Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 164/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Kim N yêu cầu Huỳnh văn H trả số tiền chuyển nhượng đất là 450.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 164/2026/DS-PT
Ngày: 06-02-2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Ông Lê Thành Tôn
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02 06 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 865/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 11 năm 2025 vtranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 1416/2025/QĐ-PT ngày
12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim N, sinh năm 1970;
Địa chỉ: ấp Đông Thành, xã Thạnh Đông A, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ở: Tổ 30, ấp An Định, xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
(Nay là tổ 30, ấp An Định, phường Mỹ Trà, tỉnh Đng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn H, sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: Khóm A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 16/01/2026)
- Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1986;
2
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1985 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Số D, tổ B, khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp
(Nay là khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền ca H1: Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1985;
(Theo văn bản ủy quyền ngày 26/01/2026)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị Thanh K, sinh năm 1976 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ E, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ mới hiện nay: Tổ 59, khóm I, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng
Tháp nay là phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Vũ Thị Hồng K1, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đng Nai.
Địa chỉ hiện nay: Tổ E, ấp T, T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nay
khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ông Vũ Xuân T1, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A, khu A, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ hiện nay: Tổ E, ấp T, T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nay
khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim N trình bày:
Ngày 01/9/2023, N ông Huỳnh Văn H1 cùng vợ Nguyễn Thị
Cẩm T giao kết thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đặt cọc
tiền cọc tiền chuyển nhượng quyền sử đất (giấy viết tay) khoảng 115 thuộc
một phần thửa đất số 195, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại T, thành phố C, loại
đất trồng lúa (vị trí tiếp giáp đường sở Pháp tiếp giáp thửa 851, tờ bản đồ
số 3), giá chuyn nhượng là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), N đã đặt
cọc 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng). Ông H1 và bà T cam kết
sẽ làm thủ tục sang tên cho bà N và gọi những người đồng sử dụng đến đất thực
địa để bàn giao vị trí sẽ làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho N, khi nào ra công chứng thì N sẽ giao đủ số tiền còn lại
350.000.000 đồng (ba trăm m mươi triệu đồng). Sau nhiều lần N yêu cầu
ông H1 bà T ra Văn phòng công chứng để công chứng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông H1bà T không thực hiện, đến nay giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính vẫn do ông H1 và bà T giữ.
3
N khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh yêu cầu ông
H1 và bà T tiếp tục thực hiện hợp đồng đã được tòa án thụ nhưng N đã
rút đơn khởi kiện để thương lượng hợp đồng.
Ngày 30/3/2024, T nhắn tin Z cho N với nội dung: "Trong vòng
10 ngày ko ra làm giấy mất cọc nhe, 7 tháng chớ ít gì”. N cũng chờ đến ngày
09/4/2024 bà N có nhắn tin Z lại cho bà T để hỏi “M đi công chứng ở đâu” tức
công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Văn phòng công chứng
nào nhưng bà T trả lời Nguyên tliên hệ Văn phòng công chứng, nhưng
trong khi đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cước công dân của ông
H1 T thì không giao để Văn phòng công chứng xem xét thẩm đnh hồ sơ.
Đến nay ông H1bà T vẫn không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất sang tên cho bà N. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông
Huỳnh Văn H1 cùng vợ là bà Nguyễn Thị Cẩm T đang quản lý.
Bà N yêu cầu giải quyết:
Buộc ông Huỳnh Văn H1 cùng vbà Nguyễn Thị Cẩm T trả cho N số
tiền đặt cọc 450.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất (giấy viết tay) được xác lập ngày 01/9/2023 giữa N với ông Huỳnh Văn H1
và bà Nguyễn Th Cẩm T.
N không yêu cầu bồi thường tiền cc, không yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
Ngày 01/9/2023, T chuyển nhượng cho N quyền sử đất khoảng 115
m² thuộc một phần thửa đất số 195, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại xã T, thành phố
C đất này do bà T đứng tên, loại đất trồng lúa, giá chuyển nhượng là 650.000.000
đồng, bà N đã đặt cọc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), còn lại số triền
350.000.000 đồng. N làm tthỏa thuận mua bán nhưng N làm một tờ
N giữ, T không giữ tờ giấy này, về nội dung ghi chuyển nhượng giá
800.000.000 đồng, giao cọc 450.000.000 đồng.
Chuyển nhượng giá 650.000.000 đồng nhưng ghi giá 800.000.000 đồng là
do N tự ghi giá 800.000.000 đồng, T chỉ biết là bán giá 650.000.000 đồng
thì nhận đủ 650.000.000 đồng. N giao cọc 300.000.000 đồng nhưng tthỏa
thuận ghi 450.000.000 đng cũng do bà N tự ghi.
Thỏa thuận bà N làm thủ tục chuyển nhượng chịu các chi phí thuế, lệ
phí. Đến nay chưa thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng là do bà N chỉ đồng ý
giao tiếp cho T số tiền 100.000.000 đồng thay giao 350.000.000 đồng nên
bà T không đồng ý chuyển nhượng. Đến nay chưa giao đất cho bà N.
Bà T đồng ý tiếp tục chuyển nhượng đất cho bà N, bà N phải giao tiếp cho
T số tiền 350.000.000 đồng. Trường hợp bà N không tiếp tục chuyển nhượng
đất thì bà T không trả lại tiền cọc 450.000.000 đồng. Hiện nay, diện tích đất này
T đang sử dụng, không chuyển nhượng cho ai, không có thế chấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị Hồng K1 trình bày:
K1 và ông Vũ Xuân T1 có mối quan hệ vợ chồng. K1 là em ruột của
Vũ Thị Kim N.
Hiện nay, thửa đất số 195, tờ bản đồ số 3 do bà Nguyễn Thị Cẩm T, địa chỉ
thường trú: Tổ 22, khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cùng sử dụng
với Thị Hồng K1, ông Xuân T1, Thị Thanh K theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số
phát hành DN 766572, số vào sổ cấp GCN: CN07734, ngày 22/12/2023, đất tại
T thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, do tách thửa không được nên đứng tên đồng
sở hữu.
Thực tế bà T, bà K và bà K1, ông T1 đã phân chia gồm ba phần:
Đất của K1, ông T1 chiều ngang 16 mét (cặp đường Sở Pháp).
K1, ông T1 đã cất nhà tạm cột cây, mái lợp tole.
Đất của bà K chiều ngang 21 mét (cặp đường Sở Tư Pháp), đất K giữa
đất bà K1, ông T1 và đất bà T. Đất đang bỏ trống, chưa sử dụng.
Đất của T chiều ngang 07 mét (cặp đường Sở Pháp). Đất đang bỏ
trống, chưa sử dụng.
Việc bà N và bà T, ông H1 tranh chấp với nhau bà K1 không có ý kiến, vì
đất đã phân chia và bà K1 đang sử dụng vị trí đất của bà K1.
Nay K1 không ý kiến, không tranh chấp gì với N, bà T, ông H1 trong
vụ án này.
Ngày 01/9/2023, bà N và bà T thỏa thuận chuyển nhượng đất, bà T chuyển
nhượng cho N diện tích đất ngang 07 mét, dài 16 mét, giá 800.000.000 đồng.
Hai bên có lập tờ thỏa thuận, bà N giao cho bà T số tiền 450.000.000 đồng, phần
còn lại 350.000.000 đồng khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng sẽ giao đủ.
Sau đó, N cất nhà thì Ủy ban T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ngăn cản
không cho cất nhà khu đất bị giải tỏa, N thắc mắc thì T nói với N ra
công chứng chứng hợp đồng thì bà N chỉ giao cho bà T số tiền 100.000.000 đồng
đủ thay giao số tiền 350.000.000 đồng. Khi bà N yêu cầu T ra công chứng
thì T yêu cầu phải đưa đủ số tiền 350.000.000 đồng. Cuối N yêu cầu T
trả lại tiền tiền cọc thì bà T không trả.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất của bà K1 Vũ Xuân T1 đang đứng tên thửa 195, tờ bản đồ số
3, tại T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp K1, ông T1 đang giữ bản chính, không
có thế chấp hay chuyển nhượng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thị Thanh K: Không có văn bản ý kiến nộp cho tòa án.
Tại bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 6 Đồng Tháp đã quyết định áp dụng: khoản 3 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
5
Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 328 của Bộ luật
Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 dân
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, Quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày
27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP,
ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xử:
Không chấp nhận yêu cầu của Thị Kim N yêu cầu bà Nguyễn Thị
Cẩm T và ông Huỳnh Văn H1 trả lại số tiền 450.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 09/10/2025 nguyên đơn bà Vũ Thị Kim N có đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà về việc buộc ông H1 và bà T trả lại số tiền 450.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông H
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, bị đơn không đồng ý với
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết v án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về t
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết ván của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân
sự, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng
theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại
phiên a phúc thẩm, phía bị đơn có cung cấp một đoạn video xác định bị đơn ch
nhận 300.000.000 đồng khi ký văn bản thỏa thuận, việc giao dịch giữa các bên đã
hiệu khi kết văn bản này diện tích đất không đủ điều kiện tách thửa
đến nay đất vẫn nằm trong khu quy hoạch, vậy đnghị Hội đồng xét x chấp
nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên
đơn số tiền 300.000.000 đồng, sửa bản án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nội
dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự kết
quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Huỳnh Văn H1 cùng vợ là bà
Nguyễn Thị Cẩm T trả cho N số tiền đặt cọc 450.000.000 đồng theo hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 01/9/2023, cấp sơ thẩm thụ
giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35,
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên về quan hệ pháp luật cần xác
định lại tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” mới phợp
thực tế và bản chất v việc.
6
Ngày 29/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp xét xvụ án,
không đồng ý với bản án thẩm, ngày 09/10/2025 nguyên đơn Thị Kim N
kháng cáo bản án thẩm là trong hạn theo quy định tại Điều 273 B luật Tố tụng
dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện kháng cáo của nguyên đơn thì
thấy rằng cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Kim
N yêu cầu Nguyễn Thị Cẩm T ông Huỳnh Văn H1 trả lại số tiền 450.000.000
đồng chưa đánh giá khách quan chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án không
phù hợp pháp luật, bỡi lẽ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy viết
tay) được xác lập ngày 01/9/2023 giữa N với ông Huỳnh Văn H1 Nguyễn
Thị Cẩm T theo đó các bên thỏa thuận ông H1, T chuyển nhượng cho N
phần đất khoảng 115m
2
nhưng không nêu rõ tứ cận, thời gian nào thực hiện hợp
đồng, quyền, nghĩa vụ khi xảy ra vi phạm. Tuy nhiên phần đất này (thửa đất số
195, tờ bản đồ số 3, diện tích 825,9m
2
) được cấp quyền sử dng chung cho đồng
sử dụng 04 người T, bà Thị Hồng K1, ông Xuân T1, bà Thị Thanh
K, loại đất chuyên trồng lúa nước, các đồng sở hữu, sử dụng đã không thể tách
riêng cho từng người phần đất thuộc quyền sử dụng của mình. Tại thời điểm các
bên thỏa thuận (01/9/2023) cũng không cho phép tách thửa đối với diện tích đất
nông nghiệp chỉ 115m
2
. vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy
viết tay) được xác lập ngày 01/9/2023 giữa N với ông Huỳnh Văn H1
Nguyễn Thị Cẩm T đã hiệu tại thời điểm kết. Việc thỏa thuận không làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ ca các bên, thm chí đến thời điểm hiện tại phần đất
này vẫn nằm trong khu quy hoạch không thể tách thửa, cho nên cần hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên thỏa thuận giao trả cho
nhau những gì đã nhận.
Cấp thẩm nhận định phía nguyên đơn lỗi nên mất cọc chưa phù
hợp, bỡi lẽ, cả hai bên đều có lỗi, khi thỏa thuận đã không nêu thời gian cụ thể đ
công chứng hợp đồng, đất trong khu quy hoạch của đồng sở hữu không thể
tách thửa lại cam kết tách thửa. Phía N chỉ mới giao tiền, chưa nhận đất nên
chỉ cần buộc phía bà T, ông H1 trả lại phần tiền đã nhận của bà N.
Về số tiền giao nhận, phía bị đơn cho rằng chỉ nhận 300.000.000 đồng
sở, bỡi lẽ, tuy tại giấy viết tay ngày 01/9/2023 bà T, ông H1 tên nêu
đã nhận 450.000.000 đồng, còn nợ 350.000.000 đồng giao đủ khi ký công
chứng. Nhưng tại cuộc đối thoại giữa T, bà N mà các bên thừa nhận tại phiên
tòa đều nêu rất T, ông H1 chỉ nhận 300.000.000 đồng, phía nguyên đơn, cho
rằng sau đó (05/9/2023) giao thêm 150.000.000 đồng nhưng không tài liệu
chứng minh nên ý kiến này không có cơ sở xem xét.
[3] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của N có căn cứ một phần
nên chấp nhận, Hội đng xét xử quyết định áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật T
tụng dân sự, sửa bản án thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của bà N, buộc
bà T và ông H1 trả choN số tiền 300.000.000 đồng.
7
Xét ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí thẩm theo quy định của
pháp luật. Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim N không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Kim N. Sửa bản án
dân sự sơ thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân
dân khu vực 6 – Đồng Tháp.
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm
a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Các Điều 122, Điều 131, Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 dân Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, Quản lý sdụng án phí và lệ
phí Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao,
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Vũ Thị Kim N.
Buộc ông Huỳnh Văn H1 Nguyễn Thị Cẩm T trả lại Vũ Thị Kim
N số tiền 300.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Kim N đòi ông H1, bà T trả số
tiền 150.000.000 đồng.
3. Về án phí:
Ông Huỳnh Văn H1, bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 15.000.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
Thị Kim N phải chịu 7.500.000 đồng án phí dân sự thẩm, N
không phải chịu án phí phúc thẩm. N đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai
thu số 0005418 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp số
tiền 11.000.000 đồng theo biên lai thu số 0013201 ngày 26/12/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Tháp), cấn trừ nên hoàn lại cho bà N số tiền 3.800.000 đồng.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 6 – Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Tải về
Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất