Bản án số 347/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 347/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 347/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 347/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Phú tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng uỷ quyền, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế" Lê Minh Tiết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
——————
Bản án số: 347/2025/DS-PT
Ngày 27-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp
đồng uỷ quyền, huỷ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, vô hiệu văn
bản phân chia di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Nga
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Trương Thị Tuyến TTòa án nhân dân tỉnh
Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 168/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng ủy quyền, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất
hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số 468/2024/DS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 164/2025/QĐ-PT ngày 16
tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Phạm Thị P, sinh năm 1932;
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Kim D, sinh năm 1965; địa
chỉ: Số A N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2021).
- Bị đơn: ông Lê Minh T, sinh năm 1969;
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số G, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Luật sư Lâm Văn K, Công
ty L2, Đoàn Luật sư thành phố C.
2. Bà Lê Thị Ngọc D1, sinh năm 1958;
Địa chỉ: số D, đường N, Tổ G, Khu phố A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
4. Văn phòng C1.
Địa chỉ: ấp G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Ngọc M1, Trưởng Văn phòng.
5. Văn phòng C2 ược chuyển đổi từ Phòng C3 tỉnh Long An).
Địa chỉ: Ô Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp: ông Võ Văn N, Trưởng Văn phòng.
6. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969;
7. Ông Văn T1, sinh năm 1958;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
8. Ông Lê Thành N1, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Số A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
9. Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1979;
10. Lê Thị Mai P1, sinh năm 2001;
11. Lê Thị Như N2, sinh năm 1999;
Người đại diện hợp pháp của Như N2:Huỳnh Thị T2, sinh năm 1979;
12. Ông Lê Văn L, sinh năm 1972;
13. Ông Lê Hải Đ, sinh năm 1998;
14. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1954;
15. Bà Lê Thùy T3, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
16. Ông Trần Văn T4, sinh năm 1965;
Địa chỉ: số G, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
17. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1955;
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
3
18. Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp: ông Lâm Quốc K1, Chủ tịch.
- Người kháng cáo: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 5 năm 2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày
01 tháng 8 năm 2021 các văn bản trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn
Phạm Thị P cùng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Kim D trình
bày:
Bà P và ông Lê Văn T5 (chết năm 2005) là vợ chồng hợp pháp. Ông T5 và bà
P 08 người con gồm: Thị L1, ông Văn T1; ông Lê Thành N1, ông
Minh T; ông Minh D2 (chết tháng 8/2021), vtên Huỳnh Thị T2 02 con
tên Thị Mai P1, Lê Thị Như N2; ông Văn L; ông Thanh H2 (chết năm
2020), đã ly hôn vợ 01 con trai đang sống cùng P, chung hộ khẩu với bà P
tên Lê Hải Đ và bà Lê Thùy T3.
Các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), cùng tờ
bản đồ số 22, toạ lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An tài sản chung của bà P
ông T5. Sau khi ông T5 chết, những người thừa kế của ông T5 chưa làm thủ tục
khai nhận phân chia di sản thừa kế các thửa đất này. Quyền sử dụng đất vẫn do
gia đình bà P quản lý sử dụng. P lớn tuổi, không biết Uỷ ban nhân dân (UBND)
huyện Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho dựa trên
sở nào, chỉ biết sau khi ông T5 chết thì được cấp mới GCNQSDĐ. Sau khi
liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Đ xin được hồ sơ cấp
GCNQSDĐ, P được biết việc cấp GCNQSDĐ dựa trên Văn bản thỏa thuận
phân chia di sản ngày 01/02/2008 do UBND T chứng thực. Tuy nhiên, Văn bản
phân chia di sản thừa kế này chỉ P 06 người con tên, không ông
Văn T1 ông Văn L tên vào. Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của
ông T5 nhưng không mặt ông T1 ông L đã ảnh hưởng đến quyền lợi của hai
ông. Mặt khác, diện tích đất 16.148m
2
theo GCNQSsố L 643064 do UBND
huyện Đ cấp cho ông Lê Văn T5 là tài sản chung của bà P và ông T5 (ông T5 và bà
P mỗi người được hưởng ½ của diện tích đất 16.148m
2
). Tuy nhiên, văn bản phân
chia di sản thừa kế lại xác định di sản của ông T5 toàn bộ diện tích đất 16.148m
2
gồm các thửa 231, tờ bản đồ số 14, diện tích 4.232m
2
; thửa 303, diện tích 1.523m
2
;
thửa 304, diện tích 189m
2
; thửa 331, diện tích 6.722m
2
; thửa 332, diện tích
6.722m
2
; thửa đất 502, diện tích 412m
2
; thửa đất 503, diện tích 2.094m
2
. Ngoài ra,
trong văn bản phân chia di sản thừa kế thể hiện diện tích đất 16.148m
2
gồm 05
thửa đất 231, 303, 332, 502, 503; thiếu thửa 304, 301 nhưng UBND huyện Đ
vẫn cấp GCNQSDĐ cho P 5 thửa đất không đúng quy định pháp luật. vậy
văn bản phân chia di sản thừa kế này vô hiệu về chủ thể và nội dung.
Vào năm 2010, do cần tiền làm ăn nên ông T mượn P bản chính
GCNQSDĐ các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692); tờ
bản đồ số 22, tại T, huyện Đ, tỉnh Long An để thế chấp vay tiền. Ông T làm
4
giấy tay mượn tài sản bằng quyền sử dụng đất theo giấy thỏa thuận cam kết
ngày 02/10/2020. Cùng ngày, ông T dẫn P ra Phòng công chứng yêu cầu
giấy để ông vay tiền. tin tưởng ông T nên đã tên vào văn bản. Tất cả
những việc làm này chỉ P và ông T biết. P không nói với bất người con
nào trong gia đình.
Khoảng năm 2021, H dẫn người đến cho thuê đất, được các con thông báo
thì biết tại thời điểm đó, đã tên vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất (HĐCNQSDĐ) (không tài sản), số công chứng 1160, quyển số
12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2010, tại Phòng công chứng số 4 tỉnh C3 (nay
Văn phòng công chứng (VPCC) Văn N), đối tượng các thửa đất 303, 332,
304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692) giữa bà P D1. D1 đã được
UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BD 746337 ngày 30/11/2010. Sau đó, D1
ủy quyền cho ông T các thửa đất này thể hiện qua Hợp đồng y quyền số 4477,
quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017 tại Phòng C3 tỉnh Long An (nay
VPCC Văn N). Bằng Hợp đồng ủy quyền số 4477, ông T đã ủy quyền lại
cho Nguyễn Thị Tuyết M các thửa đất vừa nêu theo Hợp đồng ủy quyền quyền
sử dụng đất số công chứng 1252, quyển số 02/2017/TP-CC-SCC/HĐGD ngày
10/5/2017, tại VPCC Lê Ngọc M1.
Theo như lời trình bày của M tại Biên bản làm việc ngày 22/02/2024 của
Tòa án thì Hợp đồng ủy quyền số 1252 giữa ông T M giả tạo để che giấu
hợp đồng vay tài sản giữa bà M và ông T. Sau khi ông T thực hiện xong nghĩa vụ
trả tiền vay cho bà M, ông T và bà M đã ký hủy Hợp đồng ủy quyền số 1252.
Ngày 01/6/2017, bằng Hợp đồng ủy quyền số 4477, ông T đã chuyển
nhượng cho H các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới
692), theo HĐCNQSDĐ số công chứng 2078, quyển số 03/2017-TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 01/6/2017 tại VPCC Ngọc M1. H đã làm thủ tục cấp
GCNQSDĐ. Các thửa đất được cập nhật, chỉnh biến động khi bà H làm thủ tục
cấp GCNQSDĐ như sau: Thửa 304 cập nhật biến động thành thửa 691, thửa 331
thành thửa 692, thửa 303, 332 giữ nguyên. H đã được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp GCNQSsố CO 368821 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 303;
GCNQSDĐ số CO 368820 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 332; GCNQSDĐ số CO
368819 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 692 (thửa 331); GCNQSDĐ số CO
368818 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 691 (thửa cũ 304).
Nhận thấy, các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692)
tài sản chung của P ông T5. Sau khi ông T5 chết, việc định đoạt các thửa
đất nêu trên phải được sự thống nhất của P và các con trong gia đình nhưng ông
T lại lừa dối P tên vào HĐCNQSDĐ cho D1. Từ trước đến nay, các thửa
đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa mới 692) vẫn do gia đình bà P quản
sử dụng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của mình, bà P khởi kiện khởi kiện bổ
sung yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Vô hiệu các hợp đồng sau:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tài sản), số công
chứng 1160, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2010, tại Phòng công
5
chứng số 4 tỉnh C3 (nay VPCC Văn N) giữa bà P D1, đối tượng là các
thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại
xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng ủy quyền số 4477, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017
tại Phòng C3 tỉnh Long An (nay VPCC Văn N) giữa D1 với ông T, đối
tượng các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tbản
đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2078, quyển số
03/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2017, tại VPCC Ngọc M1 giữa D1
(ông T đại diện) với H, đối tượng các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691)
và 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
2. Hủy các GCNQSDĐ gồm: số BD 746337 ngày 30/11/2010 do UBND
huyện Đ cấp cho D1 tại các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa
mới 692); GCNQS CO 368821 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 303;
GCNQSDĐ số CO 368820 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 332; GCNQSDĐ số CO
368819 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 692 (thửa 331); GCNQSDĐ số CO
368818 ngày 31/8/2018, tại thửa đất số 691 (thửa cũ 304);
3. hiệu Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008 do UBND
T chứng thực số 16, quyển số 01 TP/.CC-SCCC/TK ngày 01/3/2008. Yêu cầu
Tòa án xem xét tính hợp pháp của GCNQSDĐ số AM 596121 ngày 16/4/2008 của
UBND huyện Đ cấp cho bà P.
thống nhất với kết quả định giá tại Chứng thư định giá số
110/16/05/2022/TĐG LA BĐS ngày 16/5/2022 của Công ty H4 (sau đây gọi
chung Chứng thư định giá số 110/16/05/2022/TĐG LA BĐS ngày 16/5/2024),
không yêu cầu Tòa án định giá lại M2 trích đo địa chính số 179-2022 được
Công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 17/01/2022, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 05/4/2022 (sau đây gọi chung M2 trích đo địa
chính số 179-2022).
Trong quá trình giải quyết v án tại phiên tòa thẩm, bị đơn ông
Minh T trình bày:
Ông T con đẻ của P ông T5. Năm 2010, ông mượn của bà P bản
chính GCNQSDĐ các thửa đất 303, 304, 331, 332, tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An thế chấp cho Thị Ngọc D1 nhằm mục đích vay số tiền
500.000.000 đồng. Ông nhờ P ra Phòng C3 tỉnh Long An nay VPCC
Văn N để HĐCNQSDĐ (không tài sản gắn liền) số công chứng 1160, quyển
số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2010. D1 đã được UBND huyện Đ cấp
GCNQSDĐ số BD 746337, tại các thửa đất 303, 304, 331, 332, tờ bản đồ số 22, tại
xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Năm 2017, sau khi ông trả cho D1 số tiền 500.000.000đồng, D1 đã
ủy quyền cho ông các thửa đất vừa nêu theo Hợp đồng ủy quyền scông chứng
4477, quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017 tại Phòng C3 tỉnh Long An
nay là VPCC Văn N.
6
Ngày 10/5/2017, ông thế chấp cho bà Nguyễn Thị Tuyết M các thửa đất 303,
304, 331, 332 để vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông và M kết Hợp đồng ủy
quyền số công chứng 4477, quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017 tại
Phòng C3 tỉnh Long An nay VPCC Văn N, đối tượng các thửa đất 303,
304, 331, 332.
Ngày 01/6/2017, ông trả cho M stiền 200.000.000 đồng. Sau đó, ông thế
chấp cho Trần Thị Thu H các thửa đất 303, 304, 331, 332 để vay số tiền
400.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Ông và bà H ký HĐCNQSDĐ công chứng số
2078, quyển số 03/2017-TP/CC-SCC-HĐGD ngày 01/6/2017 tại Văn phòng C1,
đối tượng là các thửa đất 303, 304, 331, 332.
Như vậy, tất cả các giao dịch dân sự nêu trên liên quan đến các thửa đất 303,
304, 331, 332 đều giả tạo để che giấu hợp đồng vay tài sản giữa ông T với
D1, M, bà H, không việc chuyển nhượng trên thực tế. Ông T đã thực hiện
xong nghĩa vụ trả tiền cho D1 nhưng để thuận tiện trong thủ tục hành chính nên
giữa ông D1 không hủy HĐCNQSDĐ chỉ hợp đồng ủy quyền, đối
tượng các thửa đất 303, 304, 331, 332. Hiện tại, các thửa đất 303, 304, 331, 332
đều do bà H đứng tên trên GCNQSDĐ. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của P đồng ý trả cho H số tiền gốc đã vay 400.000.000 đồng
lãi suất theo thỏa thuận. Tại phiên tòa, ông T thay đổi lời trình bày, chỉ đồng ý
trả cho bà H số tiền 200.000.000 đồng, không đồng ý bồi thường thiệt hại.
Ông thống nhất với kết quả định giá tại Chứng thư định giá số
110/16/05/2022/TĐG LA BĐS ngày 16/5/2022, không yêu cầu Tòa án định giá
lại và đồng ý với M2 trích đo địa chính số 179-2022.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Lê Thành N1 trình bày:
Ông con đẻ của ông T5 và P. Ông thống nhất với lời trình bày của D
về các con đẻ của ông T5, bà P và tài sản chung của cha mẹ. Hiện các thửa đất 303,
332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa mới 692) do ông quản lý, sử dụng. Ông đang
trồng hoa màu lúa trên các thửa đất này. Đối với thửa đất 231, gia đình ông đã
chuyển nhượng cho ông C chồng N3 từ năm 1998 khi ông T5 còn sống. Tuy
nhiên, các đương skhông tranh chấp đối với thửa đất này trong vụ án nên ông
không ý kiến. Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của P đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận toàn bộ đđảm bảo quyền lợi của ông và các anh em khác trong
gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Lê Văn T1 trình bày:
Ông con đẻ của ông T5 P. Quá trình chung sống, cha mẹ ông tạo
dựng được diện tích đất 26.150m
2
theo GCNQSDĐ số L 643064, được UBND
huyện Đ cấp cho ông T5 ngày 06/12/1997. Năm 2002, cha mẹ ông chuyển
nhượng diện tích đất 10.002m
2
. Diện tích n lại trong GCNQSDĐ 16.148m
2
.
Năm 2005, ông T5 chết theo giấy chứng tử số 19/CT, quyển số 01/2005 do UBND
T cấp. Mẹ ông các anh chị em trong gia đình chưa thỏa thuận phân chia di
7
sản thừa kế của ông T5. Nay ông được biết, sau khi ông T5 chết thì P đã được
cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ diện tích đất 16.148m
2
. Việc cấp giấy dựa trên văn
bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, không ông ông L. Trong khi ông
ông L đều con đẻ của ông T5 P. Mặt khác, trong văn bản phân chia di sản
thừa kế thể hiện diện tích đất 16.148m
2
nhưng chỉ 05 thửa đất 231, 303, 332,
502, 503; không thửa 304, 303. Tuy nhiên, UBND huyện Đ vẫn cấp
GCNQSDĐ cho P 07 thửa đất của ông T5 để lại. Do đó, ông đề nghị Tòa án
chấp nhận yêu cầu khởi kiện bsung của P đđảm bảo quyền lợi của những
người thừa kế của ông T5 xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết
vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông
Lê Văn L trình bày:
Ông con đẻ của ông T5 P. Quá trình chung sống, P và ông T5
tạo dựng được diện tích đất 26.150m
2
theo GCNQSDĐ số L 643064, được UBND
huyện Đ cấp cho ông T5 ngày 06/12/1997. Năm 2002, P ông T5 chuyển
nhượng diện tích đất 10.002m
2
. Diện tích n lại trong GCNQSDĐ 16.148m
2
.
Năm 2005, ông T5 chết theo giấy chứng tử số 19/CT, quyển số 01/2005 do UBND
T cấp. Mẹ ông các anh chị em trong gia đình chưa thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế của ông T5 để lại. Nay ông được biết, sau khi ông T5 chết thì bà P đã
được cấp GCNQS đối với toàn bộ diện tích đất 16.148m
2
. Việc cấp
GCNQSDĐ dựa trên văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, không có ông và
ông T1. Trong khi, ông ông T1 đều con đẻ của ông T5 P. Mặt khác,
trong văn bản phân chia di sản thừa kế thể hiện diện tích đất 16.148m
2
nhưng chỉ
05 thửa đất 231, 303, 332, 502, 503; không thửa 304, 301. Tuy nhiên,
UBND huyện Đ vẫn cấp GCNQSDĐ cho P 07 thửa đất của ông T5 để lại. Do
đó, ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà P để đảm bảo
quyền lợi của những người thừa kế của ông T5 xin vắng mặt trong suốt quá
trình Tòa án giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Thông qua người giới thiệu nên vào năm 2017, bà cho ông T vay số tiền
200.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông T thế chấp cho các thửa
đất 303, 304, 331, 332. Đồng thời, các bên Hợp đồng ủy quyền số công
chứng 1252, quyển số 2/2017- TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2017 tại VPCC
Ngọc M1, đối tượng các thửa đất 303, 304, 331, 332. Ông T giao bản chính
GCNQSDĐ các thửa đất 303, 304, 331, 332 cho quản lý. Sau 15 ngày kể từ
ngày 10/5/2017, ông T đã trả xong số tiền 200.000.000 đồng lãi suất phát sinh.
ông T đã hủy bhợp đồng ủy quyền số công chứng 1252, quyển số 2/2017-
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2017 tại VPCC Ngọc M1. trả lại ông T bản
chính GCNQSDĐ. Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1252 gitạo để che giấu
hợp đồng vay tài sản giữa ông T với số tiền 200.000.000 đồng. Ông T đã trả
tiền cho xong nên bà ông T cũng đã hủy bỏ hợp đồng ủy quyền vừa nêu. Từ
8
thời điểm xác lập các giao dịch dân sự với ông T đến nay, bà chưa đăng ký kết hôn
với ai.
Trong vụ án này, bà không bất yêu cầu không quyền lợi hay
nghĩa vụ liên quan gì. Đề nghị Tòa án không tiếp tục mời bà và xin vắng mặt trong
suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp xét xử.
Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 23 tháng 9 năm 2024 và trong quá trình giải
quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu H cùng người
đại diện hợp pháp của bà H là ông Phạm H3 trình bày:
Bà H không đồng ý với yêu cầu của bà P. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa bà D1 (do ông T làm đại diện) với bà H là đúng quy định của pháp luật, bà
H người thứ ba ngay tình. D1 người đứng tên trên GCNQSDĐ. Khi thực
hiện việc chuyển nhượng, D1 chủ sử dụng hợp pháp của các thửa đất trên.
Các bên có lập hợp đồng và công chứng theo quy định. Bà đã thanh toán đủ cho bà
D1 số tiền 1.400.000.000 đồng và đã được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CO 368818, CO 368819, CO 368820, CO 368821
đối với các thửa đất số 303, 332, 304 (thửa mới 691); 331 (thửa mới 692). Trường
hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P, H yêu cầu D1, ông T
P phải liên đới trả cho giá trị quyền sdụng đất các thửa đất theo chứng thư
định giá tại thời điểm a án giải quyết tranh chấp 5.052.518.000 đồng. Trong
quá trình giải quyết vụ án, bà H có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập bổ sung như
sau:
1. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng ủy quyền số công chứng 4477, quyển số
9/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 28/4/2017 tại Phòng C3 tỉnh Long An nay VPCC
Võ Văn N giữa D1 với ông T.
2. Công nhận hiệu lực của HĐCNQSDĐ số công chứng 2078, quyển số
03/2017-TP/CC-SCC-HĐGD ngày 01/6/2017 tại Văn phòng C1 giữa bà D1 với
H.
3. Trường hợp Tòa án căn cứ tuyên hiệu hai hợp đồng nêu trên, H
yêu cầu D1, ông T P phải liên đới trả cho H giá trị quyền sử dụng đất
của các thửa đất 303, 332, 691 (thửa 304) và thửa 692 (thửa 331); tờ bản đồ
số 22, tại ấp B, T, huyện Đ, tỉnh Long An theo giá trị Tòa án đã tiến hành
định giá tại thời điểm giải quyết tranh chấp tại chứng thư định giá.
Tại phiên tòa thẩm, ông H3 trình bày bổ sung xác định lại yêu cầu giải
quyết hậu quả của hợp đồng hiệu trong trường hợp Tòa án tuyên hiệu hợp
đồng như sau: H ông T xác lập HĐCNQSDĐ đối với các thửa đất nêu trên,
không mặt D1 bà D1 đã ủy quyền cho ông T toàn quyền định đoạt các
thửa đất này. H đã giao cho ông T số tiền 1.400.000.000 đồng. Việc giao nhận
tiền không giấy tờ chứng minh. Trường hợp Tòa án có căn cứ tuyên hiệu hai
hợp đồng nêu trên, bà H yêu cầu bà D1, ông T và bà P phải liên đới trả cho bà H số
tiền chuyển nhượng H đã giao cho ông T 1.400.000.000 đồng thiệt hại
phát sinh theo giá tại chứng thư định giá.
9
Ông thống nhất với kết quả định giá tại Chứng thư định giá số
110/16/05/2022/TĐG LA BĐS ngày 16/5/2022, không yêu cầu Tòa án định giá
lại và M2 trích đo địa chính số 179-2022.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị N3 trình bày:
ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952, chết năm 2015 vợ chồng. Ông
05 con chung gồm: Nguyễn Hữu T6, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thành Đ1,
Nguyễn Thị Kim T8, Nguyễn Hoàng S.
Khi ông C còn sống, vào năm 1998, vợ chồng nhận chuyển nhượng
thửa đất 231, tờ bản đồ số 14, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An của ông Văn T5
Phạm Thị P. Do thửa đất 231 đang thế chấp tại ngân hàng nên các bên làm
giấy tay. Đồng thời, ông T5 P đã giao đất cho vợ chồng sử dụng ổn định
từ năm 1998 đến nay. Vợ chồng cũng giao đủ tiền cho ông T5, P. Do thời
gian quá lâu nên không nhớ số tiền chuyển nhượng bao nhiêu. Năm 2005,
ông T5 chết, bà P thừa kế thửa đất 231 và năm 2008, P chuyển nhượng cho ông
C theo HĐCNQSD đất số 660/HĐGD ngày 04/7/2008 của UBND xã T. Trước khi
nhận chuyển nhượng thửa 231 từ P, ông C đã tìm hiểu về nguồn gốc và tính
hợp pháp của thửa đất này. Theo đó, P đứng tên trên GCNQSDĐ số AM
596118 ngày 16/01/2008. Sau đó, ông C đã được VPĐKQShuyện Đ cập nhật
biến động trên GCNQSDĐ số AM 596118 vào ngày 30/7/2008. Năm 2015, ông C
chết, các con đã thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của ông C theo văn bản
thỏa thuận phân chia di sản ngày 10/3/2016 tại Phòng C3 tỉnh Long An. các
con thống nhất thỏa thuận cho bà được hưởng thừa kế thửa đất 231. Bà đã được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ số 154729 ngày 11/5/2016.
Hiện bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất này để trồng lúa và hoa màu.
đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án về yêu cầu khởi kiện, khởi
kiện bổ sung của P thông báo quyền yêu cầu độc lập trong vụ án. P yêu
cầu hiệu Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 01/02/2008 liên
quan đến thửa đất 231. Tuy nhiên, P các con của bà P không tranh chấp liên
quan đến thửa đất 231 các giao dịch khác liên quan đến thửa đất này. Do đó,
quyền lợi của không bị ảnh hưởng nên không yêu cầu trong vụ án. Trường
hợp sau này có phát sinh tranh chấp, bà sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
xác định rõ, việc ông C nhận chuyển nhượng thửa 231 ngay tình, hợp
pháp, đúng quy định pháp luật. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa 231, ông C sử
dụng ổn định cho đến lúc chết và để thừa kế thửa đất này cho bà. tiếp tục quản
sử dụng ổn định đến nay. vậy, người thứ ba ngay tình được pháp luật
bảo vệ. Do lớn tuổi nên bà xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ
án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Văn
phòng C1 có văn bản trình bày:
Ngày 01/06/2017, VPCC Ngọc M1 tiếp nhận đơn yêu cầu công chứng
HĐCNQSDĐ từ ông Minh T (đại diện cho Thị Ngọc D1) sang cho
10
Trần Thị Thu H đối với quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 303, 304, 331, 332,
tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo
GCNQSĐĐ, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số BD 746337 do
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 30/11/2010. Theo hồ lưu trữ tại Văn
phòng, các bên đã cung cấp các giấy tờ như sau: Chứng minh nhân dân của ông
Minh T Trần Thị Thu H; Hợp đồng y quyền số 4477, quyển số 09TP/CC-
SCC/HĐGD do Phòng C3, tỉnh Long An chứng nhận ngày 28/04/2017;
GCNQSĐĐ tại thửa đất nêu trên; đơn đề nghị xác nhận về việc trực tiếp sản xuất
nông nghiệp và có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp.
Sau khi xem xét giấy tờ và các bên không yêu cầu xác minh, Công chứng viên
VPCC Ngọc M1 đã giải thích nội dung hợp đồng cho các bên nghe. Các bên
cam kết đã hiểu rõ và đồng ý ký tên vào hợp đồng. Do đó, Công chứng viên VPCC
Ngọc M1 đã chứng nhận HĐCNQStừ ông Minh T (đại diện cho
Thị Ngọc D1) sang cho Trần Thị Thu H, bởi theo các giấy tờ ông Minh
T cung cấp thì ông Minh T quyền tự mình định đoạt tài sản nêu trên do nhận
ủy quyền từ bà Lê Thị Ngọc D1.
Văn phòng C4 đã thực hiện việc công chứng các Hợp đồng nêu trên đúng
trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Văn phòng đề nghị Tòa án xem xét, giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án
giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Văn
phòng C2 có văn bản trình bày:
Ngày 02/11/2010 bà Phạm Thị P đã thực hiện công chứng HĐCNQSthửa
đất số 303, 304, 331, 332, tờ bản đ22, tọa lạc tại ấp B, T, huyện Đ, tỉnh Long
An cho Thị Ngọc D1. Hợp đồng nói trên đã được thực hiện đúng trình tự,
thủ tục theo quy định của pháp luật. Văn phòng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết
vụ việc trên theo đúng qui định pháp luật và đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa
án giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy
ban nhân dân xã T có văn bản trình bày:
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được UBND thực hiện chứng thực
đúng theo quy định của pháp luật. Các bên tham gia cam đoan chịu trách nhiệm
trước pháp luật vnội dung của văn bản tại thời điểm tiếp nhận hồ yêu cầu
chứng thực. Những người thỏa thuận phân chia di sản minh mẫn, nhận thức và làm
chủ được hành vi của mình, tnguyện thỏa thuận phân chia di sản đã cùng
vào văn bản thỏa thuận.
Do thay đổi kho lưu trữ nên Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày
01/02/2008 do UBND T chứng thực số 16, quyển số 01 TP .- SCCC/TK ngày
01/03/2008 hiện tại UBND xã T không còn lưu trữ.
bận công việc nên Uỷ ban xã xin vắng mặt tại các phiên hòa giải xét x
của Tòa án nhân dân các cấp.
11
Vụ án được Toà án cấp thẩm tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự thẩm số 468/2024/DS-ST ngày 04/11/2024 Quyết
định sửa chữa bổ sung bản án số 72/2025/QĐ-SCBSBA ngày 04/3/2025 của Tòa
án nhân dân huyện Đức Hoà đã căn cứ các Điều 35, Điều 39, Điều 184, Điều 186,
Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều
116, 123, 124, 131, 408, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 166 Luật
Đất đai năm 2013; Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P về việc tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, hợp đồng ủy quyền, hiệu văn bản
phân chia di sản thừa kế đối với ông Lê Minh T.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Thu H về việc công nhận
hiệu lực của Hợp đồng ủy quyền số công chứng 4477, quyển số 9/TP/CC-SCC-
HĐGD ngày 28/4/2017 tại Phòng C3 tỉnh Long An nay VPCC Văn N giữa
Thị Ngọc D1 với ông Lê Minh T Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số công chứng 2078, quyển số 03/2017-TP/CC-SCC-HĐGD ngày
01/6/2017 tại Văn phòng C1 giữa Thị Ngọc D1 (ông Minh T đại diện)
với bà Trần Thị Thu H.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Thu H về việc giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu đối với số tiền 400.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu
độc lập của Trần Thị Thu H về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu
đối với số tiền 1.000.000.000 đồng.
1.1. Vô hiệu các giao dịch dân sự sau:
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008 do Ủy ban nhân dân
T chứng thực số 16, quyển số 01 TP/.CC-SCCC/TK ngày 01/3/2008.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tài sản), số công
chứng 1160, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2010, tại Phòng công
chứng số 4 tỉnh C3 (nay Văn phòng C2) giữa Phạm Thị P và Thị Ngọc
D1, đối tượng là các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa mới 692),
tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng ủy quyền số 4477, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017
tại Phòng C3 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2) giữa Thị Ngọc D1 với
ông Minh T, đối tượng là các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331
(thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2078, quyển số
03/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2017, tại Văn phòng C1 giữa Thị
Ngọc D1 (ông Lê Minh T đại diện) với Trần Thị Thu H, đối tượng các thửa
đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại T,
12
huyện Đ, tỉnh Long An.
1.2. Các ông Phạm Thị P, Thị L1, Văn T1, Thành N1, Minh
T, Huỳnh Thị T2, Lê Thị Mai P1, Thị Như N2, Văn L, Lê Hải Đ, Thùy
T3 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai,
đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh, chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691)
và 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An
Vị ttcận, diện tích được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 179-
2022 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 lập ngày 17/01/2022, được Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 05/4/2022.
Trần Thị Thu H nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền s
dụng đất đối với các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692)
cho quan Nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật. Trường hợp không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, Cơ quan Tài nguyên, môi trường,
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ căn cứ vào bản án, quyết định
của Tòa án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, chỉnh biến động hoặc
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng cho các bên đương sự theo quy định tại
khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014.
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của a án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
2. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
2.1. Buộc Thị Ngọc D1 nghĩa vụ bồi thường cho Trần Thị Thu H
số tiền 487.789.546 đồng (bốn trăm tám mươi bảy triệu, bảy trăm tám mươi chín
ngàn, năm trăm bốn mươi sáu đồng).
2.2. Buộc ông Lê Minh T có nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường cho Trần Thị
Thu H số tiền 887.789.546 đồng (tám trăm tám mươi bảy triệu, bảy trăm tám mươi
chín ngàn, năm trăm bốn mươi sáu ngàn đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Ông Minh T nghĩa vụ trả lại Phạm Thị P số
tiền 41.820.000 đồng (bốn mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng).
4. Khi án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa vụ chậm thi nh sphải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả
theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời
gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có
quy định khác.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Minh T phải chịu án phí 39.834.000 đồng (ba mươi chín triệu, tám
trăm ba mươi bốn ngàn đồng).
13
Thị Ngọc D1 phải chịu án phí 23.512.000 đồng (hai mươi ba triệu,
năm trăm mười hai ngàn đồng).
Trần Thị Thu H phải chịu án phí là 42.600.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm
ứng án phí bà Trần Thị Thu H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ pTòa án s0006148 ngày 25/01/2024 và 300.000 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006149 ngày 25/01/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Đức Hòa. Bà Trần Thị Thu H phải nộp tiếp số tiền án phí 42.000.000
đồng (bốn mươi hai triệu đồng).
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về quyền nghĩa vụ thi hành án, quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/11/2024, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan Trần Thị Thu H làm đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản
án sơ thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau,
nguyên đơn Phạm Thị P do Kim D đại diện không t đơn khởi kiện,
không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của H, không đồng ý liên đới bồi thường
thiệt hại cho H P không lỗi trong việc thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa D1 do ông T đại diện H. Đề nghị Toà án
cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn ông Minh T không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của H, trình
bày cho rằng, các giao dịch về chuyển nhượng, về uỷ quyền quyền sử dụng đất đều
do ông T thực hiện nhằm vay tiền, ông T cũng người thực hiện lập văn bản thoả
thuận phân chia di sản thừa kế với mục đích để bà P đứng tên, sau đó vay tiền và
ông T là người trực tiếp vay và nhận tiền.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu H không rút đơn
kháng cáo, yêu cầu được tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà
H ông Trần Văn T4 trình bày cho rằng, ông T4 H cùng đứng ra nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với D1 và ông T, mọi giao dịch được xác lập
cùng ông T, giao cho ông T 1.400.000.000đồng, lần đầu đặt cọc 500.000.000đồng,
khi công chứng hợp đồng giao tiếp số tiền còn lại 900.000.000đồng, lập giấy
tay nhận tiền nhưng đã bị thất lạc mất không còn. Sau đó nhận đất canh tác
được khoảng 1 năm nhưng do mất mùa nên bỏ hoang ông N1 lấy lại đất canh
tác cho đến nay. Số tiền nhận chuyển nhượng đất là tiền chung của ông T4
H, nhưng do H đứng ra lập hợp đồng đứng tên quyền sử dụng đất nên để
H đứng ra khởi kiện yêu cầu, kể cả việc nhận tiền bồi thường trong vụ án, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo và yêu cầu độc lập của bà H.
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn T1, ông Thành
N1 trình bày cho rằng quyền sử dụng các thửa đất đối tượng của hợp đồng
chuyển nhượng giữa bà D1 do ông T đại diệnH từ trước đến nay do ông N1
canh tác trồng lúa, không có việc chuyển giao cho bất kỳ người nào, ông T1 và ông
14
N1 không biết việc chuyển nhượng được xác lập giữa D1 do ông T đại diện
và bà H nên không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà H.
Luật sư Lâm Văn K bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Thị Thu H
trình bày cho rằng, Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
như sau: trong quá trình triệu tập các đương s tại Toà án cấp thẩm, phía
nguyên đơn vắng mặt liên tiếp 3 lần trong 3 biên bản vkiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ như vậy hđã từ bỏ yêu cầu khởi kiện nhưng Toà án
cấp thẩm không đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trong số những người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan chỉ ông T1, ông N1 mặt lời khai tại Toà án, còn
những người khác không lời khai trong quá trình ttụng. Tán cấp thẩm
xác định những người thừa kế của ông T5 các con của ông T5 nhưng cũng
không chứng cứ chứng minh; trong biên bản công khai chứng cứ, phía nguyên
đơn không mặt nhưng Toà án cấp thẩm vẫn ghi lời khai của phía nguyên
đơn. Về nội dung vụ án, khi thực hiện việc phân chia di sản thừa kế, ký tên chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho D1, P nhận thức hành vi của mình, việc
Toà án cấp thẩm cho rằng P không lỗi nên không trách nhiệm bồi
thường cho H không đúng, đồng thời tách phần giải quyết hậu quả của hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa P D1 làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của H. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu
kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc chấp hành pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cho rằng:
Toà án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự, kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu
H trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu H
yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận
yêu cầu độc lập của bà H thấy rằng:
Quyền sdụng các thửa đất số 231, tờ bản đồ số 14, số 303, 304, 305, 330,
331, 332, 502, 503, cùng tờ bản đồ số 22, tổng diện tích là 26.150m
2
tài sản
chung của vợ chồng P ông T5. Ông T5 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 543064 ngày 06/12/1997.
Sau khi ông T5 chết vào năm 2005, bà P cùng các con lập Văn bản thoả thuận
phân chia di sản ngày 01/02/2008, được Ủy ban nhân dân T chứng thực, tuy
nhiên trong văn bản chỉ P các con gồm L1, ông N1, ông T, ông D2,
ông H2, T3 tên, lăn tay không ông T1 và ông L. Diện tích đất còn lại
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 16.148m
2
nhưng văn bản thoả thuận chỉ
các thửa đất gồm 231, 303, 332, 502, 503, diện tích 14.974m
2
(thiếu mpt thửa
331), cho nên Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008 vô hiệu từ thời
điểm xác lập, do vi phạm điều cấm của pháp luật, không đảm bảo về chủ thể và đối
tượng.
Do Văn bản thỏa thuận phân chia di sản vô hiệu nên việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà P đối với các thửa đất trên không đảm bảo quy định pháp
15
luật. Từ đó các giao dịch dân sự phát sinh sau này cũng hiệu, nên yêu cầu khởi
kiện của bà P có căn cứ.
Đối với yêu cầu độc lập của H vcông nhận hiệu lực Hợp đồng ủy quyền
số công chứng 4477 giữa D1 với ông T Hợp đồng chuyển nhượng số công
chứng 2078 giữa D1 do ông T đại diện với bà H đối với các thửa đất 303, 332,
304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại T, huyện Đ thì
H không cung cấp được chứng cứ chứng minh tkhi nhận chuyển nhượng đã
nhận đất quản sử dụng cũng như không cung cấp được chứng cứ H cho gia
đình P thuê, mướn đất lại các thửa đất tranh chấp để canh tác. Theo Biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/5/2024 xác định các thửa đất tranh chấp do ông
N1 đang quản sử dụng trồng lúa, hoa màu. Do đó yêu cầu độc lập của H
không có cơ sở.
Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu của H, yêu cầu
D1, ông T P phải liên đới trả cho H 1.400.000.000đồng thiệt hại
phát sinh theo giá trị thực tế quyền sử dụng đất thấy rằng:
Vào thời điểm xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất không
mặt D1, P. H cho rằng sau khi hợp đồng, bà H giao cho ông T số tiền
1.400.000.000đồng nhưng không giấy tờ chứng minh, trong khi trên hợp đồng
chỉ thể hiện giá tiền chuyển nhượng 20.000.000đồng. Ông T thừa nhận vay của
H 400.000.000đồng, nhưng thực nhận chỉ 200.000.000đồng, đây tiền vay với
lãi suất 3%/tháng. Do đó, căn cứ vào sự thừa nhận của ông T về số tiền đã nhận
nên chỉ buộc ông T trả cho H 400.000.000đồng xem xét mức độ lỗi của mỗi
bên và mức trách nhiệm bồi thường thích hợp.
Về trách nhiệm bồi thường, P người xác lập hợp đồng chuyển nhượng
với D1 đối với các thửa đất số 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới
692) nên P trách nhiệm giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu với D1,
tuy nhiên do bà D1 không yêu cầu nên không xem xét.
H yêu cầu bà P phải liên đới bồi thường thiệt hại là không căn cứ do
thời điểm ông T xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với H, thì
D1 vẫn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất này, ông T
dựa trên hợp đồng ủy quyền với D1 để chuyển nhượng các thửa đất cho H.
Do đó, ông T có trách nhiệm liên đới với bà D1 bồi thường thiệt hại cho bà H.
Xét về mức độ lỗi: D1, ông T chuyển nhượng cho bà H các thửa đất không
đủ điều kiện chuyển nhượng. Đồng thời, bà H là người nhận chuyển nhượng nhưng
không xác minh các thửa đất, không xem hiện trạng đất, cũng nkhông yêu cầu
bàn giao đất. Do đó, lỗi của bà D1, ông T và bà H là như nhau nên bà D1, ông T có
nghĩa vụ cùng nhau bồi thường cho H trên số tiền thiệt hại dựa trên chứng thư
thẩm định giá ngày 18/6/2025.
Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H, sửa một
phần bản án sơ thẩm.
16
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu H
làm đúng theo quy định tại Điều 272 được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy
định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự tham gia tố tụng của các đương sự: những người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan Văn phòng C1, Văn phòng C2, Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ,
Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Thị H1, Huỳnh Thị T2, Lê Thị Mai P1,
Thị Như N2, ông Văn L, ông Hải Đ, Thị L1, Thùy T3,
Nguyễn Thị N3 vắng mặt, yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng Thị Ngọc D1
đã được Toà án tống đạt niêm yết hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Toà án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan này.
[3] Nguyên đơn Phạm Thị P khởi kiện yêu cầu hiệu các giao dịch dân
sự có liên quan đến các thửa đất số 303, 332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa mới
692), tờ bản đồ số 22, tolạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An, gồm Văn bản thỏa
thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa P D1, hợp đồng ủy quyền giữa D1 với ông T, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa D1 do ông T đại diện với H, đồng
thời yêu cầu huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên
để P cùng các thừa kế khác của ông Văn T5 khai cấp quyền sử dụng đất.
Người quyền lợi nghĩa vliên quan Trần Thị Thu H yêu cầu độc lập yêu
cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng ủy quyền giữa D1 với ông T, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa D1 do ông T đại diện với H đối với
các thửa đất trên; trường hợp phải hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thì yêu cầu D1, ông T P phải liên đới trả cho bà H
1.400.000.000đồng cùng với việc bồi thường thiệt hại. Toà án cấp sơ thẩm đã chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn P, vô hiệu các giao dịch có liên
quan đến các thửa đất số 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tờ
bản đồ số 22, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H, đồng thời xử lý giao dịch
dân sự hiệu, buộc D1 bồi thường cho H số tiền 487.789.546 đồng, buộc
ông T nghĩa vụ hoàn trả bồi thường cho H số tiền 887.789.546 đồng,
vậy H kháng cáo yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Thu H thấy rằng:
[4.1] Nguồn gốc các thửa đất số 303, 304, 331, 332 cùng tờ bản đồ số 22
của ông Lê Văn T5Phạm Thị P, ông T5 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 543064 vào ngày 06/12/1997 cùng với
các thửa đất khác gồm thửa 231, 305, 330, 502, 503 với tổng diện tích là 26.150m
2
.
Năm 2002, ông T5 đã chuyển nhượng 10.002m
2
đất các thửa đất số 304, 305,
330, 331, diện tích đất còn lại 16.148m
2
. Ngày 17/4/2005, ông T5 chết; ngày
01/02/2008, Phạm ThP cùng các thừa kế khác của ông T5 gồm Thị L1,
17
ông Thành N1, ông Minh T, ông Minh D2, ông Thanh H2,
Thùy T3 lập văn bản thoả thuận phân chia di sản, giao toàn bộ quyền sử dụng
16.148m
2
đất tại các thửa 231, 303, 332, 502, 503 tờ bản đồ số 14, 22 cho P.
Ngày 16/4/2008, P được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng số AM 596121 đối với 4 thửa đất số 303, 304, 331 332 cùng tờ bản đồ
số 22 với tổng diện tích 9.410m
2
. Cùng ngày 16/4/2008, P cũng được cấp
quyền sử dụng đối với các thửa đất số 231 tờ bản đồ số 14, thửa s502, 503 cùng
tờ bản đồ s22 theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 596118, AM
596119 AM 5961120. Ngày 26/10/2010, P hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng 4 thửa đất trên cho ông Công Q, ngày 02/11/2010, bà P ông
Q hợp đồng huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cùng ngày
02/11/2010, P hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Thị
Ngọc D1 toàn bộ 4 thửa đất với giá chuyển nhượng 400.000.000đồng. Ngày
30/11/2010, bà D1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BD 746337 đối với 4 thửa đất số 303, 304, 331, 332. Ngày 28/4/2017,
D1 lập hợp đồng ủy quyền định đoạt đối với các thửa đất số 303, 304, 331, 332
cho ông Minh T. Ngày 01/6/2017, Thị Ngọc D1 do ông Minh T đại
diện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 4 thửa đất số 303, 304, 331, 332
cho Trần Thị Thu H, với giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là
20.000.000đồng. Ngày 31/8/2018, bà H được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 368818 đối với thửa đất s691 (số
thửa cũ 304) diện tích 189m
2
; sCO 368819 đối với thửa đất số 692 (thửa 331 cũ)
diện tích 976m
2
; số CO 368820 đối với thửa đất số 332 diện tích 6.722m
2
; số CO
368821 đối với thửa đất số 303 diện tích 1.523m
2
.
[4.2] Xét văn bản thoả thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008, được chứng
nhận của Ủy ban nhân dân T thấy rằng: vhình thức, văn bản thoả thuận phân
chia di sản tuân thủ điều kiện về hình thức được quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân
sự năm 2005, Điều 35, Điều 36 của Luật Công chứng năm 2006. Tuy nhiên, về chủ
thể xác lập văn bản thoả thuận phân chia di sản thì hai thừa kế của ông T5 ông
Văn T1 và Văn L chưa thể hiện ý kiến trong việc phân chia di sản. Về đối
tượng tài sản di sản được phân chia thì văn bản thoả thuận phân chia các thửa
đất số 231, 303, 332, 502 và 503 với tổng diện tích là 16.148m
2
, trong khi đó tổng
diện tích toàn bộ các thửa đất số 231, 303, 332, 502, 503, 304, 331 mới là
16.148m
2
, chính diện tích đất còn lại trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của ông T5 sau khi chuyển nhượng cho người khác vào năm 2022, các thửa đất
304, 331 chưa được đề cập đến trong văn bản thoả thuận phân chia di sản, tuy
nhiên sau đó P vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với hai thửa
đất số 304 331 được chuyển nhượng cho D1 để thực hiện các giao dịch
tiếp theo. Toà án cấp sơ thẩm với nhận định cho rằng, văn bản thoả thuận phân
chia di sản vi phạm điều cấm của pháp luật nên hiệu ngay từ khi xác lập
căn cứ.
[4.3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P và bà D1
hợp đồng uỷ quyền quyền sử dụng đất giữa D1 ông T, do văn bản thoả
thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu, P không được định đoạt quyền sử dụng
18
các thửa đất số 303, 332, 304 331 nên các hợp đồng này cũng hiệu. Đồng
thời xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa P D1 thấy
rằng: D1 là con dâu của P, biết tình trạng quá trình sử dụng đất, trong
hợp đồng chuyển nhượng ghi gtrị chuyển nhượng 400.000.000đồng nhưng
D1 không chứng minh giao tiền cho P các thửa đất trên vẫn đang do
ông Lê Thành N1 trực tiếp sử dụng, không có việc bàn giao đất trên thực tế, vì vậy
việc chuyển nhượng chỉ mang tính chất giả tạo, D1 chưa nhận quyền sử dụng
đất để thực hiện việc uỷ quyền định đoạt tài sản cho ông T làm cho hợp đồng uỷ
quyền cũng bị vô hiệu.
[4.4] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa D1 do ông T
đại diện với H thấy rằng, tại phiên toà phúc thẩm, H cũng không cung cấp
được các chứng cứ về việc giao nhận số tiền bằng giá trị quyền sử dụng đất vào
thời điểm xác lập giao dịch, không chứng minh việc giao nhận quyền sử dụng
đất nên H không được xác định người thứ ba ngay tình nên cũng không
căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của H về thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
[5] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
[5.1] Đối với hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
P D1, hợp đồng uỷ quyền giữa D1 ông T do các đương skhông
yêu cầu nên Toà án cấp sơ thẩm không giải quyết và các đương sự không có kháng
cáo phần này.
[5.2] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D1 do ông
T đại diện H: ông T cho rằng ông T vay của H 400.000.000đồng, lãi suất
3%/tháng nhưng ông T không xuất trình được giấy vay tiền và cũng không được bà
H đồng ý; H cùng người đại diện hợp pháp của bà H trình bày cho rằng, H
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất 303, 332, 691 692 với g
chuyển nhượng là 1.400.000.000đồng đã giao đủ tiền cho ông T nhưng bà H không
chứng minh được số tiền giá trị của hợp đồng chuyển nhượng cũng như số tiền
bà H đã giao cho ông T. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào sự thừa nhận của ông T để
xác định số tiền ông T đã nhận của H 400.000.000đồng, đồng thời lấy gtrị
quyền sử dụng đất theo giá trị thực tế quyền sử dụng đất theo gchứng thư thẩm
định giá tại thời điểm xác lập giao dịch vào tháng 6/2017 1.084.721.000đồng
căn cứ. Do ông T D1 không thông báo cho bà H về tình trạng quyền sử dụng
đất do H không tìm hiểu về quyền sdụng đất không thoả thuận việc
bàn giao đất nên Toà án cấp sơ thẩm xác định cả bà D1, ông T H cùng có lỗi
căn cứ, nên ông T D1 trách nhiệm liên đới hoàn trả tiền bồi thường
thiệt hại cho H. P không tham gia vào giao dịch chuyển nhượng với H,
không nhận tiền từ H nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của H buộc
trách nhiệm của bà P liên đới trả tiền và bồi thường cho bà H.
[5.3] Trong quá trình xét xử phúc thẩm, phía H có yêu cầu cơ quan chuyên
môn định giá, căn cứ vào chứng thư thẩm định giá số 295/2025/243A/CT-SAG
ngày 18/6/2025 của Công ty TNHH T9 thì toàn bộ quyền sử dụng 4 thửa đất 303,
332, 691, 692 5.136.822.000đồng. Như vậy gtrị 400.000.000đồng đến nay là
19
36,88% x 5.136.822.000đồng = 1.894.460.000đồng, thiệt hại phát sinh
1.494.460.000đồng, H chịu 1/3 thiệt hại 498.153.333đồng, D1 ông T
chịu 2/3 thiệt hại 996.306.666 đồng. Do D1 uỷ quyền toàn bộ quyền sử dụng
cho ông T nên cả hai cùng chịu trách nhiệm chung về số tiền trả cho H để đảm
bảo việc thi hành án, việc tranh chấp giữa D1 ông T nếu sẽ được giải
quyết trong vụ án khác. Như vậy tổng số tiền D1 ông T bồi thường cho H
là 1.396.306.666đồng.
[5.4] Đối với ông Trần Văn T4 chồng của H, ông T4 H trình bày
cho rằng, số tiền giao cho ông T tiền chung của vợ chồng, nhưng ông T4 không
đơn yêu cầu và đồng ý để bà H đứng ra yêu cầu độc lập nên Toà án chỉ xem xét
yêu cầu của bà H.
[6] Trong phiên toà phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
bà H trình bày cho rằng, Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố
tụng trong việc xác định các thừa kế của ông T5, trong việc thu thập chứng cứ về
người thừa kế của ông T5, trong việc triệu tập nguyên đơn đến Toà án. Qua xem
xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:
[6.1] Về các thừa kế của ông T5: ông Văn T5 chồng của P chết vào
ngày 17/4/2005, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập
đầy đủ các chứng cứ để xác định những người thừa kế của ông T5 theo Điều 651
Bộ luật Dân sự. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, các đương sự đã nộp đầy đủ các
tài liệu chứng minh người thừa kế của ông T5 bao gồm: bản sao giấy khai sinh của
Thị L1, của ông Thành N1, ông Minh T bà Thùy T3, thể hiện
cha mẹ ruột Phạm Thị P ông Văn T5; các Giấy xác nhận số 247/CV-
UBND ngày 25/6/2025, số 252/CV-UBND, số 253/CV-UBND, số 254/CV-UBND
cùng ngày 26/6/2025 của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện các ông bà Lê Văn T1,
Thanh H2, Lê Văn LLê Minh D2 là con ruột của ông T5 và bà P. Trong đó ông
Thanh H2 chết vào ngày 23/3/2020, chết sau ông T5 thừa kế chuyển tiếp
Hải Đ Phạm Thị P; ông Minh D2 chết vào ngày 18/8/2021, chết sau
ông T5 các thừa kế chuyển tiếp gồm vợ Huỳnh Thị T2 các con là Thị
Mai P1, Thị Như N2 mẹ bà Phạm Thị P. Như vậy Toà án cấp thẩm
cũng đã xác định đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của các đương sự vào vụ án.
[6.2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn cùng người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trong quá trình thu thập chứng cứ của Toà án cấp thẩm: trong 3
biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào các ngày
19/7/2024, ngày 01/8/2024 ngày 30/9/2024 không thể hiện chữ của phía
nguyên đơn, tuy nhiên trong các biên bản này không thể hiện phía nguyên đơn
mặt hay vắng mặt, nhưng có thể hiện các yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu do
nguyên đơn giao nộp, trong hồ không văn bản thhiện sự tống đạt triệu
tập cho nguyên đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và cũng không thể hiện rằng, phía nguyên đơn vắng mặt không có lý
do liên tiếp đến lần thứ hai để đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trong hồ sơ đơn
xin hoãn phiên toà của Kim D đại diện cho nguyên đơn Phạm Thị P
nhưng với nội dung xin được vắng mặt trong các buổi công khai chứng cứ, nhưng
20
không xác định thời gian, điều này cho thấy rằng, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn đơn xin vắng mặt khi Toà án công khai chứng cứ, nhưng Toà án
cấp sơ thẩm không thể hiện rõ việc tống đạt, việc vắng mặt có lý do hay không nên
không việc phía nguyên đơn vắng mặt liên tục đến lần thứ ba không
do. Đây là lỗi của Toà án cấp sơ thẩm, nhưng cũng không cần thiết phải huỷ bản án
thẩm, giao hồ vụ án vToà án cấp thẩm để thực hiện lại các thủ tục tố
tụng do sai sót.
[8] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đề nghị Hội
đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm là có cơ sở và phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử.
[9] Các khoản khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực theo quy định của pháp luật.
[10] Về chi phí tố tụng: ông T đồng ý chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Tổng chi
phí đo đạc, định giá, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án hai cấp
65.820.000đồng. Số tiền này P H đã nộp tạm ứng, ông T phải nộp lại để
hoàn trả cho bà P số tiền 41.820.000đồng, hoàn trả cho H số tiền
24.000.000đồng.
[11] Về án phí: ông T phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu
hiệu 02 hợp đồng chuyển nhượng, 01 hợp đồng ủy quyền và 01 văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế của P được chấp nhận là 1.200.000đồng. Ông T bà
D1 liên đới chịu 53.889.200đồng án phí trên số tiền hoàn trả bồi thường cho
H. H phải chịu án phí không giá ngạch đối với yêu cầu công nhận 02 hợp
đồng không được chấp nhận 600.000đồng án phí giá ngạch
42.000.000đồng trên stiền 1.000.000.000đồng không được chấp nhận. Tổng số
tiền án phí bà H phải chịu là 42.600.000đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Trần Thị Thu H.
Sửa một phần Bản án dân sthẩm số 468/2024/DS-ST ngày 04/11/2024
của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 26, 37, 39, 147, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116,
123, 124, 131, 408, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 166 Luật Đất
đai năm 2013; Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
21
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P về việc tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, hợp đồng ủy quyền, hiệu văn bản
phân chia di sản thừa kế đối với ông Lê Minh T.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Thu H về việc công nhận
hiệu lực của Hợp đồng ủy quyền số công chứng 4477, quyển số 9/TP/CC-SCC-
HĐGD ngày 28/4/2017 tại Phòng C3 tỉnh Long An nay VPCC Văn N giữa
Thị Ngọc D1 với ông Lê Minh T Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số công chứng 2078, quyển số 03/2017-TP/CC-SCC-HĐGD ngày
01/6/2017 tại Văn phòng C1 giữa Thị Ngọc D1 (ông Minh T đại diện)
với bà Trần Thị Thu H.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Thu H về việc giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu đối với số tiền 400.000.000đồng. Không chấp nhận yêu cầu
độc lập của Trần Thị Thu H về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu
đối với số tiền 1.000.000.000 đồng.
1.1. Vô hiệu các giao dịch dân sự sau:
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 01/02/2008 do Ủy ban nhân dân
T chứng thực số 16, quyển số 01 TP/.CC-SCCC/TK ngày 01/3/2008.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tài sản), số công
chứng 1160, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2010, tại Phòng công
chứng số 4 tỉnh C3 (nay Văn phòng C2) giữa Phạm Thị P và Thị Ngọc
D1, đối tượng là các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) và 331 (thửa mới 692),
tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng ủy quyền số 4477, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2017
tại Phòng C3 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2) giữa Thị Ngọc D1 với
ông Minh T, đối tượng là các thửa đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331
(thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2078, quyển số
03/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2017, tại Văn phòng C1 giữa Thị
Ngọc D1 (ông Lê Minh T đại diện) với Trần Thị Thu H, đối tượng các thửa
đất 303, 332, 304 (thửa mới 691) 331 (thửa mới 692), tờ bản đồ số 22, tại T,
huyện Đ, tỉnh Long An.
1.2. Các ông Phạm Thị P, Thị L1, Văn T1, Thành N1, Minh
T, Huỳnh Thị T2, Lê Thị Mai P1, Thị Như N2, Văn L, Lê Hải Đ, Thùy
T3 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai,
đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh, chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với các thửa đất 303, 332, 691, 692 cùng tờ bản
đồ số 22, đất toạ lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Vị ttcận, diện tích được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 179-
2022 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 lập ngày 17/01/2022, được Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 05/4/2022.
Buộc bà Trần Thị Thu H có nghĩa vụ nộp bản chính 4 Giấy chứng nhận quyền
22
sử dụng đất số CO 368818, CO 368819, CO 368820, CO 368821 cùng ngày
31/8/2018 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp quyền sử dụng đất đối với
các thửa đất 303, 332, 691 692 cùng tờ bản đồ số 22 do H đứng tên cho
quan Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp H không nộp bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu
cầu quan nnước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp) phù hợp với kết quả giải quyết của Toà án.
Văn phòng đăng đất đai, quan Tài nguyên Môi trường căn cứ vào bản
án, quyết định của Tòa án đgiải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
2. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Buộc Thị Ngọc D1 liên đới cùng ông Minh T nghĩa vụ hoàn trả
cho Trần Thị Thu H số tiền 400.000.000đồng bồi thường cho Trần Thị
Thu H số tiền 996.306.666đồng, tổng cộng là 1.396.306.666đồng
3. Về chi phí tố tụng: ông Minh T phải chịu 65.820.000đồng chi phí đo
đạc, định giá, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền này P H đã nộp
tạm ứng, ông T phải nộp lại đhoàn trả cho P stiền 41.820.000đồng, hoàn trả
cho bà H số tiền 24.000.000đồng.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất
cả các khoản tiền, bên nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi
tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên thỏa
thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí:
Phạm Thị P không phải chịu án phí.
Ông Minh T phải chịu 1.200.000đồng án pdân sự sơ thẩm không giá
ngạch đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng ủy quyền
văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Ông Minh T Thị Ngọc D1 liên đới chịu 53.889.200đồng án phí
dân sự sơ thẩm trên số tiền hoàn trả và bồi thường cho bà H.
Trần Thị Thu H phải chịu 42.600.000đồng án phí dân sự không phải
chịu án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Trần Thị Thu
H đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, l p Tòa án số
0006148 ngày 25/01/2024; 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0006149 ngày 25/01/2024 và 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã
nộp theo Biên lai số 0006681 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự
huyện Đức Hòa. Bà Trần Thị Thu H phải nộp tiếp số tiền 41.700.000đồng.
23
6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Long An;
- TAND huyện Đức Hoà;
- Chi cục THADS huyện Đức Hoà;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Kim Nga
Tải về
Bản án số 347/2025/DS-PT Bản án số 347/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 347/2025/DS-PT Bản án số 347/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất