo con chỗ L L đề nghị chuyển
30.000.000đ tiền cọc nên tôi đã báo lại với ông V. Ông V chuyển cho tôi
20.000.000đ và mượn tôi 10.000.000đ cho đủ 30.000.000đ để chuyển cho bà L. Bà
L và ông V đã xác nhận vào ngày 24/10/2024 giao heo con chở cho ông V. Tôi chỉ
người giới thiệu cho ông V L giao dịch, mua bán với nhau, còn quá trình
xuất heo với số tiền ntrên thì ông V tự chuyển cho bà L và nhận đủ số lượng heo.
Quá trình xảy ra vụ việc tôi có trao đổi với Công ty về việc ông V bắt heo nhưng bị
bệnh, tôi có xin về phía Công ty đưa ra giải pháp hỗ trợ ông V bằng cách hỗ trợ qua
hình thức là chiết khấu cám. Đã hỗ trợ cho ông V 30.000.000đ. Do ông V nhiều lần
đòi tiền L không được nên năn nỉ tôi tôi ghi thêm dòng chữ bên cạnh (Trách
nhiệm của H1 phải hỗ trợ anh chị thu hồi), bởi vậy tôi mới giấy xác nhận ngày
16/12/2024. Còn khoản tiền 15.000.000đ, ông V chuyển tiền cho tôi tôi thu hộ
ông V để chuyển tiền cước xe vận chuyển chở heo từ Đồng Nai về với số tiền cước
xe là 15.000.000đ. Tôi không nhận tiền, không liên quan đến việc mua bán heo, n
tôi không đồng ý với yêu cầu của ông V, ông V phải kiện L. Ông V L đứng
ra mua bán heo với nhau, tôi chỉ là người giới thiệu. Ông V lợi dụng tôi không hiểu
biết pháp luật nên viết giấy xác nhận với nội dung như vậy rồi khởi kiện tôi. Mặt
khác, hai bên mua bán thỏa thuận như thế nào, xảy ra sự cố ra sao tôi không hề
hay biết. Tôi thấy ông V là khách hàng nên mới xin Công ty hỗ trợ ông V cũng như
nói giúp bà L trả tiền cho ông V. Tôi không nhận bất cứ lợi ích nào, tôi cũng không
đứng ra trả tiền thay cho bà L. Do đó việc khởi kiện của ông V là không có căn cứ.
* Tại bản tự khai, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị L trình
y:
Tháng 10/2024, ông H1 có tìm đến nhà tôi đề nhờ tôi giới thiệu mua heo con
cho khách hàng của ông H1 là ông Đào Văn V. Vì tôi được biết ông Nguyễn Hoàng
Chi T (không địa chỉ tcụ thể, chỉ biết trên căn cước ghi địa chỉ Thị trấn
M, huyện M, Quảng Ngãi) có nguồn heo con bán nên tôi đã giới thiệu cho ông H1.
Tại thời điểm tháng 10/2024 thì bố mẹ tôi cũng bắt heo con của ông T 100 con.
Sau thời gian giới thiệu ông T cho ông H1 thì tôi chỉ biết ông V là khách hàng của
ông H1 và ông H1 có nhu cầu bắt heo con về cho ông V. Ngày 24/10/2024, tôi được
biết ông T trực tiếp giao heo con cho ông V tại huyện M. Ông V đã trực tiếp kiểm
4
tra đồng ý nhận heo. Tại thời điểm hai bên nhận heo thì tôi không mặt từ
đầu đến cuối tôi không gặp mặt ông V chỉ trao đổi qua ông H1. Việc nhận tiền
từ ông V do ông H1 yêu cầu đưa số tài khoản của tôi cho ông V đông V
chuyển tiền vào tối ngày 23/10/2024 02 lần ( lần 1 là 766.346.000đ lần 2
31.000.000đ). Vào ngày 24/10/2024, tôi chuyển lại cho ông T sau khi thống nhất là
ông V đã kiểm tra nhận đủ heo nên tôi đã chuyển cho ông T 724.000.000đ. Giá
cả mua bán heo thì ông H1 người trực tiếp trao đổi cùng với ông V. Trong tổng
số tiền tôi nhận từ ông V là 797.346.000đ thì tôi đã chuyển cho ông T 724.000.000đ
chuyển khoản cho ông H1 20.000.000đ đông H1 thanh toán chi phí vận chuyển.
Số tiền còn lại 53.346.000đ là tiền hoa hồng bên bán là ông T chi trả cho tôi, không
chia lại cho ông H1. Việc ông V thanh toán cho ông H1 15.000.000đ tiền tôi
không biết. Ông V cho rằng đàn heo nhà ông bị tai xanh thu hồi thì tôi cũng không
biết. Việc ông H1 trả cho ông V 50.000.000đ tôi cũng không biết. Đối với yêu cầu
khởi kiện của ông V thì tôi nhận thấy sự việc này tôi không liên quan, tôi chỉ giới
thiệu mua bán heo, còn việc heo bị bệnh bồi thường như thế nào tôi không biết.
Hiện nay tôi không liên lạc được với ông T, không biết ông T đang đâu. Quá trình
giao nhận heo cũng do ông V trực tiếp nhận và xem xét con giống, thỏa thuận mua
bán do hai bên tự thỏa thuận.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 32/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 203; Điều 227, 233, 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các 430, 431, 432. 445 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn V.
Buộc ông Nguyễn Văn H1 trách nhiệm trả cho ông Đào Văn V stiền
762.000.000 đồng (bảy trăm sáu mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông
Nguyễn Văn H1 n phải trả cho ông Đào Văn V khoản tiền lãi chậm trả đối với s
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự 2015.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn V về yêu cầu buộc
Chu Thị L phải liên đới cùng với ông H1 trả tiền trên cho ông V.
[2] Về án phí:
- Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 34.480.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5
- Hoàn trả cho ông Đào Văn V 17.240.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đã
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001220 ngày
13/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk (nay Phòng
thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự theo quy định
pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 09/10/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm đơn
kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tuyên buộc bà Chu Thị L phải có
nghĩa vụ liên đới cùng với ông Nguyễn Văn H1 trả cho ông Đào Văn V số tiền
762.000.000 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án theo quy định tại Điều 288
Bộ luật dân sự 2015.
- Ngày 03/11/2025 (tại phiên tòa sơ thẩm ông H1 vắng mặt và nhận Bản án sơ
thẩm vào ngày 19/10/2025), bị đơn ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Trọng H giữ
nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện, đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận toàn bđơn kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm.
- Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt không
do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán,
Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư phiên tòa cũng như đương sự phía nguyên
đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án, về yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông
Trần Trọng H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H1, đây là phiên tòa phúc
thm ln th hai vng mt, mặc dù đã đưc Toà án triu tp và tống đạt hp l nên
ông H1 b coi như từ b vic kháng o, đề ngh Hội đồng xét x phúc thẩm đình
ch xét x phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của ông H1. Đồng thời, giữ nguyên
quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm s32/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng
cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự được thực hiện trong
hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên vụ
án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H1:
Đối với đơn kháng cáo của ông H1, đây phiên tòa phúc thm ln th hai vng
mt không lý do, mặc đã được Toà án triu tp và tống đạt các văn bn t tng
hp l nên ông H1 b coi như từ b vic kháng cáo, đình chỉ xét x phúc thm theo
khoản 3 Điều 296 B lut T tng dân s.
[3] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, thấy rằng:
Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ ván thể hiện bị đơn ông Nguyễn
Văn H1 người trực tiếp trao đổi, thỏa thuận với nguyên đơn ông Đào Văn V về
việc mua bán 320 con heo giống; đồng thời người cung cấp số tài khoản đứng tên
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chu Thị L để ông V thực hiện việc
chuyển tiền thanh toán. Thực tế, ông V đã chuyển tổng số tiền 797.346.000 đồng
vào tài khoản của L theo yêu cầu của ông H1, ngoài ra còn giao trực tiếp cho ông
H1 các khoản tiền liên quan đến giao dịch. Sau khi nhận đủ tiền, bđơn ông H1
người trực tiếp tham gia việc giao nhận 320 con heo giống cho ông V và xử hậu
quả khi phát sinh sự cố đối với đàn heo này.
Mặt khác, đối với Giấy xác nhận” được xác lập vào ngày 16/12/2024 giữa ông
V ông H1 nội dung thể hiện ông H1 xác nhận việc đã giao 320 con heo
giống cho ông V có xác nhận tình trạng heo bị bệnh, đã thu hồi toàn bộ số heo
cam kết hoàn trả số tiền còn lại 762.000.000 đồng. Đồng thời, ông H1 cũng thừa
nhận chữ ký, chữ viết trong giấy xác nhận của mình. Như vậy, theo quy định tại
khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh và có giá trị xác định nghĩa vụ của bị đơn đối với nguyên đơn.
Mặc ông H1 cho rằng ông chỉ là người trung gian giới thiệu việc mua bán
giữa ông V người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chu Thị L, ông không
trực tiếp tham gia giao dịch không nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, ông H1
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp pháp để chứng minh cho lời trình bày
này. Ngược lại, các tình tiết khách quan của vụ án cho thấy: ông H1 người kết nối,
thỏa thuận giá cả, hướng dẫn phương thức thanh toán, trực tiếp tham gia quá trình
giao nhận tài sản, đồng thời người đứng ra giải quyết khi phát sinh sự cố và tự
7
mình cam kết nghĩa vụ hoàn trả tiền. Ông H1 cho rằng việc thỏa thuận cam kết
thanh toán số tiền còn lại cho ông V 762.000.000 đồng do không hiểu biết pháp
luật và để Công ty hỗ trợ cho khách hàng thường xuyên mua cám heo cũng như để
bà L trả tiền cho ông V là không có cơ sở.
Ngoài ra việc bị đơn trực tiếp thu hồi toàn bộ số heo, thanh toán trước một phần
tiền cho nguyên đơn xác lập văn bản cam kết trả nợ đã thể hiện ý chí tự nguyện
nhận trách nhiệm dân sự đối với toàn bộ giao dịch. Nội dung cam kết không bị ép
buộc, lừa dối hoặc nhầm lẫn theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, đủ căn
cứ xác định bị đơn bên nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận đã được xác lập
giữa các bên.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc Chu Thị L phải nghĩa vụ liên đới
cùng với ông Nguyễn Văn H1 trả cho ông Đào Văn V số tiền 762.000.000 đồng, thì
thấy: Tài liệu, chứng cứ thể hiện người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chu
Thị L nhận tiền chuyển khoản từ nguyên đơn ông V theo yêu cầu của bị đơn
ông H1. Tuy nhiên, qtrình giải quyết vụ án không căn cứ xác định L
người trực tiếp xác lập giao dịch mua bán 320 con heo giống với ông V hoặc tham
gia cam kết hoàn trả tiền. Trong “Giấy xác nhận” lập ngày 16/12/2024 chỉ do ông
H1 ký, không có sự tham gia, xác nhận của bà Chu Thị L.
Việc nhận tiền thông qua tài khoản theo yêu cầu của ông H1 được xác định chỉ
phương thức thanh toán trong giao dịch giữa ông V ông H1, không làm phát
sinh nghĩa vụ liên đới khi không thỏa thuận hoặc căn cứ pháp luật khác. Mặt khác,
liên quan đến giao dịch này, theo lời trình bày của L thì L giới thiệu ông
H1 với ông Nguyễn Hoàng Chi T (không rõ địa chỉ cụ thể) tại thị trấn M, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi người đã cung cấp nguồn heo giống cho ông H1 ông H1
người trực tiếp giao dịch với ông T. L thừa nhận đã nhận tiền chuyển
khoản từ ông V 766.346.000 đồng theo yêu cầu của ông H1, sau đó bà chuyển lại
cho ông T 724.000.000 đồng và chuyển cho ông H1 20.000.000 đồng là tiền chi p
vận chuyển. Tuy nhiên, L cho rằng việc thỏa thuận giá cả bàn giao 320 con
heo giống cho ông V là do ông Tông H1, còn bà L không tham gia. Sau khi giao
dịch xong thì L nhận tiền hoa hồng từ ông T để lại 53.346.000 đồng. Như
vậy, thấy rằng việc mua bán đàn heo này là do bà L giới thiệu ông H1 trực tiếp liên
hệ và giao dịch với ông T, việc giao nhận đàn heo cho ông V là do ông T và ông H1
thực hiện và bà L không tham gia.
Do đó, yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn về
việc buộc L liên đới trách nhiệm nghĩa vụ cùng với ông H1 phải trả cho ông
V 762.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
8
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận
và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của bị đơn nên nguyên đơn ông
Đào Văn V, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn là ông Trần Trọng H;
- Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST ngày
27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk.
- Áp dụng các Điều 430, 431, 432. 445 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[2]. Tuyên xử:
[2.1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đào Văn
V.
Buộc ông Nguyễn Văn H1 trách nhiệm trả cho ông Đào Văn V số tiền
762.000.000 đồng (bảy trăm sáu mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông
Nguyễn Văn H1 còn phải trả cho ông Đào Văn V khoản tiền lãi chậm trả đối với số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự 2015.
[2.2]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn V về yêu cầu buộc
Chu Thị L phải liên đới cùng với ông H1 trả tiền trên cho ông V.
[2.3]. Đình chỉ xét x phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn
H1.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Đào Văn V, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 mỗi người phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo các biên lai thu số 0004180 ngày 10/11/2025 (ông V) và biên lai thu số
9
0004576 ngày 17/11/2025 (ông H1) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Đắk
Lắk.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự”.
[4]. Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Cổng TTĐT Toà án;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Y Phi Kbuôr
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất