Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Kon Tum (TAND tỉnh Kon Tum)
Số hiệu: 40/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Bùi Thị L ly hôn anh Nguyễn Hữu Tr
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ KONTUM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KONTUM
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 31/12/2024.
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Duy Cảnh và bà Nguyễn Thị Sương.
- Thư phiên tòa: Ông Quang Đô Thư Tán nhân dân thành
phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa:
Không.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon
Tum, tỉnh Kon Tum xét xử thẩm công khai ván thụ số: 208/2024/TLST-
HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi contheo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12
năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bùi Thị L, sinh năm 1989 (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Tr, sinh năm 1985 (Có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn 03, xã H, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Chị Nguyễn Bùi
Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010, chị anh Nguyễn Hữu Tr tự
nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân Hòa Bình, thành phố Kon Tum,
tỉnh Kon Tum theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 19 tháng 10 năm 2010. Sau
khi đăng kết hôn, vợ chồng chị chung sống đến tháng 9 năm 2022 thì phát
sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Tr hay gen tuông cớ, đánh
đập chị, anh Tr thường xuyên vắng nhà, không quan tâm chăm sóc vcon. Vào
năm 2022, chị nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia
Lai, sau đó chị rút đơn về để anh Tr hội sửa đổi, nhưng tđó đến nay anh
2
Tr vẫn không thay đổi. Hiện tại, chị anh Nguyễn Hữu Tr đã sống ly thân,
không còn quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng chị không còn yêu thương
nữa, mục đích hôn nhân không đạt được đời sống chung của vợ chồng không
thể kéo dài thêm được nữa, chị Nguyễn Bùi Thị L yêu cầu được ly hôn với anh
Nguyễn Hữu Tr.
- Về con chung: Có 04 con chung là Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/4/2010,
Nguyễn Quỳnh Mỹ Â, sinh ngày 01/3/2012, Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1, sinh ngày
13/5/2014, Nguyễn Hoàn Minh A, sinh ngày 17/11/2016. Tại phiên tòa, chị L
yêu cầu được nuôi 02 cháu nhỏ là Nguyễn Quỳnh Mỹ Â, sinh ngày 13/5/2014 và
Nguyễn Hoàn Minh A, sinh ngày 17/11/2016. Chị đề nghị giao 02 con lớn
Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/4/2010 và Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1, sinh ngày
01/3/2012 cho anh Nguyễn Hữu Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp
dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không.
Tại bản tự khai ngày 28/11/2024, bị đơn anh Nguyễn Hữu Tr trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, địa điểm đăng kết hôn như chị
Nguyễn Bùi Thị L trình bày ở trên là đúng sự thật. Sau khi kết hôn vợ chồng anh
chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Vào năm 2022,
chị L nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai
đúng, vì anh đi làm ăn xa nên ít thăm gặp chị L. Tuy nhiên, vì lý do gia đình anh
theo công giáo nên anh không đồng ý ly hôn với chị L.
- Về con chung: Vợ chồng 04 con chung như chị L trình bày, các con
nguyện vọng muốn với ai, anh chấp nhận theo nguyện vọng của các con. Về
cấp dưỡng nuôi con, anh Tr không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con phải
cấp dưỡng nuôi con cho chị L.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Xét thấy nguyên đơn chị Nguyễn Bùi Thị L khởi
kiện yêu cầu ly n, tranh chấp nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu Tr
(hiện hộ khẩu thường ttại thôn 03, Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh
Kon Tum), nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đơn khởi kiện của nguyên đơn
3
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon
Tum.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu Tr có đơn xin xét xử vắng mặt. vậy, Hội
đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[1.2] Về xác định quan htranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly
hôn, tranh chấp nuôi con đối với bị đơn là anh Nguyễn Hữu Tr, nên Hội đồng xét
xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh
chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[2] Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Bùi Thị L anh Nguyễn Hữu Tr
tự nguyện kết hôn đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân Hòa Bình, thành
phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vào ngày 19 tháng 10 năm 2010.
Sau khi kết hôn, anh Tr, chị L chung sống đã sxích mích đến tháng
9 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, theo lời khai của chị L thì
nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tr hay gen tuông, thường xuyên đánh đập chị,
anh Tr thường xuyên vắng nhà và không quan tâm, yêu thương vợ con. Vào năm
2022, chị L đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai,
sau đó chị rút đơn để anh Tr hội sửa đổi, nhưng từ đó đến nay anh Tr vẫn
không thay đổi. Tại bản tự khai ngày 28/11/2024, anh Nguyễn Hữu Tr cũng thừa
nhận vợ chồng anh sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng
vào năm 2022, chị L có nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh
Gia Lai đúng, anh đi làm ăn xa nên anh ít thăm, gặp dành tình cảm cho
chị L. Tuy nhiên, do gia đình anh theo Công giáo nên anh không đồng ý ly
hôn với chị L. Hiện tại, vợ chồng chị Nguyễn Bùi Thị L anh Nguyễn Hữu Tr
đã sống ly thân 08 tháng không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, mâu thuẫn
vợ chồng giữa chị L anh Tr đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào
khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin
ly hôn của chị Nguyễn Bùi Thị L.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng 04 con chung. Khi ly hôn, chị L yêu cầu
được nuôi 02 cháu nhỏ là Nguyễn Quỳnh Mỹ Â, sinh ngày 13/5/2014 và Nguyễn
Hoàn Minh A, sinh ngày 17/11/2016, còn 02 cháu lớn Nguyễn Minh Tr, sinh
ngày 26/4/2010 Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1, sinh ngày 01/3/2012 giao cho anh
Nguyễn Hữu Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 28/11/2024, bị đơn
anh Tr đồng ý nuôi con theo nguyện vọng của các con muốn với ai. Hội đồng
xét xử xét thấy, các cháu  và A còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ, ý kiến
của các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị Nguyễn Bùi Thị L; còn 02 cháu
4
lớn Nguyễn Minh Tr Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1 đều có nguyện vọng được ở với
anh Nguyễn Hữu Tr. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu xem xét
đến nguyện vọng của các cháu cần giao 02 con Nguyễn Quỳnh Mỹ Â, sinh ngày
13/5/2014 và Nguyễn Hoàn Minh A, sinh ngày 17/11/2016 cho chị Nguyễn Bùi
Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao 02 con Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/4/2010
Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1, sinh ngày 01/3/2012 cho anh Nguyễn Hữu Tr trực
tiếp nuôi dưỡng phù hợp. Chị Nguyễn Bùi ThL anh Nguyễn Hữu Tr đều
không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập.
[2.3] Về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên
không đề cập.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Bùi Thị L phải chịu án phí ly n thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia
đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Bùi Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Bùi Thị L được ly hôn với anh
Nguyễn Hữu Tr.
- Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Quỳnh Mỹ Â, sinh ngày
13/5/2014 Nguyễn Hoàn Minh A, sinh ngày 17/11/2016 cho chị Nguyễn Bùi
Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con
chung đủ 18 tuổi; Giao 02 con chung Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 26/4/2010
Nguyễn Quỳnh Mỹ Â1, sinh ngày 01/3/2012 cho anh Nguyễn Hữu Tr trực
tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18
tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Chị Nguyễn Bùi Thị L anh Nguyễn Hữu Tr quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung mà không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom
để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng
giáo dục con chung.
- Về án phí dân sự thẩm: Chị Nguyễn Bùi Thị L phải chịu án phí dân
sự thẩm 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền
tạm ứng án phí chị Nguyễn Bùi Thị L đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
5
theo biên lai thu tiền số 0000201 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Kon Tum. Chị Nguyễn Bùi Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên án (31/12/2024), chị Nguyễn
Bùi Thị L quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Kon
Tum để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt, thời hạn kháng cáo
15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
Trường hp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP,
- Thi hành án dân sự TP;
- Nguyên đơn;
- Bị đơn;
- UBND xã Hòa Bình; Nguyn Th Hƣờng
- Lưu hồ sơ.
6
Tải về
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất