Bản án số 12/2026/HNGĐ-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2026/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2026/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2026/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2026/HNGĐ-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh An Giang |
| Số hiệu: | 12/2026/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | NĐ và BĐ mâu thuẫn không thể hàn gắn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung là diện tích đất được cấp GCNQSD đất cho Nhạn, Mông |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________
Bản án số: 12/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 26-3-2026
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài
sản khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu và ông Lưu Hữu Giàu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Phan Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Dương Quy Thái -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2025/TLPT-HNGĐ, về việc: “Tranh chấp
ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 26/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng
8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2025/QĐXXPT-
HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Văng Thị N, sinh năm 1986; đăng ký thường trú: Số C, tổ
A, ấp H, xã C, tỉnh An Giang (trước là số 333, tổ A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An
Giang); Chỗ ở hiện nay: Số B, tổ A, ấp L, xã L, tỉnh An Giang (trước là số 298, tổ
A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang)
2. Bị đơn: Ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1), sinh năm 1985; địa chỉ: Số C, tổ
A, ấp H, xã C, tỉnh An Giang (trước là số 333, tổ A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An
Giang )
+ Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1962. Địa
chỉ ấp L, xã L, tỉnh An Giang đại diện theo Hợp đồng ủy quyền được Văn phòng
C1 công chứng số 7208/2025/CCGD ngày 01/12/2025
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoa Văn Đ, sinh năm 1958;
địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nay là Tổ A, ấp H, xã C, tỉnh
An Giang)
2
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Văng Thị N, bị đơn ông Hoa Văn M
(Hoa Văn M1)
Tại phiên tòa, bà Văng Thị N, ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1), bà Lê Thị C
có mặt, ông Hoa Văn Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Nguyên đơn bà Văng Thị N có ý kiến trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và anh Hoa Văn M do quen biết, tìm hiểu nhau
trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới năm 2016 và đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang ngày 15/4/2016.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát mâu thuẫn do
bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng sống ly thân cho
đến năm 2021, thì hàn gắn tình cảm nhưng chỉ được khoảng 01 đến 02 tháng thì
tiếp tục phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ
chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu được ly
hôn với ông M.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Hoa P, sinh ngày 02/10/2016, hiện
đang sống với bà N; khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung và yêu cầu ông Hoa Văn M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000
đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 20/11/2023 đến khi con chung thành niên
và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung của vợ chồng gồm:
1. Phần diện tích 5.107m
2
, thửa số 197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M, bà Văng Thị N, hiện ông M đang quản lý
sử dụng và trồng mãng cầu, đinh lăng, xưa...Diện tích đất này là do vợ chồng nhận
chuyển nhượng từ người khác với giá 120.000.000 đồng/1.000m
2
; để mua đất này
thì bà N, ông M có vay của mẹ bà N 200.000.000 đồng, phần còn lại vay Ngân
hàng N1 – Chi nhánh C2 số tiền 400.000.000 đồng (hàng tháng bà N và ông M
cùng trích lại tiền lương của vợ chồng để trả nợ cho Ngân hàng). Đến năm 2020,
vợ chồng bán nền đất tại thành phố L được số tiền 1.330.000.000 đồng và trả hết
nợ cho mẹ bà N và Ngân hàng.
Đối với phần diện tích đất 5.107m
2
được thể hiện tại các điểm 15, 16, 17, 18,
19, 20, 21, 22, 23, 24, 9, 14, 7, 8, 1 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024
của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 là tài sản chung vợ chồng, bà N yêu cầu
được nhận 06 phần và chia cho ông M được được 04 phần.
2. Số tiền 260.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng phần diện tích đất tại
thành phố L được 1.330.000.000 đồng, sau khi trả nợ cho mẹ bà N và Ngân hàng
N1 – Chi nhánh C2 thì còn dư lại số tiền 200.000.000 đồng và gửi ngân hàng. Sau
đó, ông M kêu bà rút ra để hùn với ông Hoa Văn Đ để nhận chuyển nhượng phần
3
diện tích đất khoảng 4.000m
2
. Sau đó, khoảng năm 2021, ông Hoa Văn M có đưa
thêm cho ông Hoa Văn Đ 60.000.000 đồng nữa (số tiền 60.000.000 đồng này do
ông M canh tác trên phần diện tích 5.107m
2
mà có). Các tin nhắn Zalo giữa bà N
và ông M thì ông M thừa nhận số tiền 200.000.000đ là tài sản chung của vợ chồng
nên bà N yêu cầu chia đôi số tiền này; đối với số tiền 60.000.000 đồng như đã
trình bày nêu trên thì bà không yêu cầu chia.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1) trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của bà N về quan hệ hôn
nhân về thời gian kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cung như thời gian
sống ly thân của vợ chồng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên
ông M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Văng Thị N.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hoa P, sinh ngày 02/10/2016,
hiện do bà Văng Thị N đang chăm sóc nuôi dưỡng; khi ly hôn, ông M có yêu cầu
được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà N cấp dưỡng
nuôi con. Ông M xin nuôi con là vì bà N hiện làm việc ở Rạch G, bà N đưa con
cho mẹ bà N năm nay khoảng 67 tuổi chắm sóc nên ông không an tâm, trong khi
thu nhập của ông khoảng 12.000.000 đồng/tháng (bao gồm tiền lương, tiền canh
tác đất nông nghiệp tại địa phương) và làm việc tại địa bàn huyện C (Ban quản lý
dự án của huyện C); tuy hiện nay chuyển về L nhưng việc chăm sóc con tiện hơn
bà N.
- Về tài sản chung: Vợ chồng chỉ có tài sản chung là diện tích 5.107m
2
, thửa
số 36, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05495 ngày
11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M, bà
Văng Thị N; hiện ông đang canh tác diện tích đất này; ông đồng ý chia tài sản
chung này nhưng xin được nhận 06 phần và chia cho bà N 04 phần, vì ông đang
canh tác đất; tiền mua đất này ông M bỏ ra khoảng 686.000.000 đồng; trong khi số
tiền của bà N là 14.000.000 đồng. Các cây trồng trên đất phần người nào được
chia thì người đó nhận anh không tranh chấp cây trông trên đất.
Đối số tiền 260.000.000 đồng mà bà N cho rằng là tài sản chung của vợ
chồng và có yêu cầu chia thì ông M đồng ý. Vì không có số tiền này và vợ chồng
không có hùn mua đất gì với ông Đ cả. Các tin nhắn zalo giữa ông với bà N về số
tiền 200.000.000đ do bà N có ý đồ từ trước. Số tiền này hiện nay do bà N đang
giữ, nguồn gốc số tiền này là do chuyển nhượng đất tại thành phố L, sau khi trừ
các chi phí khác thì còn dư lại số tiền này. Ngoài ra, bà Văng Thị N còn đang giữ
số tiền 140.000.000 đồng và 01 xe gắn máy trị giá 60.000.000 đồng là tài sản
chung của vợ chồng nhưng ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tài
sản chung này.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoa Văn Đ vắng mặt tại phiên
tòa nhưng tại Biên bản ghi lời khai ngày 21/8/2024, ông Hoa Văn Đ có ý kiến
4
trình bày: Đối với số tiền 260.000.000 đồng mà bà N cho rằng ông M hùn với ông
làm ăn là không có, ông cũng không có bất kỳ mối quan hệ làm ăn nào với ông M,
việc này ông M chỉ vừa mới bàn với bà N; chưa thống nhất hay bàn bạc với ông,
ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 26/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng
8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, đã quyết định:
[1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Văng Thị N về việc
yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với số tiền 60.000.000đ và yêu cầu
ông Hoa Văn M cấp dưỡng nuôi con.
[2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Văng Thị N.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Văng Thị N với ông Hoa Văn M thuận tình ly
hôn.
[2.2] Về con chung: Có một con chung tên Hoa P, sinh ngày 02/10/2016.
Bà Văng Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Hoa P,
sinh ngày 02/10/2016. Ông Hoa Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Văng Thị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở
ông Hoa Văn M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan,
tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án
có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi
con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[2.3] Về tài sản chung:
Chia tài sản chung của vợ chồng gồm: diện tích 4.998m
2
, thửa số 197, tờ bản
đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N
được thể hiện tại các điểm 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 9, 14, 7, 8, 1 theo
Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1 trị giá
7.996.800.000 đồng (bảy tỷ chín trăm chín mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng)
và số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Tổng cộng là 8.196.800.000đ
(tám tỷ một trăm chín mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
Giá trị tài sản chung mà bà Văng Thị N được nhận là: 4.098.400.000 (bốn tỷ
không trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn) đồng.
Giá trị tài sản chung mà ông Hoa Văn M được nhận là: 4.098.400.000 (bốn tỷ
không trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn) đồng.
Giao cho bà Văng Thị N được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất có
diện tích 2.600m
2
được thể hiện tại các điểm B1, A2, 24, 9, 14, 7, 8, B2 theo Sơ
đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1.
Giao cho ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1) được quyền quản lý, sử dụng quyền
sử dụng đất có diện tích 2.398m
2
được thể hiện tại các điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22,
5
23, A2, B1 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách nhiệm
hữu hạn Đ1.
Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 109m
2
được thể hiện tại các điểm
A1, B1, B2, 1, 15, 16, 17 là lối đi chung của phần diện tích 2.600m
2
được giới hạn
bỏi các điểm B1, A2, 24, 9, 14, 7, 8, B2 và diện tích 2.398m
2
được giới hạn các
điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22, 23, A2, B1 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày
24/5/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 mà ông Hoa Văn M và bà Văng
Thị N được hưởng. Các đương sự không được xây dựng công trình hay vật kiến
trúc trên phần đất dùng làm lối đi chung này.
Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1 là một phần
không tách rời của Bản án.
Các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành
các thủ tục hành chính về đất đai theo qui định của pháp luật về đất đai.
Bà Văng Thị N có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Hoa V Mông số tiền
61.600.000đ (sáu mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
[2.4] Về nợ chung: Không xem xét.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 11 tháng 8 năm 2025, ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1), có đơn kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại toàn bộ nội dung bản án
sơ thẩm.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, của bà Văng Thị N, có đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần quyết định về giá trị đất.
* Tại phiên tòa:
+ Bà Văng Thị N thống nhất với bản án sơ thẩm về giải quyết ly hôn, nuôi
dưỡng con chung, cách chia tài sản chung, bà chỉ kháng cáo không đồng ý về giá
của tài sản, sau khi định giá lại thì bà thống nhất với giá mới định tại chứng thư
thẩm định. Đối với số tiền 200.000.000 đồng bản thân bà có cung cấp sao kê tại
ngân hàng thể hiện việc bà có chuyển khoản cho ông M (Mộng) số tiền này, đây
là công sức của bà nên yêu cầu xem xét, còn về diện tích đất đang yêu cầu chia
thì có nguồn gốc của ông bà để lại bà muốn nhận đất không đồng ý nhận giá trị,
cả bà và ông M (Mộng) đều có điều kiện canh tác như nhau, bà hàng tuần đều về
6
và có thể trực tiếp quản lý, sử dụng nên bà đề nghị được nhận đất không đồng ý
nhận giá trị.
+ Ông Hoa Văn M (Mộng) giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị được nuôi dưỡng
con chung cháu Hoa P, xét về điều kiện chăm sóc con chung của ông thì tốt hơn
do ông đi làm sáng đi chiều về, có mẹ ruột và em ông phụ tiếp trong việc chăm
sóc cháu P, còn bà N thì làm việc tại Rạch G, mẹ bà N là bà S lớn tuổi nên việc
giao cháu P cho bà N nuôi dưỡng là không đảm bảo về điều kiện nuôi dưỡng con
chung, bà Lê Thị S mẹ ruột bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu P
nhưng không đưa bà S vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghiã
vụ liên quan là vi phạm tố tụng ảnh hưởng đến việc thay đổi, nuôi dưỡng con
chung.
+ Bà Lê Thị C là người đại diện theo ủy quyền về phần tài sản của ông Hoa
Văn M (Hoa Văn M1) đề nghị xem xét nguồn gốc, công sức và nguồn tiền hình
thành bỏ trực tiếp vào diện tích đất đang giải quyết chia tài sản chung. Ông M
(M1) là người trực tiếp canh tác, hiểu rất rõ đối với tập tính của đất, tại phiên tòa
ông M (Mộng) đồng ý chia 50/50 đối với diện tích đất 5.107 m
2
cho bà N, nhưng
cách phân chia theo như cấp sơ thẩm tuyên sẽ có xảy ra xung đột và việc chừa lối
đi làm giảm diện tích không phù hợp. Để thuận lợi canh tác đề nghị giao cho ông
M (Mộng) được sử dụng hết đất và ông M (Mộng) hoàn lại 50% giá trị đất cho bà
N. Đối với số tiền 200.000.000 đồng là hoàn toàn không có, lời trình bày của bà
N tại phiên tòa là mâu thuẫn không thống nhất, lời khai của ông Đ cũng xác nhận
không có hùn hạp nên đối với việc buộc số tiền này làm ảnh hưởng đến quyền lợi
của ông M (Mộng), bản thân ông M (Mộng) không thừa nhận nên đề nghị không
chấp nhận số tiền 200.000.000 đồng này là tài sản chung để chia theo yêu cầu của
bà N.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng
xét xử, thư ký tòa án đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự từ
khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy
định của pháp luật về tố tụng.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu kháng
cáo của bà N, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông M (Mộng), sửa Bản
án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, tính lại giá trị tài sản là diện tích đất
theo giá của Chứng thư thẩm định, buộc ông M (M1) có trách nhiệm hòan lại giá
trị 37.178.000 đồng cho bà N; Sửa án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và hoàn trả lại
án phí phúc thẩm cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
7
[1.1] Nguyên đơn bà Văng Thị N, bị đơn ông Hoa Văn M (Mộng) kháng cáo
trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử
giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoa Văn Đ có đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt, việc yêu cầu xét xử vắng mặt phù hợp theo khoản 2 Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối
với ông Hoa Văn Đ.
Các đương sự xác định giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và không
cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới, cũng như không thỏa thuận được với nhau.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Văng Thị N, ông Hoa Văn M (Mộng), Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1] Giữa bà Văng Thị N, ông Hoa Văn M (Mộng) thống nhất về quan hệ
hôn nhân, thời gian kết hôn, bà N, ông M (Mộng) có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang, thời gian phát sinh mâu thuẫn, các bên
không thể hàn gắn mâu thuẫn, cả bà N, ông M (Mộng) đều thống nhất đề nghị giải
quyết cho ly hôn nên căn cứ theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình để công nhận
sự thuận tình ly hôn của bà N và ông M (Mộng).
[2.2] Về con chung: có 01 (một) con chung tên Hoa P, sinh ngày 02/10/2016;
hiện đang sống chung với bà Văng Thị N cả bà N và ông M (Mộng) đều có yêu
cầu được nuôi dưỡng cháu P. Tại phiên tòa sơ thẩm ông M1 đồng ý giao cháu P
cho bà M1 được nuôi dưỡng nhưng sau đó kháng cáo đề nghị xem xét giao con
cho ông M1 được nuôi dưỡng con chung.
[2.3] Cấp phúc thẩm đã thực hiện việc ghi nhận ý kiến của cháu P tại biên
bản ngày 16/3/2026, cháu P vẫn có ý kiến mong muốn sống cùng với mẹ là bà N
nên việc ông M1 đưa ra lý do bà N đang công tác ở Rạch G, việc chăm sóc cho
cháu P không đảm bảo. Nhận thấy, cháu P đang sinh sống cùng gia đình bà N đã
ổn định, qua xác minh việc chăm sóc nuôi dưỡng cháu P và lời trình bày của ông
M (Mộng) xác định tại phiên tòa, ông M (Mộng) chăm sóc cháu P từ 01 đến 03
tuổi và hơn 01 năm nay do cha ông M (Mộng) bị bệnh nên ông không có tới lui,
chăm sóc cho cháu P. Đồng thời, ông M (Mộng) có ý kiến cấp sơ thẩm không đưa
bà Lê Thị S là mẹ ruột bà N vào tham gia vụ án là vi phạm tố tụng
[2.4] Hội đồng xét xử nhận thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là nghĩa vụ
của cha mẹ ruột không phải nghĩa vụ của ông bà nên ông M (Mộng) đề nghị đưa
bà S vào tham gia vụ án là không có cơ sở để xem xét. Ông M (Mộng) không trực
tiếp chăm sóc hay nuôi dưỡng con chung nên việc thay đổi người nuôi con, môi
trường sống sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu P. Cháu P sống cùng với bà N
từ thời điểm giải quyết vụ án ly hôn cho đến nay thì học lực của cháu đều giỏi, cho
thấy việc giao con chung cho bà N là căn cứ vào điều kiện, quyền lợi về mọi mặt
của con chung, cũng như căn cứ nguyện vọng con chung nên cấp sơ thẩm căn cứ
8
khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số
01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao để giao cháu Hoa P cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với
quy định nên không có căn cứ chấp nhận đối với yêu cầu kháng cáo của ông M
(Mộng) được nuôi dưỡng cháu P
Việc cấp dưỡng nuôi con đây là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con
tuy nhiên bà N không yêu cầu ông M (Mộng) cấp dưỡng nuôi con nên không xem
xét
[3] Về tài sản chung bà N và ông M (Mộng) thống nhất tài sản chung của vợ
chồng là diện tích 5.107m
2
, thửa số 197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N được thể hiện tại các điểm 15,
16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 9, 14, 7, 8, 1 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày
24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1. người đang quản lý, sử dụng từ năm 2018 cho
đến nay là ông M (Mộng)
[3.1] Tại phiên tòa, cả bà N, ông M (Mộng) thống nhất chia tài sản chung
mỗi người nhận ½ Hội đồng xét xử căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự xác
định định diện tích dất 5.107m
2
là tài sản chung và thống nhất chia ½ tài sản. Tại
phiên tòa, các đương sự đều có yêu cầu nhận hiện vật là diện tích đất, hoàn lại giá
trị tài sản cho người còn lại, xét cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện các tài liệu
chứng cứ để chia cho các đương sự được nhận ½ tài sản là đảm bảo quyền lợi của
các bên. Hội đồng xét xử nhận thấy diện tích đất lớn 5.107m
2
có thể chia ½ cho
các bên được nhận hiện vật là đất nên vẫn giữ nguyên đối với việc chia đất như
cấp sơ thẩm
[3.2] Diện tích đất 5.107m
2
, thửa số 197, tờ bản đồ số 49 qua đo đạc thực tế
thì có một phần diện tích đất ngang 03m được giới hạn bởi các điểm 15,16, 17, B2
tiếp giáp đường còn phần vị trí đất phía trong không tiếp giáp đường nên đã chừa
lại diện tích 109m
2
được giới hạn tại các điểm A1, B1, B2, 1, 15, 16, 17 là lối đi
chung của phần đất ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N là đảm bảo cho việc đi vào
khu đất, cũng như thuận tiện trong việc quản lý, sử dụng. Diện tích đất được xác
xác định là tài sản chung của bà N, ông M (Mộng) sau khi đã trừ lối đi chung thì
diện tích đất còn lại 4.998m
2
, được giới hạn bởi các điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22,
23, A2, 24, 9, 14, 8, B2, B1 xác định đây là tài sản chung của bà N, ông M (Mộng)
chia mỗi người được nhận ½ giá trị tài sản
[3.3] Cả hai không thống thống nhất giá trị đất, tại cấp phúc thẩm yêu cầu
định giá tài sản lại và sau khi có kết quả định giá các đương sự đều thống nhất với
giá tại Chứng thư thẩm định giá số 361/2026/0079 ngày 05/02/2026 của Công ty
Cổ phần T1 nên Hội đồng xét xử căn cứ giá trị tài sản đang tranh chấp tại chứng
thư để giải quyết theo hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015. Giá đất tại chứng thư định giá là 311.000 đồng/m
2
nên diện tích đất
4.998m
2
được xác định là tài sản chung của bà N, ông M1 có tổng giá trị là
9
1.554.378.000 đồng (Một tỷ năm trăm năm mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi tám
nghìn đồng)
[3.4] Bà N được nhận phần diện tích đất 2.600m
2
được thể hiện tại các điểm
B1, A2, 24, 9, 14, 7, 8, B2; ông Hoa Văn M được nhận phần diện tích đất 2.398m
2
được thể hiện tại các điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22, 23, A2, B1 theo sơ đồ hiện trạng
khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1.
[4] Ngoài ra, nguyên đơn bà N còn có yêu cầu đối với số tiền 200.000.000
đồng là tài sản chung của vợ chồng hiện ông M (Mộng) đang giữ, còn ông M
(Mộng) trình bày không có. Tuy nhiên, các khoản sao kê do ngân hàng xác nhận
ngày 12/5/2020 từ tài khoản của bà N có chuyển cho ông M (Mộng) tiền, các đoạn
tin nhắn thoại qua lại giữa bà N với ông M (Mộng) đã thể hiện giữa các bên có số
tiền này là thật cấp sơ thẩm buộc ông M (M1) phải chịu trách nhiệm hoàn lại cho
bà N số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử giao phần diện tích bà Văng
Thị N được nhận diện tích 2.600m
2
nhiều hơn phần diện tích mà ông Hoa Văn M
được nhận diện tích 2.398m
2
nên bà N có nghĩa vụ hoàn lại giá trị cho ông Hoa
Văn M là 62.822.000 đồng (202m
2
x 311.000 đồng). Tuy nhiên, số tiền
200.000.000 đồng xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Hoa Văn M (M1)
đang quản lý nên ông Hoa Văn M (M1) sẽ hoàn lại cho bà N số tiền 100.000.000
đồng. Do đó, sẽ khấu trừ vào khoản giá trị chênh lệch đối với diện tích đất bà N
nhận diện tích hơn 202 m
2
so với đất của ông M (Mộng), sau khi khấu trừ ông M
(M1) phải có trách nhiệm hoàn lại cho bà N phần giá trị tài sản chênh lệch là
37.178.000 đồng.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh An Giang đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Tại giai đoạn phúc thẩm có
định giá lại theo yêu cầu của các bên nên sửa án sơ thẩm về chia giá trị tài sản như
nhận định nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm đối với tính lại giá trị
đất theo Chứng thư thẩm định mới là phù hợp.
[7] Do bản án sơ thẩm bị sửa nên chi phí tố tụng và án phí dân sự được xác
định lại, cụ thể:
[7.1] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là
14.400.000 đồng, bà N đã nộp tạm ứng 7.400.000 đồng trong giai đoạn sơ thẩm;
ông M (Mộng) tạm ứng trong giai đoạn phúc thẩm là 7.000.000 đồng theo Phiếu
thu số 242 ngày 31/12/2025 của Công ty Cổ phần T1. Do đây là vụ án tranh chấp
chia tài sản chung nên mỗi người phải chịu số tiền là 7.200.000 đồng. Sau khi
khấu trừ bà N đã nộp đủ chi phí tố tụng; ông M (Mộng) có nghĩa vụ hoàn trả lại
cho bà N số tiền chi phí tố tụng là 200.000 đồng.
[7.2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị tài sản chung
được chia, bà N, ông M (Mộng) còn phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm mỗi người phải chịu là 75.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
10
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số
01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao; cụ thể:
- Bà N phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 39.162.560 đồng nhưng được khấu
trừ vào 8.250.000 đồng (tám triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai số 0014959 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Bà Văng Thị N phải tiếp tục nộp
30.912.560 đồng (Ba mươi triệu chín trăm mười hai nghìn năm trăm sáu mươi
đồng) án phí sơ thẩm
- Ông M (M1) phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 39.162.560 đồng.
[7.3] Về án phí phúc thẩm: Bà N, ông M (Mộng) không phải chịu án phí
phúc thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[8] Đối với các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số , ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Văng Thị N;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Hoa Văn M (Hoa Văn M1)
Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 06
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang
Căn cứ vào: Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 105, 106, 107, 213, 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015;Điều 29, 33, 34, 35,
38, 51, 55, 59, 62, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểu 26, 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Văng Thị N về việc
yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với số tiền 60.000.000đ và yêu cầu
ông Hoa Văn M cấp dưỡng nuôi con.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Văng Thị N:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Văng Thị N với ông Hoa Văn M (Mộng) thuận
tình ly hôn.
2.2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Hoa P, sinh ngày 02/10/2016.
11
Bà Văng Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Hoa P,
sinh ngày 02/10/2016. Ông Hoa Văn M (Mộng) không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Văng Thị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở
ông Hoa Văn M (Mộng) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung. Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá
nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi
mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
2.3. Về tài sản chung: 01 quyền sử dụng đất diện tích 4.998m
2
, thửa số 197,
tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN05495 ngày
11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà
Văng Thị N được thể hiện tại các điểm 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 9, 14,
7, 8, 1 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1 là tài
sản chung của N, ông M (Mộng), trị giá tài sản chung là 1.554.378.000 đồng (Một
tỷ năm trăm năm mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng) và và số tiền
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Tổng cộng giá trị tài sản chung là
1.754.378.000 đồng (Một tỷ bảy trăm năm mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi tám
nghìn đồng)
2.4. Về chia tài sản chung:
- Bà N được nhận 50% giá trị tài sản chung tương đương số tiền là
877.189.000 đồng (T trăm bảy mươi bảy triệu một trăm tám mươi chín nghìn
đồng)
- Ông M (Mộng) được nhận 50% giá trị tài sản chung tương đương số tiền là
877.189.000 đồng (T trăm bảy mươi bảy triệu một trăm tám mươi chín nghìn
đồng)
2.5. Bà Văng Thị N được quản lý, sử dụng diện tích đất và cây trồng có trên
diện tích đất 2.600m
2
tại các điểm B1, A2, 24, 9, 14, 7, 8, B2 theo Sơ đồ hiện
trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1, thuộc thửa số
197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN05495 ngày
11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà
Văng Thị N; vị trí khu đất tọa lạc tại: xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã L,
tỉnh An Giang), trị giá 808.600.000 đồng
2.6. Ông Hoa Văn M (Mộng) được quản lý, sử dụng diện tích đất và cây
trồng có trên diện tích đất 2.398m
2
tại các điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22, 23, A2, B1
theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đ1 lập, thuộc thửa số 197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho
ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N, Vị trí khu đất tọa lạc tại: xã L, huyện C, tỉnh
An Giang (nay là xã L, tỉnh An Giang), trị giá 745.778.000 đồng.
2.7. Diện tích 109m
2
tại các điểm A1, B1, B2, 1, 15, 16, 17 là lối đi chung
của phần diện tích 2.600m
2
được giới hạn bởi các điểm B1, A2, 24, 9, 14, 7, 8, B2
12
và diện tích 2.398m
2
được giới hạn các điểm A1, 18, 19, 20, 21, 22, 23, A2, B1
theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đ1, thuộc thửa số 197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông
Hoa Văn M và bà Văng Thị N, Vị trí khu đất tọa lạc tại: xã L, huyện C, tỉnh An
Giang (nay là xã L, tỉnh An Giang). Các đương sự không được xây dựng công
trình hay vật kiến trúc trên phần đất dùng làm lối đi chung này.
2.8. Ông Hoa Văn M (M1) có trách nhiệm giao cho bà Văng Thị N đối với
diện tích đất và cây trồng có trên diện tích đất 2.600m
2
tại các điểm B1, A2, 24, 9,
14, 7, 8, B2 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty trách
nhiệm hữu hạn Đ1, thuộc thửa số 197, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N; vị trí khu đất tọa lạc tại: xã L,
huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã L, tỉnh An Giang).
(Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Công ty TNHH Đ1 là một
phần không tách rời của Bản án).
Các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện
thủ tục kê khai, đăng ký điều chỉnh biến động liên quan đến diện tích đất theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN05495 ngày 11/7/2023 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Hoa Văn M và bà Văng Thị N theo qui
định của pháp luật về đất đai.
3. Ông Hoa Văn M (M1) có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Văng Thị N số tiền là
37.178.000 đồng.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là
14.400.000 đồng, bà N đã nộp tạm ứng 7.400.000 đồng trong giai đoạn sơ thẩm;
ông M (Mộng) tạm ứng trong giai đoạn phúc thẩm là 7.000.000 đồng. Sau khi
khấu trừ bà N đã nộp đủ chi phí tố tụng; ông M (Mộng) có nghĩa vụ hoàn trả lại
cho bà N chi phí tố tụng số tiền là 200.000 đồng.
6. Về án phí:
6.1. Án phí sơ thẩm:
Bà Văng Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng và
phải chịu án phí chia tài sản là 39.087.560 đồng, tổng cộng án phí 39.162.560
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí .250.000 đồng (tám triệu,
13
hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai
số 0014959 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới tỉnh
An Giang nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11-An Giang. Bà Văng Thị N
phải tiếp tục nộp 30.912.560 đồng (Ba mươi triệu chín trăm mười hai nghìn năm
trăm sáu mươi đồng).
Ông Hoa Văn M (M1) phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000
đồng và phải chịu án phí chia tài sản là 39.087.560 đồng, tổng cộng án phí sơ thẩm
là 39.162.560 đồng.
6.2. Án phí phúc thẩm:
Hoàn trả cho bà N 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm bà N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số
0001049 ngày 22/8/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 11-An Giang
Hoàn trả cho ông M (Mộng) 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm ông M (Mộng) đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu số 0001050 ngày 22/8/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự Khu
vực 11-An Giang
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
- Đương sự;
- Tòa GĐ&NCTT;
- VKSND tỉnh AG;
- Phòng GĐKT,TT&THA;
- TAND Khu vực 11-An Giang;
- Phòng THADS Khu vực 11-An Giang;
- TAND tối cao;
- Văn phòng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Ngọc Thúy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 13/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm