Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 323/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 323/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 323/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 323/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | C khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 trả lại cho ông C, bà L 19.300kg tiêu theo giá thị trường ngày 12/9/2025, trong đó 14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg, 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg. Tổng số tiền là 3.027.100.000đ (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng). |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 323/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 02 - 2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Bà Bùi Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Vẹn -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (cơ sở A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1564/2025/TLPT-
DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2026/QĐ-PT ngày
06/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1044/2026/QĐ-PT ngày
20/01/2026, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 1328/2026/TB-TA ngày
26/01/2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 1936/2026/QĐ-PT ngày 04/02/2026,
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2048/2026/QĐ-PT ngày 06/02/2026, Quyết
định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Bà Trịnh Thị H, sinh năm
1973; Địa chỉ: Số B L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Ngô Thị H1, sinh năm 1974 và ông Trần Đình H2, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1, ông H2: Luật sư Vũ Anh T
và luật sư Bùi Thị H3 – Công ty L1 và cộng sự; địa chỉ: 6 L, phường V, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Ông T có mặt, bà H3 vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Lê Hùng D, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
4. Người làm chứng:
- Ông Trần Ngọc K, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Trần Hữu K1, sinh năm 1958 Địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Bà Bùi Thị Hoàng O, sinh năm 1980 Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Lã Thế T1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh. (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ D, ấp P, xã H, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, xã Q, tỉnh Lâm Đồng. (Có
mặt).
5. Người kháng cáo: Ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Huỳnh Thanh C trình bày:
Vợ chồng ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L có gửi tiêu cho vợ chồng Ngô
Thị H1, ông Trần Đình H2 làm nghề thu mua nông sản 02 lần tại vựa tiêu Hoa Hành
tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh), như sau:
Lần 1: Ngày 10/5/2021, ông Huỳnh Thanh C có mua 14 tấn (14.000 kg) tiêu của
vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, tổng cộng là 980.000.000 đồng, ông
C, bà L đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2. Sau khi mua tiêu của bà H1 xong, ông C,
bà L có gửi lại toàn bộ số tiêu này tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 và bà H1 có ghi giấy
nhận tiêu cho ông C, bà L nhưng bà H1 lại làm giấy “Giấy bán tiêu”, vợ chồng ông C,
bà L đang giữ giấy này.
Theo phong tục mua bán tiêu tại địa phương cũng như những người làm chứng là
những người nông dân trồng tiêu và gửi tiêu tại các vựa tiêu tại địa phương như ông C,
bà L thì khi mua tiêu để gửi lại vựa của bà H1, ông H2 thì bà H1, ông H2 phải viết
3
giấy giao lại cho ông C, bà L giữ, còn nếu ông C, bà L mua tiêu của bà H1, ông H2
chở về gọi là mua đứt thì ông H2, bà H1 không cần viết giấy, các nông dân khác và
các vựa tiêu tại địa phương đều thực hiện như vậy.
Theo thỏa thuận giữa hai bên thì tiêu của ông C, bà L gửi tại vựa tiêu của bà H1,
ông H2 thì khi bà H1, ông H2 bán tiêu của ông C, bà L cho người khác thì phải thông
qua ý kiến của ông C, bà L có đồng ý bán tiêu và giá tiêu hay không, sau khi bán tiêu
của ông C, bà L và giao tiền cho xong thì bà H1, ông H2 mới xé giấy gửi tiêu này đi.
Tuy nhiên sau khi bà H1, ông H2 bán tiêu của ông C, bà L xong cũng không báo cho
ông C, bà L biết và không giao lại tiền bán tiêu cho ông C, bà L, do vậy giấy bà H1
viết cho ông C, bà L khi gửi tiêu số lượng 14 tấn tại vựa của bà H1, ông H2 cũng chưa
bị xé bỏ, hiện giấy này vợ chồng ông C, bà L vẫn đang giữ.
Lần 2: Ngày 20/4/2022, khi ông C, bà L thu hoạch tiêu ông C gọi bà H1 vào tận
rẫy để cân tiêu và ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 là 6,4 tấn (6.400 kg) tiêu, bà H1
có làm giấy tay cho ông C, bà L.
Trong quá trình gửi tiêu, vợ chồng ông C đã bán 1,1 tấn (1.100kg) tiêu, số tiêu
ông C, bà L còn lại gửi cho vợ chồng bà H1, ông H2 là 19,3 tấn (19.300kg), theo giá
tiêu ước tính hiện tại khoảng 160.000 đồng/kg thì 19.300kg tiêu có giá trị khoảng
3.088.000.000 đồng (ba tỷ không trăm tám mươi tám triệu đồng).
Khi ông C, bà L có nhu cầu lấy tiêu về để bán thì vợ chồng bà H1 nói rằng vựa
tiêu đã không còn hoạt động, vợ chồng bà H1 đã bể nợ và nói rằng không có tiêu để trả
và hứa hẹn với ông C, bà L sẽ trả sau, từ đó đến nay ông C, bà L đã nhiều lần liên hệ
vợ chồng bà H1 để yêu cầu trả tiêu nhưng không có kết quả.
Trong các tin nhắn giữa bà L và bà H1 và các đoạn ghi âm giữa bà H1, ông H2 và
vợ chồng ông C mà ông C đã giao nộp cho Toà án thì khi ông C, bà L đề cập, trao đổi
về 19,3 tấn tiêu bà H1, ông H2 còn nợ thì bà H1, ông H2 đều không có bất cứ phản
ứng hay không đồng ý về số tiêu 19,3 tấn, tuy nhiên trong các buổi làm việc tại Toà án
thì bà H1, ông H2 lại thay đổi ý kiến và cho rằng chỉ còn nợ ông C, bà L 5,3 tấn tiêu.
Và trong các đoạn tin nhắn, ghi âm trên bà H1 cũng đề cập đến việc cấn trừ 20m đất
tại xã B cho ông C, bà L nhưng tại Toà án thì H1 khai rằng chỉ trao đổi cấn trừ 10m
đất là hoàn toàn không đúng sự thật.
Trong số 19,3 tấn tiêu có 14 tấn tiêu của ông Lê Hùng D là anh trai bà L nhờ vợ
chồng ông C, bà L đứng tên để mua và gửi cho bà H1, ông H2 dùm vì ông D sinh sống
tại nước Mỹ, nguồn tiền mua tiêu là do ông C, bà L có bán cho ông D 01 miếng đất
nhưng chưa sang tên, sau đó ông D nhờ ông C, bà L bán miếng đất này cho ông
Nguyễn Quốc C1 lấy tiền để mua tiêu cho ông D và khi mua bán tiêu, gửi tiêu cho bà
H1 thì bà H1 và ông D có nói chuyện với nhau qua điện thoại trao đổi và thống nhất
với nhau. Do ông C, bà L là người trực tiếp giao dịch mua bán và gửi tiêu cho bà H1,
ông H2 nên trách nhiệm đối với số tiêu gửi cho bà H1, ông H2 là của ông C, bà L, sau
này giữa ông C, bà L và ông D sẽ tự giải quyết với nhau đối với số tiền ông D gửi ông
C, bà L để giao dịch mua bán và gửi tiêu.
Do đó, ông C khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 trả
lại cho ông C, bà L 19.300kg tiêu theo giá thị trường ngày 12/9/2025, trong đó
14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg, 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg. Tổng số tiền là
3.027.100.000đ (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).
4
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà
Lê Thị Kim L trình bày: Bà L đồng ý với ý kiến và yêu cầu của ông C, không bổ sung
thêm ý kiến, yêu cầu nào khác.
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Ngô Thị H1 và ông Trần Đình H2
trình bày:
Vào ngày 10/5/2021, bà H1 có thỏa thuận bán cho vợ chồng bà L, ông C 14 tấn
(14.000 kg) tiêu, giá tiêu là 70.000 đồng/kg và bà H1, ông H2 có làm giấy bán tiêu cho
ông C, bà L, tuy nhiên ông C, bà L không giao tiền mua tiêu nên việc mua bán tiêu
ngày 10/5/2021 giữa hai bên không thành, nhưng bà H1, ông H2 cũng không hủy giấy
này nên giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 của vợ chồng bà H1 do ông C giao nộp cho Tòa
án không còn giá trị.
Bà H1 chỉ thừa nhận có nhận tiêu do ông C gửi vào ngày 20/4/2022 là 6,4 tấn
(6.400 kg), sau đó ông C bán đi 1,1 tấn (1.100kg), còn lại 5,3 tấn (5.300kg) tiêu thì ông
C vẫn tiếp tục gửi cho vợ chồng bà H1. Khi gửi tiêu hai bên không thỏa thuận về giá
cả, thời gian gửi và cũng không thỏa thuận khi vợ chồng bà H1 bán tiêu phải thông báo
cho ông C biết. Sau đó bà H1, ông H2 đã bán 5.300kg tiêu này.
Bà H1 xác định đối với khách hàng khi bán tiêu cho bà H1, ông H2 thì bà H1
làm Giấy bán tiêu có thông tin về số tiêu bán, giá tiêu, tổng số tiền; đối với khách hàng
mua và gửi tiêu lại ngay tại vựa tiêu cho bà H1, ông H2 (thực tế hai bên không giao
tiêu cho nhau mà chỉ mua và gửi tiêu trên giấy tờ) thì bà H1 sẽ làm Giấy nhận/gửi tiêu
có thông tin về số tiêu gửi, tiêu đầu giá mà không có giá tiêu, số tiền bán tiêu.
Tại các đoạn tin nhắn zalo giữa bà H1 nick là “Hoacđoan” và bà L và các đoạn
ghi âm do nguyên đơn nộp, bà H1, ông H2 không có ý kiến phản đối khi ông C, bà L
yêu cầu trả 19,3 tấn tiêu là vì bà H1, ông H2 nghĩ phải xem lại sổ sách giấy tờ thì mới
giải quyết bằng hình thức cấn trừ đất được và bà H1 xác nhận chỉ còn nợ ông C, bà L
5,3 tấn tiêu mà không phải 19,3 tấn như ông C, bà L nói trong tin nhắn, ghi âm.
Bà H1 hoàn toàn không trao đổi với ông Lê Hùng D về việc mua bán, gửi giữ,
thế chấp sổ đỏ cho ông D để đảm bảo cho số tiêu ông D gửi cho bà H1, ông H2. Sở dĩ
trong các đoạn ghi âm, tin nhắn giữa bà H1, ông H2 và vợ chồng ông C, bà L có nhắc
đến ông D là chỉ liên quan đến 5,3 tấn tiêu mà bà H1 thừa nhận hiện nay còn nợ ông C,
bà L, hoàn toàn không có việc bà H1, ông H2 còn nợ ông D 14 tấn tiêu. Việc bà H1,
ông H2 muốn cấn trừ cho ông C, bà L 10m đất tại xã B, huyện X cũng là để cấn trừ 5,3
tấn tiêu còn nợ, giá 10 mét đất trên tại thời điểm 2 bên trao đổi (tháng 6/2024) là
2.000.000.000 đồng và ông D có trao đổi với bà L là hoàn trả lại cho bà H1
1.000.000.000 đồng vì 5,3 tấn tiêu chỉ có giá trị khoảng 1.000.0000.000 đồng nhưng
ông C, bà L không đồng ý. 10 mét đất này hiện nay bà H1 đã cấn trừ nợ cho người
khác.
Trong các đoạn tin nhắn, ghi âm của nguyên đơn nộp, vợ chồng bà L, ông C, bà
H1 có đề cập đến việc cấn trừ 20m đất tại xã B nhưng vợ chồng bà H1 chỉ đồng ý cấn
trừ 10m đất, việc cấn đất này hai bên không thành.
Nay bà H1, ông H2 chỉ đồng ý trả lại cho ông C, bà L giá trị 5.300kg tiêu với giá
theo thời điểm thị trường hiện nay là 167.000 đồng/kg, không đồng ý theo yêu cầu ông
C, bà L về việc yêu cầu bà H1, ông H2 phải trả lại giá trị 14.000kg tiêu. Đối với tiêu
hiện đang tranh chấp bà H1, ông H2 đồng ý giá thị trường là 153.000 đồng/kg.
5
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị H5, ông Trần Đình H2 là bà
Nguyễn Thị H6 trình bày thống nhất nội dung bà H5 và ông H2 trình bày.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hùng D và người đại diện hợp
pháp của ông D trình bày: Ông D là anh ruột của bà Lê Thị Kim L. Do ông D sinh
sống tại nước Mỹ nên có nhờ ông C, bà L đứng tên dùm một miếng đất và nhờ ông C,
bà L bán đất này cho ông Nguyễn Quốc C1 với giá 2.000.000.000 đồng, ông C1 đặt
cọc số tiền 980.000.000 đồng, sau đó ông D nhờ ông C, bà L mua và gửi tiêu cho ông
Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 - chủ vựa tiêu Hoa Hành tại xã H, huyện X. Khi mua
bán và gửi tiêu, giữa ông D và bà H1 có trao đổi với nhau qua điện thoại và thống nhất
việc mua bán, gửi tiêu cho nhau. Cụ thể: Vào ngày 10/5/2021, ông C có thay mặt ông
D thỏa thuận mua 14 tấn (14.000 kg) tiêu của vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000
đồng/kg, tổng cộng là 980.000.000 đồng, ông C đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2. Bà
H1, ông H2 có hứa hẹn thế chấp cho ông D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
đảm bảo cho số tiêu ông D đã gửi nhưng vẫn không thực hiện. Sau khi mua tiêu của bà
H1 xong, ông C đã gửi lại ngay toàn bộ số tiêu này tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 (hai
bên không giao tiêu cho nhau mà chỉ bán và gửi tiêu trên giấy tờ) và bà H1 có ghi giấy
nhận tiêu cho ông C nhưng bà H1 lại làm giấy “Giấy bán tiêu”, hiện nay vợ chồng ông
C đang giữ giấy này. Sau khi gửi tiêu cho bà H1 thì ông C, bà L đều thông báo cho
ông D biết qua điện thoại. Do ông C, bà L giao dịch trực tiếp, ký giấy tờ mua bán, gửi
giữ tiêu với bà H1, ông H2, nên ông D đề nghị Toà án giải quyết buộc bà H1, ông H2
phải thanh toán tiền cho ông C, bà L. Sau này giữa ông D và ông C, bà L sẽ tự giải
quyết với nhau đối với số tiền ông D gửi ông C, bà L giao dịch mua bán và gửi tiêu với
bà H1, ông H2. Ông D không yêu cầu bà H1, ông H2 phải trả tiền cho ông D vì ông D
không đứng trên giấy tờ giao dịch với bà H1, ông H2.
- Người làm chứng ông Nguyễn Quốc C1 trình bày: Đầu tháng 05/2021, bà L và
ông C có bán cho ông C1 một mảnh đất để lấy tiền mua tiêu trữ. Ông C1 mua lại mảnh
đất của ông C và bà L với số tiền là hai tỷ đồng (2.000.000.000đ). Ngày 09/05/2021,
ông C1 có bán cho ông T3 (tiệm V) một miếng đất và nhận cọc số tiền 200.000.000đ
(hai trăm triệu đồng). Ông C1 ra ngân hàng Q chi nhánh B rút tiền trong tài khoản và
mượn thêm đứa em cho đủ số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Chiều ngày
10/5/2021, ông C1 đem tiền đến tại nhà ông C và bà L để cọc đất 1.000.000.000đ (một
tỷ đồng) thì ông C1 thấy ông H2 và bà H1 chờ sẵn tại nhà ông C và bà L. Khi ông C1
giao tiền xong cho bà L thì bà L có rút lại 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Số tiền
còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng ông H2 và bà H1 ngồi đếm để ông C, bà
L mua tiêu của ông H2, bà H1 trữ gửi lại tại kho của ông H2, bà H1. Sau khi hai bên
đã đếm tiền đủ 980.000.000đ (chín trăm tám mươi triệu đồng) và thỏa thuận xong thì
vợ chồng ông H2, bà H1 có viết giấy tay bán tiêu và giao lại tờ giấy cho ông C, bà L
giữ trước sự chứng kiến của ông C1. Còn về giấy đặt cọc tiền đất có 01 bản chính nên
bà L có chụp hình lại máy điện thoại lưu giữ. Còn về bản chính ông C1 đã làm mất
không còn giữ lại nên chỉ nộp cho tòa bản phô tô giấy mua bán đất giữa ông C1 và vợ
chồng ông C bà L ngày 10/5/2021. Hiện nay mảnh đất đó ông C1 đang đứng tên. Ông
C1 cam đoan những lời khai trên đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của
mình.
- Người làm chứng ông Trần Hữu K1 trình bày: Ông K1 là người cùng xã với
ông C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương,
6
ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông K1 là nông dân trồng tiêu,
mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa
phương. Hiện nay tại xã H, huyện X có hơn chục vựa tiêu trong đó có vựa tiêu của bà
H1, ông H2.
Ông K1 là người dân sinh sống tại xã H, huyện X hơn 38 năm và nắm rất rõ về
phong tục, mua bán tiêu tại địa phương, cụ thể:
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán (theo giá
thị trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ
nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy
tờ nào với nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.
Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong
muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân
tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu
cho người gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách
của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ
vựa tiêu để bán và nhận tiền.
Ông K1 được Toà án cho tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo ông K1, “Giấy bán tiêu”
ngày 10/5/2021 của bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có nội dung là
ông C, bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2
và như ông K1 đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua
bán tiêu giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất cứ giấy tờ mua bán
gì với nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C,
bà L là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu này lại cho ông H2,
bà H1 thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L giữ và do trình độ thiếu
hiểu biết của người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết
giấy gì thì nhận giấy đó. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông C, bà L chưa
nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2. Ông K1 không biết gì về
việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chứng ông Trần Ngọc K trình bày: Ông K là người cùng xã với ông
C, bà L và ông H2, bà H1, tôi cũng là người bán và gửi tiêu cho bà H1, ông H2. Ông K
nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào
với hai bên. Gia đình ông K là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là
bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa phương. Ông K sinh sống tại xã H,
huyện X hơn 25 năm nên nắm rất rõ về phong tục, mua bán tiêu tại địa phương, cụ thể:
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán (theo giá
thị trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ
nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy
tờ nào với nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.
7
Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong
muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì phải gọi chủ vựa tiêu đến
xem và định “dem” (chất lượng tiêu) hai bên thỏa thuận với nhau nhất trí và cân tiêu,
sau khi cân tiêu xong chủ vựa tiêu viết giấy bán tiêu/nhận tiêu/gửi tiêu cho người gửi
tiêu và chủ vựa tiêu tự ghi vào sổ của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu
muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền; các chủ vựa tiêu khi
nhận gửi tiêu không được tự bán tiêu của người gửi mà phải được sự đồng ý của người
gửi tiêu mới được bán tiêu cho người khác. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi
tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu
sẽ ghi phía dưới giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết
tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu.
Ông K được Toà án cho tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo ông K “Giấy bán tiêu”
trên có nội dung là ông C, bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền
cho bà H1, ông H2 và như ông K đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa
phương thì việc mua bán tiêu giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất
cứ giấy tờ mua bán gì với nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông
H2 viết cho ông C, bà L là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu
này lại cho ông H2, bà H1 thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L giữ và
do trình độ thiếu hiểu biết của người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà
H1, ông H2 viết giấy gì thì nhận giấy đó. Theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông
C, bà L chưa nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 nên chưa bị xe
hay gạch bỏ. Và trong trường hợp này theo ông K2 biết bà H1, ông H2 đã tự ý bán hết
tiêu của người gửi trong đó có ông C, bà L khi chưa được sự đồng ý của ông C, bà L
nên không còn tiền và tiêu để trả cho ông C, bà L. Về việc mua bán gửi tiêu giữa ông
C, bà L và ông H2, bà H1 thì ông K không biết.
- Người làm chứng bà Bùi Thị Hoàng O trình bày: Bà O là người cùng xã với
ông C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương,
ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Bà O là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu
hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa phương.
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó
người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền
từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau.
Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn
gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu, tính
giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu cho người
gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ.
Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu
để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận
tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ
luôn giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu.
Tòa án cho bà O tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà
Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo bà O, “Giấy bán tiêu” ngày
8
10/5/2021 của bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có nội dung là ông C,
bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2 và như
bà O đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua bán tiêu
giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất cứ giấy tờ mua bán gì với
nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C, bà L
là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu này lại cho ông H2, bà H1
thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L và do trình độ thiếu hiểu biết của
người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết giấy gì thì
nhận giấy đó, nay xảy ra tranh chấp mới biết. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
thì ông C, bà L chưa nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2. Bà
không biết việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chứng ông Lã Thế T1 trình bày: Ông T1 là người cùng xã với ông
C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương,
ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông T1 là nông dân trồng tiêu,
mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1,
ông H2 nhưng chưa bao giờ gửi tiêu cho bà H1, ông H2.
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó
người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền
từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ
giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên còn nợ tiền mua bán tiêu với nhau thì
mới làm giấy mua bán tiêu cho nhau. Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Ông T1
chưa bao giờ gửi tiêu nên không nắm được.
Ông T1 tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị
H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L nhưng không đánh giá được Giấy bán tiêu trên
và không biết gì về việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Thu H4 trình bày: Bà H4 là người cùng xã
với ông C, bà L và ông H2, bà H1. Bà H4 là người mua bán, gửi tiêu khoảng 20 năm
nay với bà H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài
ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình bà H4 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa
thu hoạch tiêu xong là bà H4 bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có
vựa bà H1, ông H2.
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó
người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền
từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ
giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên gửi tiêu cho nhau thì mới làm giấy
“nhận tiêu” với nhau.
Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong
muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân
tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy gửi tiêu/nhận tiêu cho người
gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ.
9
Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu
để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi tiêu/nhận tiêu là đã
bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy gửi
tiêu/nhận tiêu.
Theo bà H4 thì “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần
Đình H2 và ông C, bà L có nghĩa là bà H1, ông H2 đã bán cho ông C, bà L 14 tấn tiêu
nhưng giao dịch có thành công không thì bà H4 không biết. Còn sau đó ông C, bà L có
gửi 14 tấn tiêu này lại cho bà H1, ông H2 hay không thì bà H4 không biết. Bà H4
không biết gì về việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chứng ông Nguyễn Đình T2 trình bày: Ông T2 là người cùng xã
với ông C, bà L và ông H2, bà H1. Ông T2 là người gửi tiêu khoảng 20 năm nay với
bà H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra
không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông T2 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa
thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà
H1, ông H2.
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó
người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền
từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ
giấy tờ nào với nhau.
Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong
muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân
tiêu, tính kg tiêu, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi vào sổ người gửi tiêu, còn chủ vựa tiêu ghi
vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ
đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi
tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc
xé bỏ luôn giấy gửi tiêu/nhận tiêu.
Ông T2 không đánh giá được “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị
H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Ông T2 cũng không biết việc mua bán, gửi tiêu
giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N là người cùng xã với ông
C, bà L và ông H2, bà H1. Bà N là người mua bán, gửi tiêu khoảng 20 năm nay với bà
H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không
có quan hệ nào với hai bên. Bà N là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong
là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2.
Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì
hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó
người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền
từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ
giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên còn nợ tiền mua bán tiêu thì mới làm
giấy với nhau. Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch
tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến
10
hành cân tiêu (có thể mua tại vườn tiêu), khi nào bán thì sẽ tính giá tại thời điểm đó,
sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy gửi tiêu/nhận tiêu cho người gửi tiêu, giấy này do
người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu,
nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau
đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu
bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” (rồi) hoặc xé bỏ luôn giấy gửi tiêu/nhận tiêu.
Bà N tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1,
ông Trần Đình H2 và ông C, bà L thì theo bà N có nghĩa là bà H1, ông H2 đã bán cho
ông C, bà L 14 tấn tiêu. Còn sau đó ông C, bà L có gửi 14 tấn tiêu này lại cho bà H1,
ông H2 hay không thì bà N không biết. Bà N không biết việc mua bán, gửi tiêu giữa
ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim L đối với bị đơn ông Trần Đình H2, bà
Ngô Thị H1.
Buộc ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 trả lại cho ông Huỳnh Thanh C, bà Lê
Thị Kim L giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000 đồng/kg = 2.142.000.000đ (Hai tỷ một
trăm bốn mươi hai triệu đồng).
Ghi nhận sự thoả thuận giữa ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L và ông Trần
Đình H2, bà Ngô Thị H1. Buộc ông H2, bà H1 trả lại cho ông C, bà L giá trị 5.300kg
tiêu với giá 167.000 đồng/kg = 885.100.000đ (T4 trăm tám mươi lăm triệu một trăm
nghìn đồng).
Tổng cộng số tiến ông H2, bà H1 phải trả cho ông C, bà L là 3.027.100.000đ
(Ba tỷ không trăm hai mươi bảy truệu một trăm nghìn đồng).
2. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày
22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay là TAND Khu vực 14- thành
phố Hồ Chí Minh) về việc phong toả tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất
149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m
2
đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị
H1 để bảo đảm cho việc thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo.
- Ngày 17 tháng 9 năm 2025, ông H2, bà H1 là bị đơn nộp đơn kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án dân sự sơ
thẩm theo hướng: Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc kiện đòi 14 tấn tiêu.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 là không có căn
11
cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham
gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 trong thời hạn luật
định, bảo đảm thủ tục nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
Theo trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thấy:
Vợ chồng ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L có giao dịch mua bán, gửi tiêu cho
vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 làm nghề thu mua nông sản là chủ vựa
tiêu Hoa Hành tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành
phố Hồ Chí Minh) như sau:
- Lần 1: Vào ngày 10/5/2021, ông Huỳnh Thanh C có thỏa thuận mua 14 tấn
(14.000kg) tiêu của vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, thành tiền là
980.000.000 đồng, việc mua bán tiêu chỉ thực hiện trên giấy tờ, không giao nhận tiêu
thực tế. Bà H1, ông H2 có viết, ký tên vào giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 giao cho ông
C. Ông C cho rằng đã giao đủ tiền mua tiêu cho bà H1, ông H2 và sau khi mua tiêu
xong đã gửi toàn bộ tiêu tại vựa tiêu của bà H1, ông H2, và bà H1, ông H2 có ghi biên
nhận tiêu cho ông C nhưng lại ghi là “giấy bán tiêu”. Bị đơn bà H1, ông H2 cho rằng
ông C, bà L chưa giao tiền mua tiêu nên việc mua bán tiêu giữa hai bên không thành,
sở dĩ bà H1 viết “giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 là theo yêu cầu của ông C, bà L và
giấy mua bán này không có giá trị.
Theo lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Quốc C1 “chiều ngày
10/5/2021 ông C1 có mang tiền đến tại nhà ông C và bà L để cọc đất 01 tỷ thì thấy ông
H2 và bà H1 chờ sẵn tại nhà ông C và bà L, khi ông C1 giao tiền xong cho bà L thì bà
L có rút lại hai mươi triệu đồng, số tiền còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng
ông H2 và bà H1 ngồi đếm” (BL 113). Lời khai của ông C1 phù hợp trình bày của
nguyên đơn là hai bên đã thực hiện giao dịch mua bán tiêu ngày 10/5/2021 và bà H1,
ông H2 đã nhận đủ số tiền bán tiêu 980.000.000 đồng của ông C, bà L.
Theo nguyên đơn và những người làm chứng thì phong tục tại địa phương việc
mua bán tiêu và gửi tiêu tại các vựa tiêu tại địa phương trong đó có vựa tiêu của bà H1,
ông H2 thì khi mua bán tiêu theo hình thức mua đứt bán đoạn với nhau, nghĩa là một
bên giao tiêu và một bên giao tiền xong hai bên không cần phải làm giấy tờ, còn số
tiêu mua và gửi ngay lại vựa tiêu thì chủ vựa tiêu phải viết giấy biên nhận tiêu giao lại
cho người mua tiêu và tự ghi vào sổ. Bà H1 xác nhận vợ chồng bà H1 bán tiêu cho ông
C, bà L trên giấy tờ mà không bán tiêu trên thực tế vì việc mua bán tiêu nếu thành
công thì số tiêu này ông C, bà L sẽ gửi luôn tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 (BL 306).
Bà H1, ông H2 viết giấy bán tiêu cho ông C, bà L ngày 10/5/2021 với số lượng 14 tấn
tiêu, ông C, bà L đang giữ giấy bán tiêu này, phù hợp với việc mua bán tiêu thành công
nên không hủy giấy bán tiêu mà ông C, bà L đang giữ giấy bán tiêu này, số tiêu này
được gửi luôn tại vựa tiêu của bà H1, ông H2, phù hợp với trình bày của bà H1 nêu
trên.
12
Bà H1 và những người làm chứng xác định “giấy bán tiêu” phải có nội dung về
số lượng tiêu cần bán và giá tiêu, còn “giấy gửi tiêu” chỉ có nội dung về số lượng tiêu
cần gửi và chất lượng tiêu “dem” mà không ghi giá bán tiêu vì chưa biết thời điểm
người gửi tiêu cần bán tiêu đang gửi (BL 305). Tại Giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 do bà
H1, ông H2 viết cho ông C, bà L thì chỉ có thông tin về số lượng tiêu và chất lượng
tiêu (tiêu đầu giá), một mình chữ ký của bên người nhận gửi tiêu là bà H1, ông H2 và
giao cho ông C, bà L giữ mà không có giá tiêu, số tiền bán tiêu và không có chữ ký
của ông C, bà L, phù hợp trình bày của nguyên đơn là giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 là
việc gửi tiêu của ông C, bà L cho bà H1, ông H2, phù hợp với trình bày của người làm
chứng trực tiếp là ông Nguyễn Quốc C1 nội dung “khi ông C1 giao tiền xong cho bà L
thì bà L có rút lại hai mươi triệu đồng. Số tiền còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ
chồng ông H2 và bà H1 ngồi đếm để ông C, bà L mua tiêu của ông H2, bà H1 trữ gửi
lại tại kho của ông H2, bà H1. Sau khi hai bên đã đếm tiền đủ 980.000.000 đồng và
thỏa thuận xong thì vợ chồng ông H2, bà H1 có viết giấy tay bán tiêu và giao lại tờ
giấy cho ông C, bà L quản lý giấy bán tiêu trước sự chứng kiến của ông C1” (BL 113).
Trong nội dung chat zalo giữa bà H1 nick “Hoacdoan” và bà L, đoạn ghi âm
trao đổi giữa bà H1, ông H2 và ông C, bà L do ông C, bà L nộp cho Tòa án, bà H1,
ông H2 thừa nhận các tin nhắn và nội dung trao đổi trên là của bà H1, ông H2. Khi ông
C, bà L đề cập đến tổng số tiêu còn lại đang gửi tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 là 19,3
tấn và đề nghị bà H1, ông H2 trả tiêu thì bà H1, ông H2 không phản đối về số lượng
tiêu trên mà chỉ hứa sẽ trả đủ tiền và cấn đất để trừ nợ cho ông C, bà L. Ngoài ra bà H1
còn cho rằng số tiêu trên là của ông Lê Hùng D là anh trai của bà L và hứa hẹn cấn đất
để trừ nợ cho ông D, phù hợp với lời khai của ông D.
Tổng hợp các nội dung đã phân tích nêu trên, thể hiện việc bà H1, ông H2 viết
giấy bán tiêu cho ông C, bà L là không đúng nội dung giao dịch là gửi tiêu của ông C,
bà L cho bà H1, ông H2. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung “Giấy bán tiêu” ngày
10/5/2021 là việc sau khi ông C, bà L mua tiêu của bà H1, ông H2 xong thì ông C, bà
L đã gửi tiêu cho bà H1, ông H2 với số lượng là 14 tấn (14.000kg).
- Lần 2: Ngày 20/4/2022, ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 6,4 tấn (6.400kg)
tiêu, bà H1 có làm giấy tay cho ông C. Quá trình gửi tiêu, ông C đã bán được 1,1 tấn
(1.100kg) tiêu, số tiêu còn lại gửi cho bà H1, ông H2 là 5,3 tấn. Lần gửi tiêu này được
bà H1, ông H2 thừa nhận và đồng ý trả lại cho ông C, bà L nên ghi nhận.
[3] Về giá tiêu: Tại phiên toà sơ thẩm, hai bên đương sự thống nhất giá tiêu ngày
12/9/2025 đối với 5.300kg tiêu (tiêu đầu giá) là 167.000 đồng/kg và 14.000kg tiêu giá
153.000 đồng/kg nên ghi nhận.
[4] Đối với giao dịch gửi tiền của ông Lê Hùng D đối với ông Huỳnh Thanh C,
bà Lê Thị Kim L: Ông Lê Hùng D và ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L thống
nhất xác nhận do ông C, bà L giao dịch trực tiếp, ký giấy tờ mua bán, gửi giữ tiêu với
bà H1, ông H2, nên yêu cầu Toà án giải quyết bà H1, ông H2 có nghĩa vụ thanh toán
tiền cho ông C, bà L, sau này giữa ông D và ông C, bà L sẽ tự giải quyết với nhau đối
với số tiền ông D gửi ông C, bà L giao dịch mua bán và gửi tiêu với bà H1, ông H2.
Ông D không yêu cầu bà H1, ông H2 trả tiền cho ông D trong giao dịch mua bán và
gửi tiêu vì ông D không đứng trên giấy tờ giao dịch với bà H1, ông H2, do vậy Tòa án
không xem xét giải quyết.

13
[5] Từ nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L đối với bị đơn bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình
H2. Buộc bà H1, ông H2 trả lại cho ông C, bà L giá trị 19,3 tấn tiêu (19.3000kg), trong
đó 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg và 14.000 kg tiêu giá 153.000.000 đồng/kg, tổng
cộng là 3.027.100.000 đồng. Không chấp nhận kháng cáo của ông H2, bà H1. Giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp
khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án
nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay là TAND Khu vực 14- Thành phố Hồ Chí Minh) về
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với
thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m2 đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô
Thị H1 để bảo đảm cho việc thi hành án
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
nên bị đơn bà H1, ông H2 phải chịu án phí có giá ngạch là: 72.000.000 đồng + 2% x
(3.027.100.000 đồng - 2.000.000.000 đồng) = 92.540.000 đồng.
Án sơ thẩm giải quyết nguyên đơn không phải chịu án phí là đúng quy định, tuy
nhiên không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là chưa bảo đảm, Tòa án
cấp phúc thẩm bổ sung cho bảo đảm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà H1, ông H2 không được chấp
nhận nên bà H1, ông H2 phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ
luật dân sự; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C đối với bị
đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1.
Ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Thanh C
và bà Lê Thị Kim L tổng số tiền là 3.027.100.000 đồng (ba tỷ không trăm hai mươi
bảy triệu một trăm nghìn đồng), gồm các khoản: Giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000
đồng/kg = 2.142.000.000 đồng; giá trị 5.300kg tiêu với giá 167.000 đồng/kg =
885.100.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
14
2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay là TAND Khu
vực 14- Thành phố Hồ Chí Minh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa
tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích
11259,2m
2
đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành
phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 để bảo đảm cho việc thi
hành án.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 phải chịu 92.540.000 đồng
(chín mươi hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
3.2. Hoàn trả cho ông Huỳnh Thanh C 46.880.000 đồng (bốn mươi sáu triệu,
tám trăm tám mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000864 ngày
24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 phải
chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng đã
nộp theo biên lai thu số 0019963 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố
Hồ Chí Minh. Đã nộp đủ.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 14, TP Hồ Chí Minh;
- THADS TP Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 14, TP Hồ Chí Minh; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Văn Tâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm