Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Bình
Số hiệu: 36/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Trần Đình L1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 36/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 31 12 2024
V/v: Kiện xin ly hôn, nuôi con chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Lương
Bà Đặng Thị Thu
Thư phiên tòa: Trần Thị Hòa - Thư Toà án nhân dân thành phố
Đồng Hới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân
thành phố Đồng Hới, xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số: 151/2024/TLST-
HNGĐ ngày 20/11/2024 vviệc “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1994; đăng HKTT: Thôn L,
H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ cần báo: Trường T1, phường D, thành phố D,
tỉnh Bình Dương. Chị L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Đình L1, sinh năm 1983; đăng HKTT: Thôn L, xã H,
huyện V, tỉnh Quảng Trị; hiện đang thi hành án tại đội 28, phân trại 2, Trại giam
Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Anh L1 vắng mặt ý kiến xin xét xử vắng
mặt tại biên bản lấy lời khai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27/11/2024, được bổ sung tại bản t
khai đơn xin xét xử vắng mặt, đơn trình bày, nguyên đơn chị Trần Thị L trình
bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đình L1 đăng kết hôn vào
ngày 22/7/2019 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị, kết hôn hoàn toàn tự
nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng được
2
một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm,
tính cách trái ngược, dẫn đến vchồng thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau, mặc
anh chị đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, mà mâu thuẩn vợ chồng
ngày càng trầm trọng hơn. Chị L trình bày thêm tại đơn trình bày gửi cho Tòa án
ngày 27/12/2024: Chị cho rằng anh L1 là người có tính gia trưởng, kiểm soát, ghen
tuông quá nhiều khiến tôi cảm thấy mệt mỏi áp lực cùng. tính chất công
việc, anh ấy cũng đi làm nhiều hơn nhà, thỉnh thoảng sẽ về nhà (một tuần về
khoảng 2 ngày giữa tuần và cuối tuần). Mỗi lần về nhà, anh ấy chỉ biết tụ tập với
bạn bè, đồng nghiệp đi nhậu, không phụ giúp vợ làm việc nhà cũng như chơi với
con. Cộng thêm tính gia trưởng, độc đoán nên anh ấy luôn điều khiển chị phải làm
theo ýanh ấy muốn (ví dụ mua đồ ăn sáng cũng phải mua chỗ ngon đúng ý, ăn
uống cũng phải ăn những món ngon) không cần biết là có tiền hay không. Còn nếu
chị L đi đâu phải xin phép trước, nếu không xin phép tý đi hoặc tý làm
thì sẽ banh ấy đe dọa, dùng những ngôn từ bạo lực (đòi chém, giết, nổ bình ga
…..). Hoặc trường hợp chị đã xin phép rồi nhưng đi cũng chỉ được một lúc sẽ
gọi điện và bắt về bằng được. Có lần lúc ấy con gái của anh chị mới chưa được 2
tuổi, bé uống sữa ngoài, chị ở nhà chăm con nên sẽ theo dõi được việc ăn uống của
con. Con không hợp sữa nên chị đã đổi qua sữa khác (do không tiền nên chị
phải đi mua nợ 4 hộp sữa). Lúc anh ấy đi làm về thấy chị đổi sữa liền trách mắng
đem 4 hộp sữa đấy ra chặt ngay trước mặt chị, con gái cả bố ông bà ngoại.
Còn về sự ghen tuông và kiểm soát. Anh ấy hạn chế tối đa việc chị giao tiếp với N
đồng nghiệp trên các nền tảng mạng hội hoặc trong cuộc sống hằng ngày.
Luôn kiểm tra, điều tra trong điện thoại tùy tiện, không tôn trọng đời của chị L.
Anh ấy còn nói rằng: trong danh bạ điện thoại cũng như tài khoản mạng hội
không được số điện thoại hoặc kết bạn với “nam”. Mỗi lần gọi điện chị
không nghe máy kịp thì sẽ gọi hết người này đến người khác để tìm cho bằng được
đến lúc chị L nghe máy thì sẽ buông những lời miệt thị, xúc phạm. Đời sống
tinh thần của chị L đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Đã thời gian chị bị stress, nghĩ
đến cái chết rất nhiều lần. Trong khi đó, anh ấy lại tính trăng hoa, nhắn tin gạ
gẫm nhiều người trên mạng xã hội.
Anh L1 không hề quan tâm đến cảmc của chị, không tôn trọng cũng như
công việc. Lúc chị L vừa bầu được 3-4 tháng, bị bỏng nước sôi nhưng anh ấy
vẫn rất bình thản ngồi ngoài hành lang để chơi game, anh ấy còn nói với chị L:
mấy cái này anh không biết, em đi ra ngoài nhà thuốc hoặc đau ốm thỏi bác .
Trong công việc, nếu chị L mang việc về nhà - đôi lúc việc quá nhiều thì anh ấy
cũng không bao giờ tạo điều kiện hỗ trợ để chị L thời gian hoàn thành công
việc của mình (ví dụ chị sphải đi chợ, nấu ăn sẵn đấy xong xuôi hết rồi mới đến
công việc của mình). Anh ấy sẵn sàng đe dọa và bắt nghỉ việc nếu không vừa lòng.
Chỉ cần chị L không làm theo ý của anh ấy, anh ấy sẽ đe dọa, nói những ngôn từ
bạo lực để xúc phạm gây sức ép tinh thần (ngay cả việc anh ấy ép phải đi vay
mượn tiền gửi cho anh ấy để anh ấy trả nợ lần anh ấy gọi điện cho chị, trong
lúc đang dạy, anh ấy bắt phải bỏ mặc học sinh và lớp học ở đấy để mượn tiền mang
3
về nhà cho anh ấy trả nợ, nếu không sẽ giết chết, không cần biết bỏ mặc học
sinh hay công việc bị ảnh hưởng không, bằng mọi cách phải mượn được tiền
mang về nhà gấp). Lúc anh ấy chưa thi hành án. Những lúc chị L ngỏ lời muốn
chia tay thì sẽ nhận lại những lời đe dọa, hành động bạo lực: đập phá đồ trong nhà,
đòi nbình ga, đòi giết đòi dành con đnuôi, không cho chị L được nuôi
nhằm gây áp lực. Anh ấy đã khiến cho hai mẹ con bị ám ảnh rất nhiều, con gái của
anh chị cũng đã bị ảnh hưởng từ những hành động bạo lực của ba lúc nhỏ nên hiện
tại bây giờ bé vẫn còn rất nhát, thiếu tự tin khi đi ra ngoài đám đông. Điển hình, tại
buổi hòa giải xét xử tại Trại giam Đ vào ngày 11-12-2024. Anh ấy không đồng ý ly
hôn, không chịu kí vào bất giấy tờ nào. Anh ấy đòi dành quyền nuôi con. Đồng
thời còn nói lời đe dọa: sau khi anh ấy ra trại thì sẽ có án mạng xảy ra. Anh ấy nói:
nếu chị L nhất quyết ly hôn thì skhông để cho chị L sống yên ổn (1 con sẽ mồ
côi mẹ, 2 con sẽ mồ i cả ba mẹ). Trong quá trình chung sống, anh Trần
Đình L1 thói quen chơi độ bóng đá, chơi các tài khoản game ảo trên mạng
(mất tiền). thế về kinh tế, anh L1 không đảm bảo được kinh tế cho gia đình.
Đồng thời, những lúc anh ấy chơi bị thua lỗ thì sẽ cầm cố tài sản như: Giấy tờ tùy
thân, giấy phép lái xe, giấy tờ xe, cầm xe máy rất nhiều lần. Đặc biệt anh ấy đã đi
cầm cả bằng đại học (chuyên ngành Tiểu học) của chị để lấy tiền chơi bời. Những
lần anh ấy đi cầm như vậy thì chị là người phải đứng ra đđi vay mượn tiền để đi
chuộc về. Hiện tại bằng đại học giấy tờ xe, giấy ty thân (chứng minh nhân
dân cũ, bằng lái xe) của chị L vẫn chưa lấy về được vì lãi quá cao nên chưa có khả
năng để lấy về. Chính vì như thế nên chi tiêu sinh hoạt trong gia đình một mình chị
L gánh vác. Vừa phải lo chi phí sinh hoạt và chăm con nhỏ, vừa phải chi trả những
khoản nợ mà anh ấy gây ra. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục
đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng chị xin được ly hôn anh L1.
- Về nuôi con chung: Chị L trình bày quá trình chung sống chị Trần Đình
L1 01 con chung cháu Trần Ngọc Tường L2, sinh ngày 12/9/2020. Hiện nay
cháu Tường L2 đều đang sinh sống với chị L. Nguyện vọng sau khi ly hôn, chcó
nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cháu Tường
L2 và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay anh L1 đang thi hành
án phạt tù, không có thu nhập.
- Về chia tài sản chung nợ chung: Chị L trình bày quá trình chung sống chị
anh L1 không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 11/12/2024, bị đơn anh Trần Đình
L1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị L đăng ký kết hôn vào ngày
22/7/2019 tại UBND V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Về việc chị L nộp đơn Ly
hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới anh không đồng ý; anh cho rằng giữa
hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì, chị L vẫn đến Trại giam Đ thăm gặp anh; anh
xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn; nên việc chị L làm đơn xin ly hôn, anh không
4
đồng ý. Anh trình bày nếu trường hợp chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh cũng
đồng ý nhưng với điều kiện sau khi anh mãn hạn tù hai năm nữa.
- Về nuôi con chung: Anh L1 trình bày quá trình chung sống anh chị
Trần Thị L có 01 con chung cháu Trần Ngọc Tường L2, sinh ngày 12/9/2020. Hiện
nay cháu Tường L2 đều đang sinh sống với chị L. Nếu trường hợp ly hôn, anh
nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tường L2 không yêu
cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung nợ chung: Anh L1 trình bày quá trình chung sống anh
và chị L không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh L1 trình bày tại biên bản lấy lời khai: Trường hợp Tòa án đưa vụ án ra xét xử
thì anh có nguyện vọng xin được xét xử vắng mặt tại các phiên tòa.
Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng: Sau khi thụ vụ án, Tòa án nhân dân
thành phố Đồng Hới đã tiến hành triệu tập các bên đương sđến làm bản tự khai,
tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tiến
hành phiên hòa giải. Chị L đã nộp bản tự khai, anh L1 mặc không viết bản t
khai nhưng đã khai trong nội dung biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2024 do Tòa
án nhân dân thành phố lập và có xác nhận của Trại giam Đ. Tại buổi hòa giải ngày
12/12/2024 tại Trại giam Đ, anh Trần Đình L1 mặt và đã được đọc, nghe về nội
dung phiên họp tiếp cận công khai, chứng cứ và biên bản hòa giải, nhưng anh
không vào các biên bản. Tòa án đã lập biên bản về việc anh Trần Đình L1
không ký vào biên bản, có xác nhận của Trại giam Đ.
Ván thuộc trường hợp hòa giải không thành nên Tòa án đã ra Quyết định
đưa vụ án ra xét xử, tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho các bên đương sự
nhằm đảm bảo quyền được biết việc Tòa án giải quyết ly hôn quyền được tham
gia tố tụng tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt và đơn, ý kiến xin xét xvắng mặt
tại phiên tòa; nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến nbản tự khai biên
bản lấy lời khai của đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới phát biểu quan điểm:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được
phân ng thụ giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên
tòa: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc giải quyết
việc.
3. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn đã tiến hành viết bản tự khai và cung cấp tài liệu chứng cứ
liên quan đến vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn thiếu
5
hợp tác trong quá trình tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, không vào
biên bản làm việc.
4. Về việc giải quyết vụ án hôn nhân gia đình: Vợ chồng chị L anh L1
kết hôn hợp pháp vào ngày 22/7/2019 tại UBND V, huyện V, tỉnh Quảng Trị,
nhưng quá trình chung sống không hạnh phúc. Do điều kiện hoàn cảnh, vợ chồng
không sống chung với nhau, anh L1 không tu chí làm ăn dẫn đến con đường phạm
tội, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được.
Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được,
không còn khả năng hàn gắn gia đình. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh L1 để ổn định cuộc sống. Xét thấy, nguyện vọng xin ly hôn
của chị L là chính đáng, cần được chấp nhận.
Về con chung, hai vợ chồng một con chung là cháu Trần Ngọc T Lam
sinh năm 2020, cháu hiện còn nhỏ, mới hơn 4 tuổi, trước đến nay sống cùng với
chị L, hiện anh L1 đang chấp hành án nên không đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi
dưỡng con, do đó, giao cháu Tường L2 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, chị L
không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xử chấp nhận yêu cầu của chị L, xử chị L được ly
hôn anh L1, giao con chung là Trần Ngọc Tường L2 cho chị L trực tiếp nuôi.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Trần Thị L đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới
giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Ttụng n sự nơi
bị đơn anh Trần Đình L1 địa chỉ đang thi hành án tại: Trại giam Đ, phường Đ,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản
1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân thành phố Đồng Hới.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện các tài liệu chứng cứ
kèm theo thể hiện: ChTrần Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Trần Đình L1, vụ
án được thụ quan hệ tranh chấp tranh chấp về ly hôn, loại tranh chấp được
pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị L là nguyên đơn anh
Trần Đình L1 bị đơn; anh chị đã đơn và ý kiến tại biên bản lấy lời khai đề
nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
6
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị L anh Trần Đình L1 đã xây dựng gia đình với nhau trên sở
hoàn toàn tnguyện, đăng kết hôn vào ngày 22/7/2019 tại UBND V,
huyện V, tỉnh Quảng Trị được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22, nên đây là
một cuộc hôn nhân hợp pháp đăng kết hôn tại quan thẩm quyền. Sau
khi kết hôn anh chị phải biết thương yêu, nhường nhịn, tôn trọng nhau, cùng nhau
chia sẻ khó khăn xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng ngược lại, anh chị đã không
làm được điều đó đgiữ gìn hôn nhân bền vững, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ
chồng ngày càng ng. Nguyên nhân theo trình bày của chị L sự bất đồng quan
điểm trong cuộc sống hằng ngày, anh L1 có tính gia trưởng, kiểm soát, ghen tuông
quá nhiều khiến chị L cảm thấy mệt mỏi và áp lực vô cùng. Vì tính chất công việc,
anh ấy cũng đi làm nhiều hơn nhà, thỉnh thoảng sẽ về nhà. Mỗi lần về nhà, anh
ấy chỉ biết tụ tập với bạn bè, đồng nghiệp đi nhậu, không cùng chị lo lắng việc
trong gia đình, vun vén hạnh phúc. Cộng thêm tính gia trưởng, độc đoán nên anh
ấy luôn điều khiển chị phải làm theo ý của anh L1, sống hàng ngày với anh L1
khiến chị lúc nào cũng lo svề tính mạng về những lời đe dọa của anh. Mặc
anh L1 trình bày giữa hai vợ chồng không mâu thuẫn, anh không đồng ý ly
hôn; tuy nhiên anh cũng trình bày nếu trường hợp chị L kiên quyết xin ly hôn thì
anh cũng đồng ý nhưng phải sau khi anh mãn hạn tù.
Thấy rằng, giữa anh L1 chị L đã không tìm được tiếng nói chung; anh L1 trình
bày không đồng ý ly hôn nhưng tại buổi hòa giải cũng như trình bày của chị L
anh kng đưa ra được các phương án để chị L niềm tin ngược lại anh đe
dọa sau khi ra trại thì sẽ án mạng xảy ra với chị L; nếu chị L nhất quyết li hôn
thì sẽ không để cho chị sống yên n (1 con sẽ mồ côi mẹ, 2 con sẽ mi cả
ba và mẹ). Điều này thể hiện tính hung hãn, coi thường pháp luật của anh L1. Lẽ ra
anh đã mất niềm tin với chị L, anh phải những lời nói nh động để xoa dịu s
hãi, lấy lại niềm tin ở chL. Nhưng anh lại thể hiện ngược lại, đưa ra những ý kiến
không c đáng như anh đồng ý ly hôn nhưng phải sau khi anh mãn hạn tù. Do
cuộc sống vợ chồng của anh khi anh L1 chưa vào đã khiến chị L hoảng sợ, lo
lắng, anh L1 gây áp lực về tinh thần; anh lại không lo lắng đến chăm lo kinh tế gia
đình cùng chị vun vén hạnh phúc, nên chị đã đề nghị được ly hôn anh đã dùng
những lời đe dọa chị, khiến chị càng lo lắng, sợ hãi. Điều này chứng tỏ rằng mâu
thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung
hạnh phúc nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Trần Đình L1 hoàn toàn phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về nuôi con chung:
7
Chị Trần Thị L, anh Trần Đình L1 cùng khai 01 con chung cháu Trần Ngọc
Tường L2, sinh ngày 12/9/2020. Hiện nay cháu Tường L2 đều đang sinh sống với
chị L. Xét thấy, trong khoảng thời gian vợ chồng không chung sống với nhau, con
chung sống chung với chị L được chchăm c, nuôi dưỡng chu đáo. Chị L có
nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu
anh L1 cấp dưỡng nuôi con hiện nay anh đang thi hành án. Về nguyện vọng của
anh L1, anh cũng xin được nuôi trong trường hợp ly hôn. Tuy nhiên, hiện nay anh
L1 đang thi hành án nên để ổn định cuộc sống đảm bảo quyền lợi mọi mặt của
con chung, cần giao cháu Trần Ngọc Tường L2, sinh ngày 12/9/2020 cho chị L
trực tiếp nuôi dưỡng; chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con phù hợp.
Chị Trần Thị L, anh Trần Đình L1 quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật
hôn nhân và gia đình.
[3.3] Về chia tài sản chung và nợ chung:
Chị L, anh L1 đều thừa nhận không nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
HĐXX không xem xét.
[3.4] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
- Án phí ly n thẩm: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng đsung
quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án đã nộp hiệu: BLTU/23, số: 0001485 ngày 29/11/2024 tại Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh L1 không phải chịu nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều
39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 244; Điều 266; Điều
271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 147 BLTTDS; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử:
8
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn anh Trần Đình L1.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Trần Ngọc Tường L2, sinh ngày
12/9/2020 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự
nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con
chung.
Người không trực triếp nuôi con quyền thăm nom con, không ai được ngăn cản
người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân, tổ chức được quy
định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 a án thể thay
đổi người trực tiếp nuôi con. Khi người yêu cầu được quy định tại Điều 119
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi về việc cấp dưỡng.
3. Về án phí:
- Án phí ly hôn thẩm: Chị Trần Thị L phải chịu nộp 300.000 đồng để
sung quỹ Nhà nước, nhưng được khấu trừ vào stiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án đã nộp hiệu: BLTU/23, số: 0001485 ngày 29/11/2024 tại Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Đình L1 không phải chịu nộp.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản
án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- VKSND TP Đồng Hới;
- Chi cục THADS TP Đồng Hới;
- UBND xã Vĩnh Thành, H. Vĩnh
Linh,
Tỉnh Quảng Trị;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Tuyết Minh
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
(Các Hội thẩm nhân dân)
Trƣơng Quang Lƣơng Đặng Thị Thu
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Minh
10
11
12
13
14
15
16
Tải về
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất