Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 32/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Thuận Châu (TAND tỉnh Sơn La) |
Số hiệu: | 32/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/02/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Bản án ly hôn giữa chị Quàng Thị L và anh Vì Văn N |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 32/2025/HNGĐ–ST
Ngày: 27–02–2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC,
tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên
tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh
Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ
ngày 27-12-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-
HNGĐ ngày 22-01-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐST-HNGĐ
ngày 14-02-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19-
02-2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị L, sinh năm 1986. (Vắng mặt có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản P, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La.
2. Bị đơn: Anh Vì Văn N, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản P, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Quàng Thị L trình bày:
Chị Quàng Thị L và anh Vì Văn N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn
ngày 30/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên
cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm
2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng
quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung,
mâu thuẫn kéo dài, hai bên gia đình đã hòa giải không thành, mục đích hôn nhân
không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai
2
quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị Quàng Thị L xác định tình cảm vợ chồng
không còn, chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Vì Văn N.
Về con chung: Chị Quàng Thị L và anh Vì Văn N có 02 con chung là cháu
Vì Văn Đ, sinh ngày 02/8/2006 (đã trưởng thành và có khả năng lao động) và
cháu Vì Văn H, sinh ngày 16/9/2010. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân,
cháu H đang ở với anh N.
Chị Quàng Thị L đề nghị được giao cháu Vì Văn H cho anh Vì Văn N
được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Vì Văn N: Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ
các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Vì Văn N để viết bản tự khai, tham
gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án
nhưng anh Vì Văn N vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết
ly hôn.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác
minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ
nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 13/01/2025 xác định:
Anh Vì Văn N và chị Quàng Thị L kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau tại
Bản P, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn
gia đình nên đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn
do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, hai bên gia đình đã
nhiều lần hòa giải khuyên bảo vợ chồng nhưng không thể hàn gắn. Chị L, anh Nt
có 02 con chung là cháu Vì Văn Đ, sinh ngày 02/8/2006 (đã trưởng thành và có
khả năng lao động) và cháu Vì Văn H, sinh ngày 16/9/2010.
Tại biên bản xác minh ngày 13/01/2025 về điều kiện nuôi con xác định:
Anh Vì Văn N có nhà cửa, nơi cư trú ổn định, làm nghề trồng trọt và làm thuê để
có thu nhập, anh N cũng là người hiện tại đang trực chăm sóc cháu H, nuôi cháu
H ăn học đầy đủ, anh N có khả năng và điều kiện nuôi con. Tại biên bản ghi ý
kiến ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện TC đối với cháu Vì Văn H,
cháu có ý kiến trong trường hợp chị Lả, anh N ly hôn thì nguyện vọng của cháu
là được ở với bố cháu Vì Văn N, ngoài ra cháu không có ý kiến gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ
cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình
và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Quàng Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị L giữ
nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đề nghị miễn án
phí dân sự sơ thẩm.
3
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý
kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ
pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài
liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các
văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng
thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn
ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị
đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy
định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1
và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị L được ly hôn với anh Vì
Văn N.
Về con chung: Giao cháu Vì Văn H, sinh ngày 16/9/2010 cho cho anh Vì
Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Quàng Thị L không ai phải
cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho
nguyên đơn chị Quàng Thị L theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị L yêu cầu ly hôn với bị đơn anh
Vì Văn N có địa chỉ nơi cư trú tại Bản P, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền,
theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Quàng Thị L vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến
hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
4
Bị đơn anh Vì Văn N đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp lệ lần thứ hai
vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị L và anh Vì Văn N kết hôn với
nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã TC,
huyện TC, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do
đó, chị L, anh N là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống
hạnh phúc với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu
thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không
tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không thể hàn gắn. Chị L, anh
N đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống
của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, chị L yêu cầu ly hôn với anh Vì Văn N.
Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần
cho bị đơn anh Vì Văn N để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công
khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Vì Văn N vẫn cố tình
vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại
phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị Lả, anh Nhọt không hạnh
phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ
chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã
được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành, đã sống ly thân được một thời
gian dài không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa
cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị L, anh N đã
thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Quàng
Thị L ly hôn với anh Vì Văn N.
[3] Về con chung: Chị Quàng Thị L và anh Vì Văn N có 02 con chung là
cháu Vì Văn Đ, sinh ngày 02/8/2006 (đã trưởng thành và có khả năng lao động)
và cháu Vì Văn H, sinh ngày 16/9/2010. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân,
cháu H đang ở với anh N.
Chị Quàng Thị L đề nghị được giao cháu Vì Văn H cho anh Vì Văn N
được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Anh Vì
Văn N không có ý kiến.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Quàng Thị L thường xuyên đi làm thuê, thu
nhập không ổn định và chị trình bày không có khả năng, điều kiện nuôi con nên
đề nghị giao cháu Hiệp cho anh Nhọt trực nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Đối
với anh Vì Văn N có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập, có khả năng và
điều kiện nuôi con. Sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu H đang ở với anh N.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu H, được
biết cháu có ý kiến trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là
5
được ở với anh Vì Văn N. Do đó để không bị xáo trộn cuộc sống và bảo đảm sự
phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn,
giao cháu Vì Văn H cho anh Vì Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con
chung. (Vì chị L không có công việc ổn định, không có thu nhập, hiện tại cũng
đang sống nương nhờ vào bố mẹ đẻ).
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Quàng Thị L xác định không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Vì Văn N không có ý kiến. Do đó, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có
phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị L là người dân tộc thiểu số cư
trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu được miễn
án phí. Do đó căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
không có giá ngạch cho chị Quàng Thị L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia
đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271,
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15
Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị L được ly hôn với anh Vì
Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Vì Văn H, sinh ngày 16/9/2010 cho anh Vì
Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng
thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ
quan có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con,
không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Quàng Thị L xác định không có, không
yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Vì Văn N không có ý kiến. Do đó không xem xét
giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh
chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
6
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho
chị Quàng Thị L.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị L, anh Vì Văn N được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7
và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sơn La;
- VKSND huyện TC (2);
- Chi cục THADS huyện TC;
- UBND xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Tiến Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm