Bản án số 166/2026/DS-PT ngày 26/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 166/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 166/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 166/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 166/2026/DS-PT ngày 26/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 166/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | bà N yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn H1, ông Nguyễn Tân T, ông Nguyễn Đắc D, ông Thái Trọng Đ1, ông Cao Quí B và ông Nguyễn Thiền Đ có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm các khoản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 166/2026/DS-PT
Ngày: 26-02-2026
V/v “Tranh chấp bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tn Li
Các Thẩm phán: Bà Kiều Kim Xuân
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Hồng Chi - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29/01/2026 và ngày 26/02/2026 tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
695/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1800/2025/QĐ-PT
ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Lê Thị N, sinh năm 1962;
1.2. Nguyễn Thị P, sinh năm 1950;
Cùng địa chỉ: tổ E, p L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là p L, xã
L, tỉnh Đồng Tháp Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P: Chị
Nguyễn Bảo H, sinh năm 1985 (có mặt); Địa chỉ: số A, N, phường H, thành phố
C , tỉnh Đồng Tháp (nay là số A, N, phường C, tỉnh Đồng Tháp), (theo văn bản
ủy quyền ngày 31/10/2023 và ngày 10/6/2024).
2. B đơn:
2
2.1. Nguyễn Minh C, sinh năm 1941 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: tổ C, p P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (nay là tổ C, p P, xã P,
tỉnh An Giang);
2.2. Phạm Văn H1, sinh năm 1955 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là Khóm L,
phường T, tỉnh An Giang);
2.3. Nguyễn Thiền Đ, sinh năm 1967 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
2.4. Thái Trọng Đ1, sinh năm 1966 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
2.5. Nguyễn Tân T, sinh năm 1960 (chết năm 2024);
2.6. Nguyễn Đắc D, sinh năm 1962;
2.7. Cao Quí B, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là p L, xã L,
tỉnh Đồng Tháp Tháp).
2.8. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1943;
Địa chỉ: Khóm T, thị trn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là p T, xã T,
tỉnh Đồng Tháp);
Người đại diện theo quyền của bị đơn ông Nguyễn Đắc D, ông Cao Quí B
và bà Nguyễn Thị T1: Ông Hồ Thanh H2, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn yêu
cầu xét xử vắng mặt); Địa chỉ: Khóm T, thị trn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp
(nay là p T, xã T, tỉnh Đồng Tháp), (theo Văn bản ủy quyền ngày 17/11/2024).
4. Người kháng cáo: Bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P là nguyên đơn
trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Th N ủy quyền cho ch Nguyễn Bảo H đại diện
trình bày: Căn cứ vào Bản án dân sự phúc thẩm số: 357/2022/DS-PT ngày 10
tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc “Tranh chấp tài
sản chung của dòng họ,…”. Cũng theo Thông báo số 10/TB-THADS ngày
21/7/2023 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện H về
việc từ chối nhận yêu cầu Thi hành án “Sau khi xem xét nội dung yêu cầu: Chi
cục THADS huyện H nhận thy, đơn yêu cầu bồi thường tiền của bà Lê Thị N
không nộp Bản án, Quyết định và các tài liệu khác có liên quan để làm căn cứ.
Vì vậy, Chi cục THADS huyện H, tỉnh Đồng Tháp không thụ l yêu cầu của
bà”. Theo nội dung Bản án thì bà N có quyền yêu cầu bồi thường khi bà phải
giao tài sản cho nguyên đơn.
Từ những căn cứ nêu trên, nay bà N yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà
Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn H1, ông Nguyễn Tân T, ông Nguyễn Đắc D, ông
Thái Trọng Đ1, ông Cao Quí B và ông Nguyễn Thiền Đ có trách nhiệm liên đới
3
bồi thường thiệt hại ngoài hp đồng gồm các khoản:
- Tiền mua đt để xây nhà ở có diện tích khoảng 200m
2
tại p L, xã L,
huyện H, tỉnh Đồng Tháp, giá trị thị trường khoảng 500.000.000 đồng, yêu cầu
bồi thường 50% giá trị là 250.000.000 đồng.
- Yêu cầu bồi thường số tiền tu bổ nhà thờ, xây dựng nhà bếp là
285.000.000 đồng. Trong đó:
+ Tu bổ nhà thờ xây tường đứng diện tích: 51m
2
x 500.000đ/m
2
=
25.500.000 đồng.
+ Xây dựng nhà bếp diện tích: 130m
2
x 2.000.000đ/m
2
= 260.000.000
đồng.
- Yêu cầu bồi thường tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm làm
đường ống nước là 220.480.000 đồng. Trong đó:
+ Tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm, làm đường ống nước (từ
năm 1998 cho đến nay) gồm 03 cái ao: 02 ao lớn, mỗi ao có diện tích: ngang
20m x dài 80m = 1.600m
2
, sâu 3m = 4.800m
3
x 02 ao = 9.600m
3
; 01 ao nhỏ có
diện tích: ngang 12m x dài 18m = 216m
2
, sâu 2m = 432m
3
. Tiền công đào ao cá
theo giá thuê máy Kobe là: 15.000 đồng cho 01m
3
: Số tiền công ao lớn: 9.600m
3
x 15.000đ/m
3
= 144.000.000 đồng, số tiền công ao nhỏ: 432m
3
x 15.000đ/m
3
=
6.480.000 đồng. Cộng số tiền công đào 03 ao là: 150.480.000 đồng;
+ Tiền thi công đường ống nước là 46.000.000 đồng (gồm tiền mua ống
nhựa đường kính 10cm, dài 600m, giá 60.000 đồng/m, thành tiền 36.000.000
đồng; tiền công khoan và thi công lắp đường ống là 10.000.000 đồng);
+ Các công trình phụ là 24.000.000 đồng (gồm tiền mua 02 mô tơ bơm
nước 6.000.000 đồng, mua dây điện 1.200m, giá 10.000 đồng/m, công lắp đặt
mô tơ và dây điện là 11.600.000 đồng).
Tổng số tiền bà N yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông
Phạm Văn H1, ông Nguyễn Tân T, ông Nguyễn Đắc D, ông Thái Trọng Đ1, ông
Cao Quí B và ông Nguyễn Thiền Đ có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại
ngoài hp đồng gồm các khoản nêu trên là: 755.480.000 đồng.
Bà N yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn
H1, ông Nguyễn Tân T, ông Nguyễn Đắc D, ông Thái Trọng Đ1, ông Cao Quí B
và ông Nguyễn Thiền Đ có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí bốc mộ, cải
táng các phần mộ trên đt giao cho các bị đơn gồm:
- Mộ của ba mẹ chồng bà N là ông Nguyễn Phước S, bà Nguyễn Thị D1
gồm: Tiền công bốc mộ 20.000.000 đồng, tiền công di dời 5.000.000 đồng, tiền
quan tài (hòm) 2.000.000 đồng, tiền mua nền đt chôn hài cốt 40.000.000 đồng,
tổng cộng là 67.000.000đ (Sáu mươi bảy triệu đồng).
- Mộ chồng bà N là ông Nguyễn Bảo T2 gồm: Tiền công bốc mộ
10.000.000 đồng, tiền công di dời 5.000.000 đồng, tiền quan tài (hòm) 1.000.000
4
đồng, tiền mua nền đt chôn hài cốt 20.000.000 đồng, tổng cộng là 36.000.000đ
(Ba mươi sáu triệu đồng).
- Mộ của anh, chị chồng bà N là Nguyễn Thị Bảo L, ông Lâm Lập H3
gồm: Tiền công bốc mộ 20.000.000 đồng, tiền công di dời 5.000.000 đồng, tiền
quan tài (hòm) 2.000.000 đồng, tiền mua nền đt chôn hài cốt 40.000.000 đồng,
tổng cộng là 67.000.000đ (Sáu mươi bảy triệu đồng).
- Mộ của ông cồ, bà cồ của gia đình bà N là Nguyễn Hàm N1, Trang Thị
Đ2, Nguyễn Thị T3 gồm: Tiền công bốc mộ 30.000.000 đồng, tiền công di dời
5.000.000 đồng, tiền quan tài (hòm) 3.000.000 đồng, tiền mua nền đt chôn hài
cốt 60.000.000 đồng, tổng cộng là 98.000.000đ (Chín mươi tám triệu đồng).
- Nguyên đơn bà Nguyễn Th P ủy quyền cho ch Nguyễn Bảo H đại
diện trình bày: Theo bản án phúc thẩm số 357/2022/DS-PT ngày 10/8/2022 “Về
việc tranh chấp tài sản chung dòng họ và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”
của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Theo nội dung Bản án phúc thẩm buộc bà
Lê Thị N và bà Nguyễn Bảo H giao các thửa đt số 444, 445, 448 và một phần
thửa 447, tờ bản đồ số 17, diện tích đt 3.537,2 m², đt tọa lạc tại xã L, huyện H,
tỉnh Đồng Tháp cho các ông bà gồm: Nguyễn Minh C, Nguyễn Thị T1, Phạm
Văn H1, Nguyễn Thiên Đ3, Cao Qui B1, Thái Trọng Đ1, Nguyễn Đắc D và
Nguyễn Tân T. Trên các thửa đt bà N đang sử dụng bị Tòa án giao cho các ông,
bà: Nguyễn Minh C, Nguyễn Thị T1, Phạm Văn H1, Nguyễn Thiên Đ3, Cao Quí
B, Thái Trọng Đ1, Nguyễn Đắc D và Nguyễn Tân T tiếp tục sử dụng hiện có
ngôi mộ của chồng bà P là ông Nguyễn Phước L1, sinh năm 1943, chết năm
1987. Ngôi mộ này do bà P lập vào ngày 17/02/2015 và quản l, tu bổ hàng năm
từ đó cho đến ngày hôm nay.
Nay bà P yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn
H1, ông Nguyễn Thiên Đ3, ông Cao Qui B1, ông Thái Trọng Đ1, ông Nguyễn
Đắc D và ông Nguyễn Tân T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà tiền
bốc mộ, cải táng phần mộ của chồng bà. Các chi phí gồm:
- Tiền công đào mộ: 10.000.000 đồng.
- Tiền công di dời: 5.000.000 đồng.
- Mua hòm: 1.000.000 đồng.
- Tiền mua nền đt chôn hài cốt: 20.000.000 đồng.
Tổng là: 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).
- B đơn bà Nguyễn Th T1, ông Cao Quí B, ông Nguyễn Đắc D ủy
quyền cho ông Hồ Thanh H2 đại diện trình bày: Bà T1, ông B, ông D có nhận
đưc thông báo thụ l của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự về việc bà Lê Thị
N yêu cầu ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn H1, ông
Nguyễn Tân T, ông Nguyễn Đắc D, ông Thái Trọng Đ1, ông Cao Quí B và ông
Nguyễn Thiền Đ có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hp đồng
5
gồm các khoản:
- Tiền mua đt để xây dựng nhà có diện tích khoảng 200m
2
, tọa lạc tại p
L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, yêu cầu bồi thường 250.000.000 đồng.
- Yêu cầu bồi thường số tiền tu bổ nhà thờ, xây dựng nhà bếp là
285.000.000 đồng.
- Yêu cầu bồi thường tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm, làm
đường ống nước số tiền 220.480.000 đồng.
Bà T1, ông B, ông D không đồng đối với các yêu cầu của bà Lê Thị N,
cụ thể như sau:
- Bà N yêu cầu bồi thường số tiền mua đt xây nhà là 250.000.000 đồng là
không có cơ sở, vì bà T1, ông B, ông D không có gây thiệt hại gì cho bà N về
nhà ở, không có trách nhiệm phải lo nền nhà chỗ ở cho bà N, nên không có
nghĩa vụ phải bồi thường cho bà N, việc bà N yêu cầu bồi thường chỗ ở cho bà
là không có căn cứ.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền tu bổ nhà thờ, xây dựng nhà bếp là
285.000.000 đồng, không đồng vì:
+ Về số tiền tu bổ phủ thờ là do tộc họ Nguyễn đưa cho ông Tám T4
(chồng bà N) và bà N nhận, có biên nhận k tên của ông T4 và bà N thể hiện từ
ngày 25/12/2005 đến ngày 02/02/2013.
+ Ngày 14/02/2001, T5 họ Nguyễn họp “Ban Quản tộc mở rộng phủ thờ
tộc họ Nguyễn”, có nội dung: Tộc họ Nguyễn thống N2 cùng nhau xây nhà bếp,
số tiền xây nhà bếp là của tộc họ Nguyễn không phải của bà N.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm,
làm đường ống nước số tiền 220.480.000 đồng, không đồng vì:
+ Ngày 16/4/2006, ông Nguyễn Minh C (là phó tộc họ N3) đại diện tộc họ
N3 cho bà Nguyễn Thị P thuê đt để làm rẫy, bà P trả tiền thuê là một con heo
để cúng (đám giỗ Ông). Sau này tộc họ Nguyễn biết đưc bà P ly thửa đt đã
thuê để đào ao nuôi cá, không thông qua tộc họ N3. Do đó, bà N yêu cầu trả tiền
đào ao là không có căn cứ, vì ao là do bà P đào, không phải bà N đào. Khi cho
bà P thuê thì cho thuê một thửa đt rẫy (khoảng 5.000m
2
)
, sau đó ly lại khoảng
1.000m
2
chuyển nhưng lại cho Trường tiểu học L2 xây trường học, còn khoảng
4.000m
2
thì bà P đào ao, không thông qua tộc họ N3, các bị đơn sẽ làm đơn yêu
cầu người đào ao khắc phục lại tình trạng ban đầu nộp cho Tòa án sau.
+ Tiền tôn tạo để phần đt có giá trị, đối với yêu cầu này của bà N là
không có căn cứ, vì gia đình bà N không có tôn tạo, cũng như làm cho phần đt
tốt hơn, có giá trị. Gia đình bà N hàng năm thu hoa li (cây ăn trái, bán gỗ cây
cổ thụ) từ việc trông coi phủ thờ. Đối với số tiền này các bị đơn sẽ trao đổi về
việc có phản tố yêu cầu bà N trả lại tiền đã sử dụng khai thác phần đt từ trước
đến nay hay không, nếu có phản tố sẽ nộp đơn cho Tòa án sau.
6
+ Về tiền đầu tư đường dây ống nước, ai đầu tư tộc họ N3 không biết, ống
nước tộc họ Nguyễn không có sử dụng, các bị đơn không có nghĩa vụ phải bồi
thường, sẽ làm đơn yêu cầu di dời ra khỏi phần đt của tộc họ N3.
+ Đối với yêu cầu chi phí cải táng di mộ của bà P, bà N thì các bị đơn
không thống nht toàn bộ, vì hiện nay các bị đơn không có tranh chp gì đối với
mồ mã của ông bà chôn trên phần đt đưc giao cho các bị đơn, không yêu cầu
bốc mộ cũng có hành vi xâm phạm mồ mã gây thiệt hại nên không có nghĩa vụ
bồi thường.
Bị đơn ông Nguyễn Thiền Đ, ông Phạm Văn H1, ông Nguyễn Minh Công
trình B2: Không thống nht toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ
thẩm) đã xử:
1. Không chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị P
về việc tranh chp bồi thường thiệt hại ngoài hp đồng.
2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà
Lê Thị N, bà Nguyễn Thị P, do chị Nguyễn Bảo H đại diện đã rút yêu cầu khởi
kiện đối với ông Nguyễn Tân T.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P đưc miễn
án phí.
4. Về chi phí tố tụng khác: Bà Lê Thị N phải chịu 5.748.000đ (năm triệu
bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng) chi phí thẩm định và định giá, bà N và bà P
liên đới chịu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) chi phí thẩm định, đã nộp và
chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P nộp
đơn kháng cáo đề ngày 22/8/2025 vào ngày 27/8/2025, có nội dung thể hiện:
- Bà Lê Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cp phúc thẩm xét xử theo hướng
chp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc các bị đơn có nghĩa vụ liên
đới bồi thường cho bà tổng số tiền 1.210.530.000đ (một tỷ hai trăm mười triệu
năm trăm ba mươi nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thị P kháng cáo yêu cầu Tòa án cp phúc thẩm xét xử theo
hướng chp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc các bị đơn có nghĩa
vụ liên đới bồi thường cho bà tổng số tiền 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu
đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
7
Chị Nguyễn Bảo H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê
Thị N và bà Nguyễn Thị P trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chp nhận yêu
cầu kháng cáo của bà N và bà P. Bởi các căn cứ như: Tòa án sơ thẩm xác định
quan hệ pháp luật tranh chp là bồi thường thiệt hại ngoài hp đồng là không
đúng mà phải là bồi hoàn công sức đóng góp tài sản, do Tòa án cp sơ thẩm áp
dụng pháp luật không đúng đã ảnh hưởng đến quyền li của nguyên đơn; Gia
đình bà N đã đóng góp, tôn tạo tài sản tranh chp hơn 40 năm nhưng không
đưc Tòa án cp sơ thẩm xem xét; Theo Công văn số 1211 ngày 25/8/2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp cũ (Thẩm phán Nguyễn Ngọc V ký) thì bà N
đưc quyền khởi kiện yêu cầu bồi hoàn công sức đóng góp đối với tài sản tranh
chp; Do bà N và bà P phải giao đt cho các bị đơn nên các bị đơn phải có trách
nhiệm hỗ tr cho bà N, bà P tiền mua đt mới để ở và di dời mồ mã. Vì vậy, yêu
cầu Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà N và bà P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N và bà
Nguyễn Thị P thực hiện đúng quy định và hp lệ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư
k phiên tòa kể từ khi thụ l vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chp hành
và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự; không chp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị N và bà
Nguyễn Thị P; tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2025/DS-ST
ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án số: 411/PB-VKS-DS ngày 26/02/2025).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, đưc thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp thụ l và giải
quyết sơ thẩm vụ án là đúng quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chp và
thẩm quyền của Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù đại diện hp pháp của
nguyên đơn bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P xác định quan hệ pháp luật tranh
chp là bồi hoàn công sức đóng góp tài sản nhưng theo Đơn khởi kiện và trong
suốt quá trình giải quyết vụ án và trong Đơn kháng cáo thì nguyên đơn đều yêu
8
cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm
nguyên đơn bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P không thống nht bản án sơ thẩm
nên đã kháng cáo. Việc bà N và bà P nộp đơn kháng cáo ngày 27/8/2025 là
trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên
đưc xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị đơn ông Nguyễn Minh C, ông Phạm Văn
H1, ông Nguyễn Thiền Đ, ông Thái Trọng Đ1 và ông Hồ Thanh H2 là người đại
diện theo quyền của bị đơn ông Nguyễn Đắc D, ông Cao Quí B và bà Nguyễn
Thị T1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Lê Thị N căn cứ vào Bản án dân sự phúc
thẩm số: 357/2022/DS-PT ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
về việc “Tranh chấp tài sản chung dòng họ và Hợp đồng thuê quyền sử dụng
đất” (còn viết tắt là bản án phúc thẩm) thì bà N có quyền yêu cầu bồi thường khi
bà phải di dời tài sản là cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc và vật khác (viết tắt là
tài sản) để giao diện tích đt 3.537,2m² thuộc các thửa 444, 445, 448 và một
phần thửa 447 và diện tích đt 4.696m
2
thuộc thửa đt 170, cùng tờ bản đồ số
17, đt tọa lạc tại xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp cho các ông bà Nguyễn Minh
C, Nguyễn Thị T1, Phạm Văn H1, Nguyễn Thiên Đ3, Cao Quí B, Thái Trọng
Đ1, Nguyễn Đắc D và Nguyễn Tân T. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu các bị đơn
ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn H1, ông Nguyễn Tân T,
ông Nguyễn Đắc D, ông Thái Trọng Đ1, ông Cao Quí B và ông Nguyễn Thiền Đ
(viết tắt là các bị đơn) có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hp
đồng gồm các khoản: Tiền mua đt để xây nhà ở có diện tích khoảng 200m
2
với
số tiền là 250.000.000 đồng; số tiền tu bổ nhà thờ, xây dựng nhà bếp là
285.000.000 đồng; tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm làm đường ống
nước là 220.480.000 đồng; chi phí bốc mộ, cải táng các phần mộ trên đt giao
cho các bị đơn gồm: Mộ ba mẹ chồng bà N là 67.000.000 đồng; mộ chồng bà N
là 36.000.000 đồng; mộ của anh, chị chồng bà N là 67.000.000 đồng; mộ của
ông cồ, bà cồ của gia đình bà N là 98.000.000 đồng. Đối với nguyên đơn bà
Nguyễn Thị P cho rằng theo bản án phúc thẩm số 357/2022/DS-PT ngày
10/8/2022 đã buộc bà Lê Thị N và chị Nguyễn Bảo H giao đt cho các bị đơn,
do trên đt có ngôi mộ của chồng bà, nên bà yêu cầu các bị đơn phải có trách
nhiệm liên đới bồi thường cho bà tiền bốc mộ, cải táng phần mộ của chồng bà
với số tiền là: 36.000.000 đồng. Các bị đơn không thống nht yêu cầu khởi kiện
của bà N và bà P, do yêu cầu khởi kiện của bà N và bà P không có căn cứ. Điều
này đã làm phát sinh tranh chp bồi thường thiệt hại ngoài hp đồng giữa các
đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thy việc Tòa án cp sơ thẩm không chp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị P về việc tranh chp bồi
9
thường thiệt hại ngoài hp đồng và đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi
kiện của bà N và bà P là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Bản án dân sự phúc thẩm số: 357/2022/DS-PT ngày 10/8/2022 của Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có hiệu lực pháp luật, bà N phải có nghĩa vụ di
dời tài sản trả đt cho các bị đơn là đại diện tộc họ Nguyễn, các bị đơn không có
hành vi xâm phạm gây thiệt hại gì cho bà N về nhà ở, không có trách nhiệm phải
lo nền nhà chỗ ở cho bà N, nên không có căn cứ buộc các bị đơn phải bồi thường
cho bà N số tiền mua đt xây nhà là 250.000.000 đồng.
- Đối với yêu cầu bồi thường số tiền tu bổ nhà thờ, xây dựng nhà bếp là
285.000.000 đồng. Tại Bản án phúc thẩm đã xác định phủ thờ và nhà bếp là tài
sản của tộc họ Nguyễn buộc bà N, bà H có trách nhiệm di dời đồ đạc cá nhân để
trả lại cho các bị đơn. Tộc họ Nguyễn không thừa nhận việc bà N có đóng góp
sửa chữa phủ thờ nhà bếp. Đây là tài sản chung của dòng họ, khi xây dựng, sửa
chữa phải có sự thống nht của tộc họ sửa chữa như thế nào, ly chi phí từ đâu.
Nếu bà N chưa đưc sự đồng của tộc họ N3 mà tự sửa chữa thì tự chịu trách
nhiệm đối với thiệt hại chi phí tự bỏ ra. Đồng thời, tại phiên tòa sơ thẩm chị Bảo
H đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày bà N không còn sức lao động để tạo
ra của cải, số tiền dùng để sửa chữa phủ thờ, nhà bếp là từ thu hoa li, li tức
trên phần đt mà Tòa án tuyên giao trả cho các bị đơn. Do đó, Tòa án sơ thẩm
không chp nhận yêu cầu của bà N buộc các bị đơn phải bồi thường chi phí này
cho bà N là có căn cứ.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm,
làm đường ống nước số tiền 220.480.000 đồng. Tại Bản án phúc thẩm đã tuyên
buộc bà N, bà P, bà H có trách nhiệm di dời vật kiến trúc khác để trả lại đt cho
các bị đơn. Tại Tòa án cp sơ thẩm chị Bảo H đại diện theo ủy quyền của bà N
trình bày bà N đào ao và cho bà P mưn, bà P hàng năm có trả hoa li, li tức
cho bà N. Phần đt đào ao thuộc quyền sử dụng của tộc họ N3, chưa có sự đồng
của tộc họ N3 nhưng bà N tự đào ao và cho bà P mưn đồng thời có thu hoa
li từ việc đào ao. Bà N không chứng minh đưc hàng năm tôn tạo những gì trên
phần đt này nhưng có thu hoa li, li tức từ việc sử dụng đt của tộc họ N3.
Các bị đơn không sử dụng ao, đường ống nước, cũng không thu li tức từ việc
bà N đào ao, thi công đường ống nước nên không có căn cứ để buộc các bị đơn
phải có trách nhiệm bồi thường công đào ao nuôi cá, tôn tạo hàng năm, làm
đường ống nước cho bà N.
- Đối với yêu cầu bồi thường chi phí tiền bốc mộ, cải táng phần mộ của bà
N, bà P. Hiện tại tộc họ Nguyễn chưa có yêu cầu bà N, bà P di dời các phần mộ
để trả lại đt cho tộc họ N3, không có tranh chp gì đối với những ngôi mộ trên
đt. Do đó bà N, bà P có nhu cầu di dời các phần mộ của người thân đang trên
phần đt thuộc quyền sử dụng của tộc họ Nguyễn đi nơi khác thì phải tự chịu chi
phí. Bị đơn chưa có xâm phạm gây thiệt hại đến mồ mã của bên phía nguyên
10
đơn, chưa có thiệt hại xảy ra nên không có nghĩa vụ phải bồi thường theo Điều
607 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa chị Nguyễn Bảo H là người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
của bà N và bà P, yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ bản án sơ
thẩm theo hướng chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và bà P. Hội đồng xét
xử xét thy trình bày của chị H là không đủ căn cứ, đồng thời bà N và bà P cũng
không cung cp đưc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không đưc Hội đồng xét xử chp
nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thy là có cơ sở và phù hp pháp luật, nên
đưc chp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P không
đưc chp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do bà N và
bà P thuộc trường hp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên đưc xét
miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N;
2. Không chp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị P;
3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị P đưc miễn án phí dân sự phúc thẩm.
11
Trong trường hp bản án, quyết định đưc thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người đưc thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự đưc thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.
HCM;
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND Tỉnh;
- TAND Khu vực M;
- Phòng THADS Khu vực M;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Chi).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm