Bản án số 38/2025/LĐ-ST ngày 22/01/2025 của TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 38/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2025/LĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 38/2025/LĐ-ST ngày 22/01/2025 của TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Phú Tân (TAND tỉnh An Giang) |
Số hiệu: | 38/2025/LĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 22/01/2025 |
Lĩnh vực: | Lao động |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | đòi tiền lương |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2025/LĐ-ST
Ngày: 22/01/2025
V/v “Tranh chấp tiền lương”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Phương
2. Ông Trương Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An giang tham
gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân ,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số:
38/2024/TLST-LĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền lương”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 558/2024/QĐXXST-LĐ ngày 26 tháng
12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QĐST-LĐ ngày 10
tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị L sinh năm 1970; nơi cư trú: số B, đường H,
khu phố E, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần G (GAVICO);
Địa chỉ trụ sở: Lô C, cụm C, xã T, huyện P, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm
1970; chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: 2 phố V, phường T, quận H, thành phố Hải
Phòng, là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt);
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024 của nguyên đơn trong quá trình giải
quyết vụ án trình bày: Bà Phan Thị L được Công ty cổ phần G thuê khoán làm
công việc kế toán tổng hợp từ ngày 01/9/2022 cho đến nay, hai bên không có ký
kết hợp đồng lao động. Đến tháng 8/2024 thì bà L được hưởng mức lương là
16.000.000 đồng/tháng. Quá trình làm việc, Công ty cổ phần G còn nợ tiền
lương của bà L tháng 8, 9, 10, 11 của năm 2024 tổng cộng là 56.230.769 đồng
theo danh sách nhân viên công ty chưa được trả lương, phía công ty có hứa hẹn
thanh toán tiền lương cho công nhân nhiều lần nhưng không thực hiện. Nay bà L
khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần G trả tổng số tiền lương còn nợ là
56.230.769 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn Công ty cổ phần G đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Toà án không ghi nhận được
ý kiến.
Theo văn bản do phòng đăng ký kinh doanh của Sở kế hoạch đầu tư tỉnh
A cung cấp thông tin như sau: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số
MSDN 1601645981 sửa đổi lần thứ 18, ngày 04/12/2024 thì Công ty cổ phần G
có trụ sở Lô 3-4, cụm C, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, người đại diện theo pháp
luật là ông Nguyễn Mạnh H, hiện nay Công ty cổ phần G vẫn đang hoạt động.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn
đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt không có lý do
nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các
Điều 90, 95 của Bộ luật Lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/20216 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan
Thị L.
Buộc Công ty cổ phần G có nghĩa vụ trả tiền lương cho bà Phan Thị L số
tiền 56.230.769 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu án phí theo quy định.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1].Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: bà Phan Thị L
khởi kiện về tiền lương lao động đối với Công ty cổ phần G, có trụ sở tại xã T,
huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải của Toà án nhân dân huyện
Phú Tân, tỉnh An Giang và quan hệ pháp luật “tranh chấp tiền lương” theo quy
định khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự và Điều 179 của Bộ luật lao động năm 2019.
[1.2].Về điều kiện khởi kiện: Vụ án đã được Hoà giải viên lao động tổ
chức hoà giải đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 188 của Bộ luật lao động năm 2019.
[1.3].Về sự vắng mặt của đương sự:
- Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ
luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Trước khi phiên toà được mở, bị đơn Công ty cổ phần G đã được Toà án
triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nên,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần G theo quy định tại
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
[2] Về nội dung:
[2.1] Về xác lập và thực hiện hợp đồng lao động:
Bà Phan Thị L được Công ty cổ phần G thuê khoán làm công việc kế toán
tổng hợp từ ngày 01/9/2022 cho đến nay, hai bên không có ký kết hợp đồng lao
động. Đến tháng 8/2024 thì bà L được hưởng mức lương là 16.000.000
đồng/tháng. Quá trình làm việc, Công ty cổ phần G còn nợ tiền lương của bà L
tháng 8, 9, 10, 11 của năm 2024 tổng cộng là 56.230.769 đồng. Nay bà L khởi
kiện yêu cầu Công ty cổ phần G trả tổng số tiền lương còn nợ là 56.230.769
đồng, không yêu cầu tính lãi.
Xét thấy, việc Công ty cổ phần G thuê khoán bà L làm công việc kế toán
tổng hợp từ ngày 01/9/2022 cho đến nay, nhưng bên phía công ty không ký hợp
đồng lao động với bà L là không đúng quy định theo khoản 2 Điều 13 Bộ luật
Lao động. Tuy nhiên, trên thực tế bà L có làm việc cho công ty, chịu sự quản lý
của công ty và hàng tháng bà L vẫn có lãnh lương thì giữa bà L và công ty đã
phát sinh quan hệ lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động.
Từ tháng 8/2024 bà L được hưởng mức lương là 16.000.000 đồng/tháng. Đến
thời điểm tháng 8, 9, 10, 11/2024, bà L và nhiều người lao động khác chưa được
4
công ty T. Qua bảng lương bà L cung cấp, biên bản hòa giải tranh chấp lao động
ngày 08/11/2024 thì từ tháng 8, 9, 10, 11/2024, Công ty cổ phần G còn nợ bà L
là 56.230.769 đồng. Bà L yêu cầu công ty cổ phần G có trách nhiệm thanh toán
số tiền lương còn thiếu 56.230.769 đồng là phù hợp với quy định pháp luật, nên
có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà L yêu cầu Công ty cổ phần G có nghĩa vụ trả tiền lương, không yêu
cầu tính lãi. Đối với bị đơn là Công ty cổ phần G đã được thông báo về vụ án
nhưng không có ý kiến phản hồi. Đồng thời, theo tài liệu do nguyên đơn cung
cấp gồm biên bản gặp gỡ, đối thoại, người lao động tại Công ty cổ phần G, danh
sách nợ lương từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2024 thể hiện bị đơn thừa nhận nợ
lương công nhân trong đó có bà Phan Thị L với số tiền 56.230.769 đồng.
Như vậy, có cơ sở xác định Công ty cổ phần G còn nợ tiền lương bà L từ
tháng 8,9,10,11/2024 là 56.230.769 đồng.
[3] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Buộc Công ty cổ phần G có nghĩa vụ
thanh toán cho bà L tiền lương còn nợ của các tháng 8, 9, 10, 11 của năm 2024.
Bà L không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải
quyết vụ án nên được chấp nhận.
[5] Về án phí lao động: Công ty cổ phần G phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều
147, Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 90, 95 của Bộ luật Lao động; Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L đối với Công ty cổ
phần G về việc “Tranh chấp tiền lương ”.
Buộc Công ty cổ phần G có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Thị L tiền
lương là 56.230.769 đồng (năm mươi sáu triệu hai trăm ba mươi ngàn bảy trăm
sáu mươi chín đồng).
5
Kể từ ngày bà Phan Thị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty cổ
phần G không thi hành số tiền trên thì hàng tháng Công ty cổ phần G còn phải
trả cho bà L số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty cổ phần G phải chịu 1.686.000
đồng. Nguyên đơn bà Phan Thị L được miễn án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt,
niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Lâm Bảo N
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 03/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 17/12/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm