Bản án số 401/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 401/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 401/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 401/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn bàTôn Nữ Hồng T khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà H , ông H1 trả số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 11/03/2018 đến nay 07 năm 03 tháng với mức lãi suất 10%/năm là 290.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 690.000.000đ (Sáu trăm chín mươi triệu đồng)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 401/2025/DS-PT
Ny: 23 - 12 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi
lại Giấy chng nhận quyền sdng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đc lập - Tdo - Hnh phúc
NN DANH
NƯỚC CNG HOÀ XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
T ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐK LK
- Thành phn Hi đồng t xử phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Đinh Thị Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và Lê Thị Thanh Huyền
Thư phiên toà: Hoàng Thị Kim Duyên Thư Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên toà: Nguyn
Th Mai Liên - Kim sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, ti tr s Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lk xét x
phúc thm công khai v án dân s th s 394/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm
2025 v vic Tranh chp hp đng vay tài sn, đòi lại Giy chng nhn quyn s
dng đt.
Do bn án dân s thẩm s: 54/2025/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của
Toà án nhân dân thành ph Tuy Hoà, tnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân Khu vc
11 Đắk Lk) b kháng cáo.
Theo quyết định đưa v án ra xét x s 402/2025/-PT ngày 12/11/2025 gia
các đương sự;
1. Nguyên đơn: Bà Tôn Nữ Hồng T, sinh năm 1973;
Địa chỉ: khu phố 7, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên (Nay khu phố 7, S,
tỉnh Đắk Lắk) (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Ngô Minh Tùng, sinh năm 1975; Địa chỉ:
265 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Thị Tuyết H, sinh năm 1981 ông Châu Văn H1, sinh năm
1978 (đều vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Châu Văn H1: Bà Thị Tuyết H; Nơi
ĐKTT: khu phố N2, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở: Thôn L 1, B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay L 1, phường B, tỉnh
Đắk Lắk).
2
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn Lê Thị Tuyết H: Bà Phạm
Bảo T - Luật sư Công ty Luật TNHH Đ - Chi nhánh T. Địa chỉ: 28 N, phường T, tỉnh
Đắk Lắk (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị Tuy B, sinh năm 1982; Địa chỉ: 219 T, phường 7, thành phố
T, tỉnh Phú Yên (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) (vắng mặt).
3.2. Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Xây dựng HT; Địa chỉ: 219 T,
phường 7, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk). Người đại
diện hợp pháp có bà Nguyễn Thị Trâm K - chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
3.3. Ông Huỳnh Kim H2, sinh năm 1963; Địa chỉ: 117 T, thị trấn H, huyện S,
tỉnh Phú Yên (Nay là xã S, tỉnh Đắk Lắk) (vắng mặt).
4. Người làm chứng: Nguyễn Thị Bích H3, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu phố
N 1, phường 9, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) (vắng
mặt).
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Tôn N Hng T.
NI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, ông Ngô
Minh Tùng - người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 10/01/2018, bà Tôn Nữ Hồng T cho vợ chồng
Thị Tuyết H ông Châu Văn H1 vay số tiền 400.000.000 đồng, hẹn 02 tháng sẽ
trả nợ. Ktừ ngày 10/01/2018 đến ngày 10/3/2018, các bên thoả thuận trả lãi riêng.
Đồng thời, vợ chồng bà H, ông H1 thế chấp cho T 01 Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: BA 916031 do
UBND thành phố T cấp ngày 13/5/2010 cho Thị Tuyết H. Từ ngày vay cho
đến nay, vợ chồng H, ông H1 chưa trả nợ gốc lãi cho bà T. Nay nguyên đơn
T khởi kiện yêu cầu vợ chồng H, ông H1 trả số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng
tiền lãi tính từ ngày 11/03/2018 đến nay 07 năm 03 tháng với mức lãi suất 10%/năm
290.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 690.000.000đ (u trăm chín
mươi triệu đồng).
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Thị Tuyết H, nguyên đơn không đồng
ý vì: nguyên đơn trực tiếp cho vợ chồng H, ông H1 vay số tiền 400.000.000 đồng,
không sviệc mượn tiền thông qua Nguyễn Thị Tuy B không việc H
đưa bản chính Giấy mượn tiền Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để
Bình giao lại cho bà T, sau đó Bình nhận tiền tT đưa lại cho H như
H trình bày.
Tại đơn yêu cầu phản tố, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị Tuyết
H ông Châu Văn H1, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn H -
bà Phạm Bảo Trân trình bày như sau:
3
Năm 2018, Thị Tuyết H nhờ bạn tên Nguyễn Thị Tuy B giúp vay tiền.
Bà Bình hướng dẫn bà H viết Giấy mượn tiền ngày 10/01/2018 với nội dung: H có
mượn của Tôn Nữ Hồng T số tiền 400.000.000 đồng H đưa Bình bản
chính 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 916031 do UBND thành phố T
cấp ngày 13/5/2010 mang tên Thị Tuyết H đnh đưa cho bà T. T hẹn
ngày 11/01/2018 từ S đem tiền xuống cho H mượn, nhưng thực tế T chưa gặp
chưa đưa tiền cho H mượn. H nhiều lần liên hệ T bà Bình đlàm rõ
thì phát hiện hai người này đã thông đồng lừa H viết giấy mượn tiền cũng như
nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H. Do đó, bà H vừa nộp đơn khởi
kiện tại TAND huyện S, vừa tố cáo sviệc trên cho quan Cảnh sát điều tra Công
an thành phố Tuy Hoà giải quyết. Ngày 25/10/2018, quan Cảnh sát điều tra Công
an thành phố Tuy Hoà ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số
127/CSĐT. Ngày 04/5/2019, T yêu cầu phản tố yêu cầu TAND huyện S tuyên
buộc H trả lại số tiền vay cho T. Sau đó, T rút đơn khởi kiện tại TAND
huyện S nộp đơn khởi kiện tại TAND thành phố Tuy Hoà (được TAND thành phố
Tuy Hoà thụ vụ án dân sự thẩm số 175/2023/TLST-DS ngày 23/10/2023).
vậy bị đơn H cũng rút yêu cầu khởi kiện tại TAND huyện S, nên TAND huyện S
ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2024/QĐST-DS ngày
22/01/2024.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý vì: bị đơn bà H,
ông H1 không vay tiền trực tiếp từ bà T, mà vợ chồng bà H mượn tiền bà T thông qua
Nguyễn Thị Tuy B bằng việc H đưa bản chính giấy mượn tiền Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Bình để bà Bình giao lại cho T, sau đó
Bình nhận tiền từ bà T và đưa lại cho bà H. Tuy nhiên, kể từ ngày viết giấy mượn tiền
theo hướng dẫn của bà Bình cho đến nay, vợ chồng bà H chưa nhận bất cứ khoản tiền
nào từ T. Do đó, bị đơn yêu cầu phản tố: đề nghị Tán tuyên huỷ hợp đồng
vay tài sản theo Giấy mượn tiền ngày 10/01/2018 giữa bà T với vợ chồng H, ông
H1 yêu cầu T trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA
916031, do UBND thành phố T cấp ngày 13/5/2010 cho bà Lê Thị Tuyết H. Tài liệu,
chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu phản tố của H là các tin nhắn Zalo trao đổi
giữa Bình H thể hiện tại Biên bản vviệc trích dữ liệu cuộc gọi điện thoại
ngày 03/7/2018 do quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hoà thực hiện
lời khai của Bình, bà H tại quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy
Hoà.
Tại Bản trình bày ngày 11/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Tuy B trình bày: Số điện thoại di động 0914.092.161 do bà Nguyễn
Thị Tuy B đăng ký sử dụng từ trước năm 2010 cho tới nay nhưng đến cuối năm 2013
Bình xin hoà mạng vào Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Xây dựng HT
đứng tên, một phần để phục vụ quản lý các đội thợ thi công của Công ty, một phần để
4
đăng cho Công ty thanh toán cước phí công tác cho bà. Ngoài ra Công ty HT
không quản lý gì về việc sử dụng điện thoại riêng tư của bà Bình.
Về vấn đề vay mượn tiền giữa H T: H bạn học phổ thông,
giữa T bạn quen biết ngoài xã hội, sau đó giao lưu trở thành bạn
chung. Vấn đề vay mượn giữa T H tnghe qua nhưng hoàn toàn
không biết về việc giao dịch giữa hai người này. Vì thời gian đó nhà bà H cũng xảy ra
biến cố nợ nần rất nhiều và không biết gì vđoạn tin nhắn H cung cấp.
Giữa H bạn rất thân với nhau nên thường xuyên gặp mặt để tiền bạc,
điện thoại ra ngoài bàn như xem không chuyện gì. Việc H vay mượn thế
chấp với T, bà hoàn toàn không biết cho đến khi xảy ra vụ việc TAND huyện S
Công an thành phố Tuy Hoà mời bà lên làm việc. Bà không nhận sổ đỏ và giấy mượn
nợ của bà H để đưa cho bà T.
Tại Đơn trình bày ngày 06/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Xây dựng HT do người đại diện hợp
pháp bà Nguyễn Thị Khánh Trâm trình bày:
Số điện thoại di động 0914.092.161 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
Thương mại - Dịch vụ - Xây dựng HT nhưng bà Nguyễn Thị Tuy B người sử dụng
từ trước khi đăng sở hữu qua Công ty cho đến thời điểm hiện tại đphục vụ cho
các liên hệ công việc cũng như sử dụng nhân của Bình. Ngoài ra, Công ty
không biết nội dung gì có liên quan đến vụ án nêu trên.
Tại Bản trình bày ngày 02/6/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Huỳnh Kim H2 trình bày:
Ông không biết nhà Nguyễn Thị Tuy B cũng không lấy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay lấy giấy tờ nhà Bình. Ông không biết về tin
nhắn giữa bà Bình và H. Ông không biết và cũng không quan tâm đến việc làm ăn
của vợ ông là bà Tôn Nữ Hồng T vì vợ chồng ông không làm việc cùng nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của
Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (nay Toà án nhân dân Khu
vực 11 – Đắk Lắk) đã quyết định:
Căn cứ các điều 105, 166, 423, 427, 463, 466, 468, 470 B lut Dân s năm
2015.
Căn cứ Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 ca U ban thường
v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và
l phí Toà án Tuyên x:
1. Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn Tôn N Hng T v
vic buc b đơn v chng Th Tuyết H và ông Châu Văn H1 tr cho Tôn
N Hng T s tiền 690.000.000 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu đồng), trong đó tiền
gốc 400.000.000 đng (Bốn trăm triệu đồng), tiền lãi 290.000.000 đồng (Hai trăm
chín mươi triệu đồng) v khon n hợp đồng vay tài sn theo Giấy mượn tin ngày
10/01/2018.
2. Chp nhn yêu cu phn t ca b đơn bà Lê Th Tuyết H:
5
Hu hợp đồng vay tài sn theo Giấy mượn tin ngày 10/01/2018 gia bà Tôn N
Hng T vi v chng bà Lê Th Tuyết H và ông Châu Văn H1.
Buc bà Tôn N Hng T tr li cho bà Lê Th Tuyết H bn chính 01 Giy chng
nhn quyn s dụng đt, quyn s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s BA
916031, s vào s cp GCN: CH 00362 do UBND thành ph T cp ngày 13/5/2010
cho bà Lê Th Tuyết H.
Ngoài ra, bn án còn tuyên v án phí và quyn kháng cáo của đương sự theo quy
định pháp lut.
Ngày 26/6/2025, nguyên đơn bà Tôn N Hng T làm đơn kháng cáo toàn bộ bn
án sơ thẩm đ ngh Toà án cp phúc thm sa bản án thẩm theo hướng chp nhn
toàn b yêu cu khi kin ca nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của Tôn Nữ Hồng T
yêu cầu hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ khởi kiện, đơn kháng cáo của
Tôn Nữ Hồng T.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Thị Tuyết H đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Tôn Nữ Hồng T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Trong qtrình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán,
Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ
án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Tôn Nữ Hồng T: Giữ nguyên quyết định của
Bản án dân sự thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Toà án
nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (nay Toà án nhân dân Khu vực 11
Đắk Lắk).
NHẬN ĐỊNH CỦA A ÁN:
Căn cứ o các i liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên a, căn cứ
vào kết qutranh lun ti phn tòa trên cơ sở xem t đy đ c i liệu chứng c, lời
trình y của c đương sự, ý kiến của Kiểm t viên; Hội đồng t xử phúc thẩm nhận
đnh n sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn khángo ca Tôn N Hng T làm trong hạn luật
định. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên vụ án được
xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] V ni dung:
Theo trình bày của các đương s, Tôn N Hng T cho rng do Th
Tuyết H gặp khó khăn về kinh tế nên vay ca s tiền 400.000.000 đồng, thế
chp Giy chng nhn quyn s dụng đất; vic giao nhn tin giy t đưc thc
hin trc tiếp gia hai bên vào khong t 19 gi đến 20 gi ngày 10/01/2018. Sau khi
bà H giao Giy chng nhn quyn s dụng đất và Giấy mượn tin có ch ký ca bà H
6
ông Châu Văn H1, T đã giao đủ s tiền 400.000.000 đồng cho H, kng
thông qua bà Nguyn Th Tuy B.
Ngược li, Th Tuyết H trình bày do không quen biết Tôn N Hng T
nên đã nh Nguyn Th Tuy B tìm người cho vay tin. Theo s ng dn ca
Bình, v chng bà H và ông Châu Văn H1 đã lập Giấy mưn tin s tin 400.000.000
đồng giao bn chính Giy chng nhn quyn s dụng đất s BA 916031 đng tên
H cho bà Bình vi mục đích nhờ Bình chuyn cho T để vay tin. Tuy nhiên,
t thời điểm lp Giấy mượn tiền đến nay, H chưa nhận được tin vay; nhiu ln
yêu cu giao tiền nhưng T cho rằng đã giao tin yêu cu thc hiện nghĩa vụ tr
n theo Giấy mượn tin.
Bà Nguyn Th Tuy B trình bày là người gii thiu vic vay tin gia bà H và bà
T, có hướng dẫn qua đin thoi v vic lp Giấy mượn tin; tuy nhiên việc vay mượn
giao tin do H bà T trc tiếp thc hin. không biết H đã nhn tin
hay chưa, không trc tiếp cm gi Giấy mượn tin Giy chng nhn quyn s
dụng đất; xác nhn s dng tài khon Zalo gn vi s đin thoi 0914.092.161
không rõ lý do vì sao trong h sơ vụ án có các tin nhắn Zalo liên quan đến v vic.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Tôn N Hng T thì thy:
Nguyên đơn Tôn N Hng T kháng cáo yêu cu Tòa án cp phúc thm sa
bản án sơ thm theo ng, chp nhn yêu cu khi kin, buc v chng Th
Tuyết H ông Châu Văn H1 tr s tiền 400.000.000 đng tin gc 290.000.000
đồng tin lãi theo Giấy mượn tin ngày 10/01/2018.
[3.1] Xét vic giao kết và thc hin hợp đồng vay.
Theo Giấy mượn tin ngày 10/01/2018, Th Tuyết H người mượn ca
Tôn N Hng T s tiền 400.000.000 đồng, cm c Giy chng nhn quyn s
dụng đất s BA 916031 đứng tên bà H. Giấy mượn tin ch ca H ông
Châu Văn H1. Tuy nhiên, H không tha nhận đã nhận được tin vay cho rng
vic lp Giấy mượn tin, giao Giy chng nhn quyn s dụng đất được thc hin
theo s ng dn ca bà Nguyn Th Tuy B.
Xét li trình bày ca nguyên đơn cho rằng đã giao tiền vào ti ngày 10/01/2018,
Hội đồng xét x phúc thm thy rng ngoài Giấy mượn tiền, nguyên đơn không xut
trình được chng c nào chng minh vic giao nhn tiền, như biên nhận, chng t
chuyn khon, tài liu th hin ngun tiền, người làm chng hoc các chng c khác.
Theo quy đnh tại Điều 91 B lut T tng dân sự, nghĩa vụ chng minh vic giao
tin thuc v nguyên đơn.
Mt khác, ti Biên bn ghi li khai ngày 10/7/2018 của quan Cảnh sát điu
tra Công an thành ph Tuy Hòa (bút lc 150151), Nguyn Th Tuy B tha nhn
người gii thiu vic vay tin gia Th Tuyết H Tôn N Hng T, trc
tiếp s dng s đin thoại 0914.092.161 để liên lạc, trao đổi vi H v vic vay
tin, đồng thi xem li Giấy mượn tin do bà H lập hướng dn yêu cu ông
Châu Văn H1 cùng tên. Ni dung trình bày này phù hp vi d liu tin nhn Zalo
được quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Tuy Hòa trích xut ti Biên bn
ngày 03/7/2018. C th, các tin nhn th hin việc Bình hướng dn H lp Giy
n tin và yêu cu có ch ký ca ông H1 như:
7
“Mày i anh Hiếu đi xong đâu tao chy lại”, “Ok tao chụp hình gi
ri, ly giấy sau cũng được”.
Ngoài ra, các tin nhn còn th hin vic Bình hn thời điểm nhn giy t để
giao cho phía T vic ông Hunh Kim H2, chng bà T, đến ly giy t, th hin
qua ni dung: “Hôm qua đang chuẩn b đi ngủ anh Hùng chng Trung chy qua ly
ri”. Qua đó cho thấy các trao đổi gia H và bà Bình ch xoay quanh vic hoàn tt
Giấy mượn tin và vic giao Giy chng nhn quyn s dụng đất, không ni dung
nào th hin vic tiền vay đã được giao hoặc Bình đã nhận tin t T để chuyn
cho H. Trái li, các tin nhn còn th hin H nhiu ln khẳng định chưa nhận
đưc tiền, như: “Uhm, nhưng tao chưa nhận 400 tr nhen”, “Nói chung là tao ch
ghi giấy mượn tiền nhưng tao chưa cầm tiền mà”, đng thời đ ngh Bình liên h
vi bà T đ gii quyết vic giao tin.
Mc Bình không tha nhn các tin nhn nêu trên do mình gửi, nhưng
không cung cấp được chng c chứng minh có người khác s dng tài khon Zalo
gn vi s đin thoi 0914.092.161; trong khi Bình xác nhn s đin thoi này do
mình s dng liên tc và tài khon Zalo đưc lp t chính s thuê bao trên. Do đó,
đủ căn cứ xác định các tin nhắn Zalo được trích xut do bà Bình thc hin có
giá tr làm quá trình lp Giấy mượn tiền cũng như việc chưa thc hiện nghĩa vụ
giao tin vay.
Như vậy, qua xem xét toàn b chng c trong h v án cho thấy không có cơ
s xác định vic nguyên đơn đã giao tin vay cho b đơn vào ngày 10/01/2018 như
nguyên đơn trình bày.
Theo quy đnh tại Điều 463 B lut Dân s năm 2015, hợp đồng vay tài sn
hợp đồng thc tế, ch phát sinh hiu lc khi bên cho vay thc tế giao tài sn cho bên
vay. Do nguyên đơn không chứng minh được vic giao tin, nên giao dch vay gia
các bên chưa được thc hin. vậy, không căn c chp nhn yêu cu khi kin
đòi tin của nguyên đơn. Việc Tòa án cấp thẩm xác định T chưa giao tiền cho
bà H và không chp nhn yêu cu khi kiện là có căn cứ đúng pháp luật.
[3.2] V yêu cu phn t ca b đơn.
T các phân tích nêu trên. Mc , gia các bên lp Giấy mượn tin ngày
10/01/2018, nhưng nghĩa v bản ca bên cho vay là giao tài sn vay cho bên vay
chưa đưc thc hin. Vic không thc hiện nghĩa v này vi phm nghiêm trng
nghĩa vụ hợp đồng, làm cho bên vay không đạt được mc đích của vic giao kết hp
đồng. Do đó, căn c đim b khoản 1 Điều 423 B lut Dân s năm 2015, bị đơn
quyn yêu cu hy b Hp đồng vay tài sn.
Vic Tòa án cấp sơ thẩm chp nhn yêu cu phn t, tuyên hy hợp đồng vay tài
sn theo Giấy mượn tin ngày 10/01/2018 là phù hp với quy định pháp lut. Khi hp
đồng b hy bỏ, theo Điu 427 B lut Dân s, hợp đng không còn hiu lc k t
thời điểm giao kết các bên phi hoàn tr cho nhau những đã nhận. Trong v án
này, b đơn chưa nhận tin vay ca nguyên đơn, còn nguyên đơn đang gi bn chính
Giy chng nhn quyn s dụng đất ca b đơn. Do đó, cp thẩm buc bà Tôn Nữ
Hồng T phải tr li Giy chng nhn quyn s dụng đất s BA 916031 cho bà Lê Th
Tuyết H là đúng quy đnh tại Điều 166 B lut Dân s, bảo đảm vic khôi phc li
tình trạng ban đầu ca các bên.
8
[3.3] Ti cp phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được tài liu, chng c
mới nào để chng minh cho yêu cu ca mình. Do đó, không căn c chp nhn
kháng cáo, cn gi nguyên bản án sơ thẩm là phù hp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kng cáo của bà Tôn Nữ Hồng T không
được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí n s pc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Tôn N Hng T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 16
tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (nay là Toà
án nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk).
[2] Về điều luật áp dụng: Căn cứ các điều 105, 166, 423, 427, 463, 466, 468,
470 B lut Dân s năm 2015.
Căn cứ Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 ca U ban thường
v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và
l phí Toà án Tuyên x:
[2.1] Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Tôn N Hng T v
vic buc b đơn v chng Th Tuyết H và ông Châu Văn H1 tr cho Tôn
N Hng T s tiền 690.000.000 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu đồng), trong đó tiền
gốc 400.000.000 đng (Bốn trăm triệu đồng), tiền lãi 290.000.000 đồng (Hai trăm
chín mươi triệu đồng) v khon n hợp đồng vay tài sn theo Giấy mượn tin ngày
10/01/2018.
[2.2] Chp nhn yêu cu phn t ca b đơn bà Lê Th Tuyết H:
Hu hợp đồng vay tài sn theo Giấy mượn tin ngày 10/01/2018 gia bà Tôn N
Hng T vi v chng bà Lê Th Tuyết H và ông Châu Văn H1.
Buc Tôn N Hng T tr li cho Th Tuyết H bn chính Giy chng
nhn quyn s dụng đất, quyn s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s BA
916031, s vào s cp GCN: CH 00362 do UBND thành ph T cp ngày 13/5/2010
cho bà Lê Th Tuyết H.
[2.3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Tôn Nữ Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009059 ngày 15/7/2025 của
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự”.
9
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TAND tối cao tại
Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 11;
- Phòng THADS Khu vực 11;
- Cổng TTĐT Toà án;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Đinh Thị Tuyết
Tải về
Bản án số 401/2025/DS-PT Bản án số 401/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 401/2025/DS-PT Bản án số 401/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất