Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 323/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 323/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 323/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: C khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 trả lại cho ông C, bà L 19.300kg tiêu theo giá thị trường ngày 12/9/2025, trong đó 14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg, 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg. Tổng số tiền là 3.027.100.000đ (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 323/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 02 - 2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Bà Bùi Thị Thương
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Vy - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Thị Vẹn -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (sở A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1564/2025/TLPT-
DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2026/QĐ-PT ngày
06/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1044/2026/QĐ-PT ngày
20/01/2026, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 1328/2026/TB-TA ngày
26/01/2026, Quyết định tạm ngừng phiên a số 1936/2026/QĐ-PT ngày 04/02/2026,
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2048/2026/QĐ-PT ngày 06/02/2026, Quyết
định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông C: Trịnh Thị H, sinh năm
1973; Địa chỉ: Số B L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Ngô Thị H1, sinh năm 1974 và ông Trần Đình H2, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của H1, ông H2: Luật Anh T
và luật sư Bùi Thị H3 Công ty L1 và cộng sự; địa chỉ: 6 L, phường V, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Ông T có mặt, bà H3 vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Lê Thị Kim L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Hùng D, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp P, H, Thành phố Hồ Chí
Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
4. Người làm chứng:
- Ông Trần Ngọc K, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Trần Hữu K1, sinh năm 1958 Địa chỉ: Tổ B, ấp P, H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Bà Bùi Thị Hoàng O, sinh năm 1980 Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, H, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Có mặt).
- Ông Thế T1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh. (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ D, ấp P, H, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, Q, tỉnh Lâm Đồng. (Có
mặt).
5. Người kháng cáo: Ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kin quá trình t tng gii quyết v án, nguyên đơn ông
Hunh Thanh C trình bày:
V chng ông Hunh Thanh C, Lê Th Kim L gi tiêu cho v chng Ngô
Th H1, ông Trần Đình H2 làm ngh thu mua nông sn 02 ln ti va tiêu Hoa Hành
ti p P, H, huyn X, tnh Ra - Vũng Tàu (nay H, Thành phố H Chí
Minh), như sau:
Ln 1: Ngày 10/5/2021, ông Hunh Thanh C có mua 14 tn (14.000 kg) tiêu ca
v chng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đng/kg, tng cộng 980.000.000 đng, ông
C, L đã giao đủ tin cho H1, ông H2. Sau khi mua tiêu ca H1 xong, ông C,
bà L có gi li toàn b s tiêu này ti va tiêu ca bà H1, ông H2 và bà H1 có ghi giy
nhn tiêu cho ông C, L nhưng H1 li làm giấy “Giấy bán tiêu”, v chng ông C,
bà L đang giữ giy này.
Theo phong tc mua bán tiêu tại địa phương cũng như những người làm chng là
những người nông dân trng tiêu và gi tiêu ti các va tiêu tại địa phương như ông C,
L thì khi mua tiêu đ gi li va ca H1, ông H2 thì H1, ông H2 phi viết
3
giy giao li cho ông C, L gi, còn nếu ông C, L mua tiêu ca H1, ông H2
ch v gọi mua đứt thì ông H2, H1 không cn viết giy, các nông dân khác và
các va tiêu tại địa phương đều thc hiện như vậy.
Theo tha thun gia hai bên thì tiêu ca ông C, L gi ti va tiêu ca H1,
ông H2 thì khi H1, ông H2 bán tiêu ca ông C, L cho người khác thì phi thông
qua ý kiến ca ông C, L đồng ý bán tiêu giá tiêu hay không, sau khi bán tiêu
ca ông C, L giao tin cho xong thì bà H1, ông H2 mi giy gửi tiêu này đi.
Tuy nhiên sau khi H1, ông H2 bán tiêu ca ông C, L xong cũng không báo cho
ông C, L biết không giao li tin bán tiêu cho ông C, L, do vy giy H1
viết cho ông C, bà L khi gi tiêu s ng 14 tn ti va ca bà H1, ông H2 cũng chưa
b xé b, hin giy này v chng ông C, bà L vẫn đang giữ.
Ln 2: Ngày 20/4/2022, khi ông C, L thu hoch tiêu ông C gi H1 vào tn
rẫy đ cân tiêu và ông C, L gi cho H1, ông H26,4 tn (6.400 kg) tiêu, bà H1
có làm giy tay cho ông C, bà L.
Trong quá trình gi tiêu, v chng ông C đã bán 1,1 tấn (1.100kg) tiêu, s tiêu
ông C, L còn li gi cho v chng H1, ông H2 19,3 tn (19.300kg), theo giá
tiêu ước tính hin ti khoảng 160.000 đồng/kg thì 19.300kg tiêu giá tr khong
3.088.000.000 đồng (ba t không trăm tám mươi tám triệu đồng).
Khi ông C, L nhu cu ly tiêu v để bán thì v chng H1 nói rng va
tiêu đã không còn hoạt động, v chng bà H1 đã bể n và nói rằng không có tiêu để tr
ha hn vi ông C, L s tr sau, t đó đến nay ông C, L đã nhiều ln liên h
v chng bà H1 để yêu cu tr tiêu nhưng không có kết qu.
Trong các tin nhn gia bà L và bà H1 và các đoạn ghi âm gia bà H1, ông H2
v chng ông C ông C đã giao nộp cho Toà án thì khi ông C, L đề cập, trao đổi
v 19,3 tn tiêu H1, ông H2 còn n thì H1, ông H2 đều không bt c phn
ứng hay không đồng ý v s tiêu 19,3 tn, tuy nhiên trong các bui làm vic ti Toà án
thì H1, ông H2 lại thay đổi ý kiến cho rng ch còn n ông C, L 5,3 tn tiêu.
trong các đoạn tin nhn, ghi âm trên H1 cũng đề cập đến vic cn tr 20m đất
ti B cho ông C, L nhưng ti Toà án thì H1 khai rng ch trao đổi cn tr 10m
đất là hoàn toàn không đúng sự tht.
Trong s 19,3 tn tiêu 14 tn tiêu ca ông Hùng D anh trai bà L nh v
chng ông C, bà L đứng tên để mua và gi cho bà H1, ông H2 dùm vì ông D sinh sng
tại nước M, ngun tin mua tiêu do ông C, L bán cho ông D 01 miếng đất
nhưng chưa sang tên, sau đó ông D nh ông C, L bán miếng đt này cho ông
Nguyn Quc C1 ly tiền để mua tiêu cho ông D khi mua bán tiêu, gi tiêu cho
H1 thì H1 và ông D nói chuyn với nhau qua điện thoại trao đổi thng nht
vi nhau. Do ông C, L người trc tiếp giao dch mua bán gi tiêu cho H1,
ông H2 nên trách nhiệm đối vi s tiêu gi cho H1, ông H2 ca ông C, L, sau
này gia ông C, bà L và ông D s t gii quyết với nhau đối vi s tin ông D gi ông
C, bà L để giao dch mua bán và gi tiêu.
Do đó, ông C khi kin yêu cu v chng Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 tr
li cho ông C, bà L 19.300kg tiêu theo giá th trường ngày 12/9/2025, trong đó
14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg, 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg. Tng s tin
3.027.100.000đ (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triu một trăm nghìn đồng).
4
- Quá trình t tng gii quyết v án, người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan bà
Lê Th Kim L trình bày: L đồng ý vi ý kiến và yêu cu ca ông C, không b sung
thêm ý kiến, yêu cu nào khác.
- Quá trình t tng gii quyết v án, b đơn bà Ngô Th H1 và ông Trần Đình H2
trình bày:
Vào ngày 10/5/2021, H1 tha thun bán cho v chng L, ông C 14 tn
(14.000 kg) tiêu, giá tiêu là 70.000 đng/kg và bà H1, ông H2 có làm giy bán tiêu cho
ông C, L, tuy nhiên ông C, L không giao tin mua tiêu nên vic mua bán tiêu
ngày 10/5/2021 giữa hai bên không thành, nhưng H1, ông H2 cũng không hủy giy
này nên giy bán tiêu ngày 10/5/2021 ca v chng H1 do ông C giao np cho Tòa
án không còn giá tr.
H1 ch tha nhn nhn tiêu do ông C gi vào ngày 20/4/2022 là 6,4 tn
(6.400 kg), sau đó ông C bán đi 1,1 tấn (1.100kg), còn li 5,3 tn (5.300kg) tiêu thì ông
C vn tiếp tc gi cho v chng H1. Khi gi tiêu hai bên không tha thun v giá
c, thi gian gửi và cũng không thỏa thun khi v chng bà H1 bán tiêu phi thông báo
cho ông C biết. Sau đó bà H1, ông H2 đã bán 5.300kg tiêu này.
H1 xác định đối vi khách hàng khi bán tiêu cho H1, ông H2 thì H1
làm Giy bán tiêu có thông tin v s tiêu bán, giá tiêu, tng s tiền; đối vi khách hàng
mua gi tiêu li ngay ti va tiêu cho bà H1, ông H2 (thc tế hai bên không giao
tiêu cho nhau mà ch mua và gi tiêu trên giy t) thì bà H1 s làm Giy nhn/gi tiêu
có thông tin v s tiêu gửi, tiêu đầu giá mà không có giá tiêu, s tin bán tiêu.
Tại các đoạn tin nhn zalo gia H1 nick “Hoacđoan” L và các đoạn
ghi âm do nguyên đơn nộp, H1, ông H2 không ý kiến phản đối khi ông C, L
yêu cu tr 19,3 tn tiêu H1, ông H2 nghĩ phải xem li s sách giy t thì mi
gii quyết bng hình thc cn tr đất được H1 xác nhn ch còn n ông C, L
5,3 tn tiêu mà không phi 19,3 tấn như ông C, bà L nói trong tin nhn, ghi âm.
H1 hoàn toàn không trao đi vi ông Hùng D v vic mua bán, gi gi,
thế chp s đỏ cho ông D để đảm bo cho s tiêu ông D gi cho H1, ông H2. S
trong các đoạn ghi âm, tin nhn gia H1, ông H2 v chng ông C, L nhc
đến ông D là ch liên quan đến 5,3 tn tiêu mà bà H1 tha nhn hin nay còn n ông C,
L, hoàn toàn không vic H1, ông H2 còn n ông D 14 tn tiêu. Vic H1,
ông H2 mun cn tr cho ông C, bà L 10m đất ti xã B, huyn X cũng là để cn tr 5,3
tn tiêu còn nợ, giá 10 mét đt trên ti thời điểm 2 bên trao đi (tháng 6/2024)
2.000.000.000 đồng ông D trao đổi vi L hoàn tr li cho H1
1.000.000.000 đng 5,3 tn tiêu ch giá tr khoảng 1.000.0000.000 đồng nhưng
ông C, L không đồng ý. 10 mét đất này hin nay H1 đã cấn tr n cho người
khác.
Trong các đon tin nhn, ghi âm của nguyên đơn nộp, v chng L, ông C,
H1 có đ cập đến vic cn tr 20m đất ti B nhưng vợ chng H1 ch đồng ý cn
tr 10m đất, vic cấn đất này hai bên không thành.
Nay H1, ông H2 ch đồng ý tr li cho ông C, bà L giá tr 5.300kg tiêu vi giá
theo thời điểm th trường hiện nay là 167.000 đồng/kg, không đồng ý theo yêu cu ông
C, L v vic yêu cu H1, ông H2 phi tr li giá tr 14.000kg tiêu. Đối vi tiêu
hiện đang tranh chấp H1, ông H2 đồng ý giá th trường là 153.000 đồng/kg.
5
- Người đại din theo y quyn ca b đơn bà Nguyn Th H5, ông Trần Đình H2 là bà
Nguyn Th H6 trình bày thng nht ni dung bà H5 và ông H2 trình bày.
-Ngưi có quyn lợi nghĩa vụ liên quan ông Hùng D người đại din hp
pháp ca ông D trình bày: Ông D anh rut ca Th Kim L. Do ông D sinh
sng tại nước M nên có nh ông C, bà L đứng tên dùm mt miếng đất nh ông C,
L bán đất này cho ông Nguyn Quc C1 với giá 2.000.000.000 đng, ông C1 đặt
cc s tiền 980.000.000 đồng, sau đó ông D nh ông C, L mua gi tiêu cho ông
Trần Đình H2, Ngô Th H1 - ch va tiêu Hoa Hành ti H, huyn X. Khi mua
bán và gi tiêu, gia ông D và bà H1 trao đổi với nhau qua điện thoi và thng nht
vic mua bán, gi tiêu cho nhau. C th: Vào ngày 10/5/2021, ông C thay mt ông
D tha thun mua 14 tn (14.000 kg) tiêu ca v chng H1, ông H2 vi giá 70.000
đồng/kg, tng cộng là 980.000.000 đồng, ông C đã giao đủ tin cho bà H1, ông H2. Bà
H1, ông H2 ha hn thế chp cho ông D giy chng nhn quyn s dụng đất để
đảm bo cho s tiêu ông D đã gửi nhưng vẫn không thc hin. Sau khi mua tiêu ca bà
H1 xong, ông C đã gửi li ngay toàn b s tiêu này ti va tiêu ca bà H1, ông H2 (hai
bên không giao tiêu cho nhau mà ch bán và gi tiêu trên giy t) và H1ghi giy
nhn tiêu cho ông C nhưng bà H1 li làm giấy “Giấy bán tiêu”, hiện nay v chng ông
C đang giữ giy này. Sau khi gi tiêu cho H1 thì ông C, L đều thông báo cho
ông D biết qua đin thoi. Do ông C, L giao dch trc tiếp, giy t mua bán, gi
gi tiêu vi bà H1, ông H2, nên ông D đề ngh Toà án gii quyết buc H1, ông H2
phi thanh toán tin cho ông C, L. Sau này gia ông D ông C, L s t gii
quyết với nhau đối vi s tin ông D gi ông C, bà L giao dch mua bán và gi tiêu vi
H1, ông H2. Ông D không yêu cu H1, ông H2 phi tr tin cho ông D vì ông D
không đứng trên giy t giao dch vi bà H1, ông H2.
- Ngưi làm chng ông Nguyn Quc C1 trình bày: Đầu tháng 05/2021, L
ông C có bán cho ông C1 mt mảnh đất để ly tin mua tiêu tr. Ông C1 mua li mnh
đất ca ông C L vi s tin hai t đồng (2.000.000.000đ). Ngày 09/05/2021,
ông C1 bán cho ông T3 (tim V) mt miếng đất nhn cc s tiền 200.000.00
(hai trăm triệu đồng). Ông C1 ra ngân hàng Q chi nhánh B rút tin trong tài khon
ợn thêm đứa em cho đủ s tiền 1.000.000.000đ (một t đồng). Chiu ngày
10/5/2021, ông C1 đem tiền đến ti nhà ông C và bà L để cọc đất 1.000.000.000đ (mt
t đồng) thì ông C1 thy ông H2 bà H1 ch sn ti nhà ông C L. Khi ông C1
giao tin xong cho L thì L rút lại 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). S tin
còn li bà L đã giao lại trc tiếp cho v chng ông H2 và bà H1 ngồi đếm để ông C, bà
L mua tiêu ca ông H2, H1 tr gi li ti kho ca ông H2, H1. Sau khi hai bên
đã đếm tiền đủ 980.000.000đ (chín trăm tám mươi triệu đồng) tha thun xong thì
v chng ông H2, H1 viết giy tay bán tiêu giao li t giy cho ông C, L
gi trước s chng kiến ca ông C1. Còn v giấy đặt cc tiền đất 01 bn chính nên
L chp hình lại máy điện thoại lưu gi. Còn v bn chính ông C1 đã làm mất
không còn gi li nên ch np cho tòa bn phô giấy mua bán đất gia ông C1 v
chng ông C L ngày 10/5/2021. Hin nay mảnh đất đó ông C1 đang đng tên. Ông
C1 cam đoan nhng lời khai trên đúng s tht chu trách nhim v li khai ca
mình.
- Ngưi làm chng ông Trn Hu K1 trình bày: Ông K1 là người cùng vi
ông C, L ông H2, H1, nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương,
6
ngoài ra không quan h nào với hai bên. Gia đình ông K1 nông dân trng tiêu,
mi mùa thu hoch tiêu xong bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch va tiêu tại đa
phương. Hiện nay ti H, huyn X hơn chục vựa tiêu trong đó va tiêu ca
H1, ông H2.
Ông K1 người dân sinh sng ti H, huyn X hơn 38 năm nm rt v
phong tc, mua bán tiêu tại địa phương, cụ th:
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán (theo giá
th trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu s
nhận đầy đủ tin t người mua tiêu, ch va tiêu và hai bên không cn làm bt c giy
t nào vi nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.
V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu xong
mun gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, bà H1 thai bên s tiến hành cân
tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ va tiêu s ghi 01 giy bán tiêu/gi tiêu/nhn tiêu
cho người gi tiêu, giấy này do người gi tiêu gi, còn ch va tiêu ghi vào s sách
ca h. Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi tiêu mun bán tiêu thì h đến gp ch
vựa tiêu đển và nhn tin.
Ông K1 đưc Toà án cho tham kho bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
gia bà Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo ông K1, “Giấy bán tiêu”
ngày 10/5/2021 ca Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 ông C, L ni dung
ông C, bà L mua ca bà H1, ông H2 14 tấn tiêu đã giao đủ tin cho H1, ông H2
và như ông K1 đã trình bày trên về phong tc mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua
bán tiêu giữa hai bên đã thc hin xong thì hai bên không làm bt c giy t mua bán
gì vi nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C,
L chng c cho thy ông C, L đã gửi toàn b 14 tn tiêu này li cho ông H2,
H1 thì ông H2, H1 mi viết giy này cho ông C, L gi do trình độ thiếu
hiu biết của người nông dân như ông C, bà L thì ch vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết
giy gì thì nhn giấy đó. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông C, bà L chưa
nhn tin bán tiêu do ông C, bà L gi cho H1, ông H2. Ông K1 không biết v
vic mua bán, gi tiêu gia ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Người làm chng ông Trn Ngc K trình bày: Ông K là người cùng xã vi ông
C, bà L và ông H2, bà H1, tôi cũng là người bán và gi tiêu cho bà H1, ông H2. Ông K
nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương, ngoài ra không quan hệ nào
với hai bên. Gia đình ông K nông dân trng tiêu, mi mùa thu hoch tiêu xong
bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch va tiêu tại địa phương. Ông K sinh sng ti H,
huyn X hơn 25 năm nên nắm rt rõ v phong tc, mua bán tiêu tại địa phương, cụ th:
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán (theo giá
th trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu s
nhận đầy đủ tin t người mua tiêu, ch va tiêu và hai bên không cn làm bt c giy
t nào vi nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.
7
V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu xong
mun gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì phi gi ch vựa tiêu đến
xem định “dem” (chất lượng tiêu) hai bên tha thun vi nhau nht trí cân tiêu,
sau khi cân tiêu xong ch va tiêu viết giy bán tiêu/nhn tiêu/gửi tiêu cho người gi
tiêu ch va tiêu t ghi vào s ca h. Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi tiêu
mun bán tiêu thì h đến gp ch vựa tiêu đ bán nhn tin; các ch va tiêu khi
nhn gửi tiêu không đưc t bán tiêu của người gi mà phải được s đồng ý ca người
gi tiêu mi được bán tiêu cho người khác. Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi
tiêu mun bán tiêu thì h đến gp ch vựa tiêu để bán và nhn tiền, sau đó chủ va tiêu
s ghi phía dưới giy bán tiêu/gi tiêu/nhận tiêu đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết
tiêu đã gừi thì s ghi ch “R” hoặc xé b luôn giy bán tiêu/gi tiêu/nhn tiêu.
Ông K đưc Toà án cho tham kho bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
gia Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 ông C, L. Theo ông K “Giấy bán tiêu”
trên ni dung ông C, bà L mua ca H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tin
cho H1, ông H2 như ông K đã trình bày trên về phong tc mua bán tiêu tại địa
phương thì việc mua bán tiêu giữa hai bên đã thực hin xong thì hai bên không làm bt
c giy t mua bán gì vi nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông
H2 viết cho ông C, L chng c cho thy ông C, L đã gửi toàn b 14 tn tiêu
này li cho ông H2, bà H1 thì ông H2, bà H1 mi viết giy này cho ông C, bà L gi
do trình độ thiếu hiu biết của người nông dân như ông C, bà L thì ch vựa tiêu như bà
H1, ông H2 viết giy gì thì nhn giấy đó. Theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông
C, L chưa nhận tin bán tiêu do ông C, L gi cho bà H1, ông H2 nên chưa bị xe
hay gch bỏ. Và trong trường hp này theo ông K2 biết bà H1, ông H2 đã tự ý bán hết
tiêu của người gửi trong đó ông C, L khi chưa được s đồng ý ca ông C, bà L
nên không còn tiền tiêu để tr cho ông C, L. V vic mua bán gi tiêu gia ông
C, bà L và ông H2, bà H1 thì ông K không biết.
- Ngưi làm chng Bùi Th Hoàng O trình bày: O người cùng vi
ông C, L ông H2, H1, nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương,
ngoài ra không quan h nào vi hai bên. O nông dân trng tiêu, mi mùa thu
hoch tiêu xong là bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch va tiêu tại địa phương.
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán, sau đó
ngưi mua tiêu nhận đ tiêu của người bán tiêu người bán tiêu s nhận đầy đủ tin
t người mua tiêu, ch va tiêu hai bên không cn làm bt c giy t nào vi nhau.
V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoch tiêu xong mun
gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên s tiến hành cân tiêu, tính
giá (đầu giá), sau đó ch va tiêu s ghi 01 giy bán tiêu/gi tiêu/nhận tiêu cho người
gi tiêu, giấy này do người gi tiêu gi, còn ch va tiêu ghi vào s sách ca h.
Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi tiêu mun bán tiêu thì h đến gp ch va tiêu
để bán và nhn tiền, sau đó chủ va tiêu s ghi phía dưới giy bán tiêu/gi tiêu/nhn
tiêu đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gi ts ghi ch “R” hoặc b
luôn giy bán tiêu/gi tiêu/nhn tiêu.
Tòa án cho O tham kho bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 gia
Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 ông C, L. Theo bà O, “Giấy bán tiêu” ngày
8
10/5/2021 ca bà Ngô Th H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có ni dung là ông C,
L mua ca H1, ông H2 14 tấn tiêu đã giao đ tin cho bà H1, ông H2 như
O đã trình bày trên v phong tc mua bán tiêu tại địa phương tviệc mua bán tiêu
giữa hai bên đã thực hin xong thì hai bên không làm bt c giy t mua bán vi
nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do H1, ông H2 viết cho ông C, L
là chng c cho thy ông C, bà L đã gửi toàn b 14 tn tiêu này li cho ông H2, bà H1
thì ông H2, H1 mi viết giy này cho ông C, bà L do trình độ thiếu hiu biết ca
người nông dân như ông C, L thì ch vựa tiêu như H1, ông H2 viết giy thì
nhn giấy đó, nay xảy ra tranh chp mi biết. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021
thì ông C, L chưa nhận tin bán tiêu do ông C, L gi cho H1, ông H2.
không biết vic mua bán, gi tiêu gia ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Ngưi làm chng ông Thế T1 trình bày: Ông T1 người cùng vi ông
C, bà L ông H2, H1, nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương,
ngoài ra không quan h nào với hai bên. Gia đình ông T1 nông dân trng tiêu,
mi mùa thu hoch tiêu xong bán tiêu cho các ch vựa tiêu trong đó va H1,
ông H2 nhưng chưa bao giờ gi tiêu cho bà H1, ông H2.
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán, sau đó
ngưi mua tiêu nhận đ tiêu của người bán tiêu người bán tiêu s nhận đầy đủ tin
t người mua tiêu, ch va tiêu hai bên mua bán xong thì không cn làm bt c
giy t nào vi nhau. Ch trường hp khi hai bên còn n tin mua bán tiêu vi nhau thì
mi làm giy mua bán tiêu cho nhau. V phong tc gi tiêu tại địa phương: Ông T1
chưa bao giờ gi tiêu nên không nắm được.
Ông T1 tham kho bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa Ngô Th
H1, ông Trn Đình H2 ông C, L nhưng không đánh giá đưc Giy bán tiêu trên
và không biết gì v vic mua bán, gi tiêu gia ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Ngưi làm chng Nguyn Th Thu H4 trình bày: H4 người cùng
vi ông C, bà L ông H2, H1. H4 người mua bán, gi tiêu khoảng 20 năm
nay vi bà H1, ông H2 và nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương, ngoài
ra không quan h nào với hai bên. Gia đình H4 nông dân trng tiêu, mi mùa
thu hoch tiêu xong H4 bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch vựa tiêu trong đó
va bà H1, ông H2.
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán, sau đó
ngưi mua tiêu nhận đ tiêu của người bán tiêu người bán tiêu s nhận đầy đủ tin
t người mua tiêu, ch va tiêu hai bên mua bán xong thì không cn làm bt c
giy t nào vi nhau. Ch trường hp khi hai bên gi tiêu cho nhau thì mi làm giy
“nhận tiêu” với nhau.
V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu xong
mun gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, bà H1 thai bên s tiến hành cân
tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ va tiêu s ghi 01 giy gi tiêu/nhận tiêu cho người
gi tiêu, giấy này do người gi tiêu gi, còn ch va tiêu ghi vào s sách ca h.
9
Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi tiêu mun bán tiêu thì h đến gp ch va tiêu
để bán nhn tiền, sau đó chủ va tiêu s ghi phía dưới giy gi tiêu/nhận tiêu đã
bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì s ghi ch “R” hoặc xé b luôn giy gi
tiêu/nhn tiêu.
Theo H4 thì “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa NTh H1, ông Trn
Đình H2 ông C, bà L nghĩa là bà H1, ông H2 đã bán cho ông C, bà L 14 tn tiêu
nhưng giao dịch có thành công không thì bà H4 không biết. Còn sau đó ông C, bà L có
gi 14 tn tiêu này li cho H1, ông H2 hay không thì H4 không biết. H4
không biết gì v vic mua bán, gi tiêu gia ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Ngưi làm chng ông Nguyễn Đình T2 trình bày: Ông T2 là người cùng
vi ông C, L ông H2, H1. Ông T2 người gi tiêu khoảng 20 năm nay với
H1, ông H2 nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương, ngoài ra
không quan h nào với hai bên. Gia đình ông T2 nông dân trng tiêu, mi mùa
thu hoch tiêu xong bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch vựa tiêu trong đó va
H1, ông H2.
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán, sau đó
ngưi mua tiêu nhận đ tiêu của người bán tiêu người bán tiêu s nhận đầy đủ tin
t người mua tiêu, ch va tiêu hai bên mua bán xong thì không cn làm bt c
giy t nào vi nhau.
V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu xong
mun gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, bà H1 thai bên s tiến hành cân
tiêu, tính kg tiêu, sau đó chủ va tiêu s ghi vào s ngưi gi tiêu, còn ch va tiêu ghi
vào s sách ca h. Trong quá trình gi tiêu, nếu người gi tiêu mun bán tiêu thì h
đến gp ch vựa tiêu để bán và nhn tiền, sau đó chủ va tiêu s ghi phía dưới giy gi
tiêu/nhận tiêu đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gi thì s ghi ch “R” hoặc
xé b luôn giy gi tiêu/nhn tiêu.
Ông T2 không đánh giá được “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 gia Ngô Th
H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Ông T2 cũng không biết vic mua bán, gi tiêu
gia ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Ngưi làm chng Nguyn Th N trình bày: N người cùng vi ông
C, bà L và ông H2, bà H1. Bà N người mua bán, gi tiêu khoảng 20 năm nay với
H1, ông H2 nắm được phong tc mua bán, gi tiêu tại địa phương, ngoài ra không
quan h nào vi hai bên. Bà N nông dân trng tiêu, mi mùa thu hoch tiêu xong
là bán tiêu hoc gi tiêu cho các ch vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2.
V phong tc mua bán tiêu tại địa phương: Khi ngưi nông dân thu hoch tiêu
xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoc các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì
hai bên s trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu ti thời điểm bán, sau đó
ngưi mua tiêu nhận đ tiêu của người bán tiêu người bán tiêu s nhận đầy đủ tin
t người mua tiêu, ch va tiêu hai bên mua bán xong thì không cn làm bt c
giy t nào vi nhau. Ch trường hp khi hai bên còn n tin mua bán tiêu thì mi làm
giy vi nhau. V phong tc gi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoch
tiêu xong mun gi tiêu cho các ch vựa tiêu như ông H2, H1 thì hai bên s tiến
10
hành cân tiêu (có th mua tại vườn tiêu), khi nào bán thì s tính giá ti thời điểm đó,
sau đó chủ va tiêu s ghi 01 giy gi tiêu/nhận tiêu cho người gi tiêu, giy này do
ngưi gi tiêu gi, còn ch va tiêu ghi vào s sách ca h. Trong quá trình gi tiêu,
nếu người gi tiêu mun bán tiêu thì h đến gp ch vựa tiêu để bán nhn tin, sau
đó chủ va tiêu s ghi phía dưới giy gi tiêu/nhận tiêu đã bán bao nhiêu tiêu, nếu
bán hết tiêu đã gừi thì s ghi ch “R” (ri) hoc xé b luôn giy gi tiêu/nhn tiêu.
Bà N tham kho bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 gia bà Ngô Th H1,
ông Trần Đình H2 ông C, L thì theo N có nghĩa H1, ông H2 đã bán cho
ông C, L 14 tấn tiêu. Còn sau đó ông C, L gi 14 tn tiêu này li cho H1,
ông H2 hay không thì N không biết. N không biết vic mua bán, gi tiêu gia
ông C, bà L và ông H2, bà H1.
- Tại bản án dân sự thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim L đối với bị đơn ông Trần Đình H2,
Ngô Thị H1.
Buộc ông Trần Đình H2, Ngô Thị H1 trả lại cho ông Huỳnh Thanh C,
Thị Kim L giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000 đồng/kg = 2.142.000.000đ (Hai tỷ một
trăm bốn mươi hai triệu đồng).
Ghi nhận sự thoả thuận giữa ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim Lông Trần
Đình H2, Ngô Thị H1. Buộc ông H2, H1 trả lại cho ông C, L giá trị 5.300kg
tiêu với giá 167.000 đồng/kg = 885.100.000đ (T4 trăm tám mươi lăm triệu một trăm
nghìn đồng).
Tổng cộng số tiến ông H2, H1 phải trả cho ông C, L 3.027.100.000đ
(Ba tỷ không trăm hai mươi bảy truệu một trăm nghìn đồng).
2. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày
22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay TAND Khu vực 14- thành
phố Hồ Chí Minh) về việc phong toả tài sản của người nghĩa vụ đối với thửa đất
149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m
2
đất CLN tại H, huyện X, tỉnh Rịa -
Vũng Tàu (nay H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, Ngô Thị
H1 để bảo đảm cho việc thi hành án.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí
quyền kháng cáo.
- Ngày 17 tháng 9 năm 2025, ông H2, H1 b đơn nộp đơn kháng cáo một
phn bản án thẩm, yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết: Sa bn án dân s
thẩm theo hướng: Không chp nhn mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn v
vic kin đòi 14 tấn tiêu.
- Ti phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cu khi kin, b đơn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương s không t tha thuận được vi nhau v vic
gii quyết v án và không cung cp tài liu, chng c mi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2, Ngô Thị H1 không căn
11
cứ, đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham
gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Đình H2, Ngô Thị H1 trong thời hạn luật
định, bảo đảm thủ tục nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
Theo trình bày của các đương sự tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, thấy:
Vợ chồng ông Huỳnh Thanh C, Thị Kim L giao dịch mua bán, gửi tiêu cho
vợ chồng Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 làm nghề thu mua nông sản chủ vựa
tiêu Hoa Hành tại ấp P, H, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là H, thành
phố Hồ Chí Minh) như sau:
- Lần 1: Vào ngày 10/5/2021, ông Huỳnh Thanh C thỏa thuận mua 14 tấn
(14.000kg) tiêu của vợ chồng H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, thành tiền
980.000.000 đồng, việc mua bán tiêu chỉ thực hiện trên giấy tờ, không giao nhận tiêu
thực tế. H1, ông H2 viết, tên vào giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 giao cho ông
C. Ông C cho rằng đã giao đủ tiền mua tiêu cho H1, ông H2 sau khi mua tiêu
xong đã gửi toàn bộ tiêu tại vựa tiêu của H1, ông H2, và H1, ông H2ghi biên
nhận tiêu cho ông C nhưng lại ghi “giấy bán tiêu”. Bị đơn H1, ông H2 cho rằng
ông C, L chưa giao tiền mua tiêu nên việc mua bán tiêu giữa hai bên không thành,
sở H1 viết “giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 theo yêu cầu của ông C, L
giấy mua bán này không có giá trị.
Theo lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Quốc C1 “chiều ngày
10/5/2021 ông C1 có mang tiền đến tại nhà ông C và bà L để cọc đất 01 tỷ thì thấy ông
H2H1 chờ sẵn tại nhà ông C và bà L, khi ông C1 giao tiền xong cho L thì bà
L rút lại hai mươi triệu đồng, số tiền còn lại L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng
ông H2 H1 ngồi đếm” (BL 113). Lời khai của ông C1 phợp trình bày của
nguyên đơn là hai bên đã thực hiện giao dịch mua bán tiêu ngày 10/5/2021 H1,
ông H2 đã nhận đủ số tiền bán tiêu 980.000.000 đồng của ông C, bà L.
Theo nguyên đơn và những người làm chứng thì phong tục tại địa phương việc
mua bán tiêu và gửi tiêu tại các vựa tiêu tại địa phương trong đó có vựa tiêu của bà H1,
ông H2 thì khi mua bán tiêu theo hình thức mua đứt bán đoạn với nhau, nghĩa là một
bên giao tiêu một bên giao tiền xong hai bên không cần phải làm giấy tờ, còn số
tiêu mua và gửi ngay lại vựa tiêu thì chủ vựa tiêu phải viết giấy biên nhận tiêu giao lại
cho người mua tiêu và tự ghi vào sổ. Bà H1 xác nhận vợ chồng bà H1 bán tiêu cho ông
C, L trên giấy tờ không bán tiêu trên thực tế việc mua bán tiêu nếu thành
công thì số tiêu này ông C, L sẽ gửi luôn tại vựa tiêu của H1, ông H2 (BL 306).
H1, ông H2 viết giấy bán tiêu cho ông C, L ngày 10/5/2021 với số lượng 14 tấn
tiêu, ông C, bà L đang giữ giấy bán tiêu này, phù hợp với việc mua bán tiêu thành công
nên không hủy giấy bán tiêu ông C, L đang giữ giấy bán tiêu này, số tiêu này
được gửi luôn tại vựa tiêu của H1, ông H2, phù hợp với trình bày của H1 u
trên.
12
H1 những người làm chứng xác định “giấy bán tiêu” phải nội dung về
số lượng tiêu cần bán giá tiêu, còn “giấy gửi tiêu” chỉ nội dung về số lượng tiêu
cần gửi chất lượng tiêu “dem” không ghi giá bán tiêu vì chưa biết thời điểm
người gửi tiêu cần bán tiêu đang gửi (BL 305). Tại Giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 do
H1, ông H2 viết cho ông C, L thì chỉ thông tin về số lượng tiêu và chất lượng
tiêu (tiêu đầu giá), một mình chữ của bên người nhận gửi tiêu H1, ông H2
giao cho ông C, L giữ không giá tiêu, số tiền bán tiêu không chữ
của ông C, L, phù hợp trình bày của nguyên đơn là giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 là
việc gửi tiêu của ông C, L cho H1, ông H2, phù hợp với trình bày của người làm
chứng trực tiếp là ông Nguyễn Quốc C1 nội dung “khi ông C1 giao tiền xong cho bà L
thì L rút lại hai mươi triệu đồng. Số tiền còn lại L đã giao lại trực tiếp cho vợ
chồng ông H2 H1 ngồi đếm để ông C, bà L mua tiêu của ông H2, bà H1 trữ gửi
lại tại kho của ông H2, H1. Sau khi hai bên đã đếm tiền đủ 980.000.000 đồng
thỏa thuận xong thì vợ chồng ông H2, bà H1 viết giấy tay bán tiêu giao lại tờ
giấy cho ông C, bà L quản lý giấy bán tiêu trước sự chứng kiến của ông C1” (BL 113).
Trong nội dung chat zalo giữa H1 nick “Hoacdoan” L, đoạn ghi âm
trao đổi giữa H1, ông H2 ông C, bà L do ông C, L nộp cho Tòa án, H1,
ông H2 thừa nhận các tin nhắn và nội dung trao đổi trên là của bà H1, ông H2. Khi ông
C, bà L đề cập đến tổng số tiêu còn lại đang gửi tại vựa tiêu của bà H1, ông H219,3
tấn đnghị H1, ông H2 trả tiêu thì H1, ông H2 không phản đối về số lượng
tiêu trên mà chỉ hứa sẽ trả đủ tiền và cấn đất để trừ nợ cho ông C, bà L. Ngoài ra bà H1
còn cho rằng số tiêu trên là của ông Lê Hùng D anh trai của bà L và hứa hẹn cấn đất
để trừ nợ cho ông D, phù hợp với lời khai của ông D.
Tổng hợp các nội dung đã phân tích nêu trên, thể hiện việc H1, ông H2 viết
giấy bán tiêu cho ông C, bà L không đúng nội dung giao dịch gửi tiêu của ông C,
L cho bà H1, ông H2. Do vậy, căn cứ xác định nội dung “Giấy bán tiêu” ngày
10/5/2021 việc sau khi ông C, L mua tiêu của H1, ông H2 xong thì ông C,
L đã gửi tiêu cho bà H1, ông H2 với số lượng là 14 tấn (14.000kg).
- Lần 2: Ngày 20/4/2022, ông C, L gửi cho H1, ông H2 6,4 tấn (6.400kg)
tiêu, H1 làm giấy tay cho ông C. Quá trình gửi tiêu, ông C đã bán được 1,1 tấn
(1.100kg) tiêu, số tiêu còn lại gửi cho H1, ông H2 5,3 tấn. Lần gửi tiêu này được
H1, ông H2 thừa nhận và đồng ý trả lại cho ông C, bà L nên ghi nhận.
[3] Về giá tiêu: Tại phiên toà sơ thẩm, hai bên đương sự thống nhất giá tiêu ngày
12/9/2025 đối với 5.300kg tiêu (tiêu đầu giá) 167.000 đồng/kg 14.000kg tiêu g
153.000 đồng/kg nên ghi nhận.
[4] Đối với giao dịch gửi tiền của ông Hùng D đối với ông Huỳnh Thanh C,
Thị Kim L: Ông Hùng D ông Huỳnh Thanh C, Thị Kim L thống
nhất xác nhận do ông C, bà L giao dịch trực tiếp, giấy tờ mua bán, gửi giữ tiêu với
H1, ông H2, nên yêu cầu Toà án giải quyết H1, ông H2 nghĩa vụ thanh toán
tiền cho ông C, L, sau này giữa ông D ông C, L sẽ tự giải quyết với nhau đối
với số tiền ông D gửi ông C, L giao dịch mua bán và gửi tiêu với H1, ông H2.
Ông D không yêu cầu H1, ông H2 trả tiền cho ông D trong giao dịch mua bán
gửi tiêu ông D không đứng trên giấy tờ giao dịch với bà H1, ông H2, do vậy Tòa án
không xem xét giải quyết.
13
[5] Từ nhận định trên, căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Huỳnh Thanh C, Thị Kim L đối với bị đơn Ngô Thị H1, ông Trần Đình
H2. Buộc bà H1, ông H2 trả lại cho ông C, bà L giá trị 19,3 tấn tiêu (19.3000kg), trong
đó 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg 14.000 kg tiêu giá 153.000.000 đồng/kg, tổng
cộng 3.027.100.000 đồng. Không chấp nhận kháng cáo của ông H2, bà H1. Giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp
khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án
nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay là TAND Khu vực 14- Thành phố Hồ Chí Minh) về
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người nghĩa vụ đối với
thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m2 đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu (nay xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, Ngô
Thị H1 để bảo đảm cho việc thi hành án
[7] Án phí dân sthẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
nên bị đơn bà H1, ông H2 phải chịu án phí giá ngạch là: 72.000.000 đồng + 2% x
(3.027.100.000 đồng - 2.000.000.000 đồng) = 92.540.000 đồng.
Án sơ thẩm giải quyết nguyên đơn không phải chịu án phí đúng quy định, tuy
nhiên không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là chưa bảo đảm, Tòa án
cấp phúc thẩm bổ sung cho bảo đảm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của H1, ông H2 không được chấp
nhận nên bà H1, ông H2 phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2 NThị H1.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ
luật dân sự; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C đối với bị
đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1.
Ông Trần Đình H2 Ngô Thị H1 nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Thanh C
Thị Kim L tổng số tiền 3.027.100.000 đồng (ba tỷ không trăm hai mươi
bảy triệu một trăm nghìn đồng), gồm các khoản: Giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000
đồng/kg = 2.142.000.000 đồng; giá trị 5.300kg tiêu với giá 167.000 đồng/kg =
885.100.000 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
14
2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc (nay TAND Khu
vực 14- Thành phố Hồ Chí Minh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa
tài sản của người nghĩa vụ đối với thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích
11259,2m
2
đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay H, thành
phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 để bảo đảm cho việc thi
hành án.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bị đơn ông Trần Đình H2 Ngô Thị H1 phải chịu 92.540.000 đồng
(chín mươi hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
3.2. Hoàn trả cho ông Huỳnh Thanh C 46.880.000 đồng (bốn mươi sáu triệu,
tám trăm tám mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000864 ngày
24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Đình H2 Ngô Thị H1 phải
chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng đã
nộp theo biên lai thu số 0019963 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố
Hồ Chí Minh. Đã nộp đủ.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 14, TP Hồ Chí Minh;
- THADS TP Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 14, TP Hồ Chí Minh; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Văn Tâm
Tải về
Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 323/2026/DS-PT Bản án số 323/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất