Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện U Minh Thượng (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 42/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Giang xin ly hôn với bà Bớt ở An Minh Bắc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN U MINH THƯỢNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-8-2024.
Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàng Kiệt
2. Ông Trần Văn Tám.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang - Thư Tòa án nhân dân huyện
U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n huyện U Minh Thượng: Vụ án không
thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ số:
79/2024/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn và
nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXX-HNGĐ,
ngày 10/7/2024 quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày
26/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Tạ Hoàng G, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1981.
Địa chỉ: p H, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2024 các lời khai tại Tòa án, nguyên
đơn ông Tạ Hoàng G trình bày:
Về hôn nhân: Ông Tạ Hoàng G Nguyn Thị B đăng kết hôn tại Ủy
ban nhân dân An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang ngày
24/6/2011. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ
2
chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh
phúc nên ông G yêu cầu được ly hôn với bà B.
Về con chung: Ông G B 01 người con tên Tạ Tường Vy, sinh ngày
10/4/2010. Hiện cháu Vy đang sống với B, khi ly hôn ông G đồng ý giao con
chung cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bđơn Nguyễn Thị B được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
theo quy định. Đồng thời được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia
phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải; triệu
tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng đều vắng
mặt không do. Trong qtrình giải quyết vụ án B cũng không văn
bản trình bày ý kiến hoặc yêu cầu phản tố nên không có ý kiến trình bày.
Những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ:
Nguyên đơn cung cấp: Căn ớc công dân; Bản sao giấy khai sinh tên Tạ
Tường Vy; Giấy chứng nhận kết hôn của ông G B; Đơn xác nhận nơi cư trú
của bị đơn.
Bị đơn cung cấp: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ đến ngày xét xử Tòa án đã tống đt
hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự,
triệu tập hợp lệ để xét xử đến lần thứ hai nhưng Nguyễn Thị B vẫn vắng mặt
không do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Tạ Hoàng G và Nguyễn
Thị B hợp pháp. Mặc B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua phần trình bày
ý kiến của ông G, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên ông G rút đơn khởi kiện
để vợ chồng tiếp tục chung sống nuôi con chung nhưng ông G kiên quyết xin ly
hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, nếu tiếp tục chung sống cũng không
hạnh phúc, ông G B đã ly thân từ m 2021 đến nay nhưng vchồng cũng
không thể hàn gắn.
Qua ý kiến trình bày của ông G, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn
nhân nữa ông G B đã rạn nứt, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không
còn quan tâm yêu thương, tìm cách giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục
chung sống, vậy mc đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51,
khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất
3
cho ông G được ly hôn với bà B.
[3]. Về con chung: Ông G B 01 người con chung tên TTường
Vy, sinh ngày 10/4/2010. Do B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
nên không ý kiến về việc nuôi con. Nên việc giao con chung cho ông G hay
B nuôi dưỡng sdo Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt cháu Vy.
Hiện tại cháu Vy đã trên 7 tuổi, theo quy định tại Điều 81 Luật Luật hôn nhân
gia đình năm 2014 Tòa án phải xem xét nguyện vọng của cháu Vy về việc cháu Vy
muốn sống chung với cha hoặc mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tại bản tự khai ngày
10/7/2024 cháu Vy có nguyện vọng được sống với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy,
từ khi ông G bà B ly thân đến nay tbà B người trực tiếp nuôi con, theo ông
G thì hiện tại cháu Vy vẫn khỏe mạnh phát triển bình thường như bao trẻ em
khác, ông G cũng đồng ý để B tiếp tục nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử thống
nhất giao cháu Tạ Tường Vy cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình người
không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải có nghĩa vụ cấp dưng nuôi con, trong
quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán Hội đồng xét xử
đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chung khi ly hôn
nhưng ông G không cấp dưỡng nuôi con, bà B cũng không yêu cầu cấp dưỡng
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.
[4]. Về chia tài sản chung: Ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: Ông G phải chịu án phí hôn
nhân gia đình 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí ông G đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai
thu số 0000610 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang. Ông G đã nộp xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật
hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội quy định về án phí, lphí Tòa án; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều
227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1. Về hôn nhân: Ông Tạ Hoàng G được ly hôn với Nguyễn Thị B.
2. Về con chung: Giao con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 10/4/2010
4
cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông G quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản
trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng
xấu đến việc trông nom, chămc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà B.
3. Về chia tài sản chung: Ông G trình bày vợ chồng không tài sản nợ
chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hi đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông G phải chịu tiền án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí ông G đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai thu số 0000610 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án n sự huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Ông G đã nộp xong.
Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 Điều 9
Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng;
- Cơ quan Thi hành án Dân sự H. U Minh Thượng;
- Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký kết hôn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Tuấn Khanh
Tải về
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất