Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28/10/2024 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28/10/2024 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Khánh (TAND tỉnh Ninh Bình)
Số hiệu: 30/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/10/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị V xin ly hôn anh Th
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28/10/2024
V/v Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Giang
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thị Hồng Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Y, tỉnh Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n huyện Y tham gia phiên tòa: Đinh
Thị H1, Kiểm sát viên
Ngày 28/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/7/2024 về việc
Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa v án ra xét xử số
27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/9/2024 Quyết định hoãn phiên toà số
17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/10/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V sinh năm 1982; nơi trú xóm 8, K,
huyện Y, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Bị đơn: Anh Hoàng Văn T sinh năm 1980; nơi trú xóm 8, K, huyện Y,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện, bản tự khai tại phiên tòa nguyên đơn là chị V trình bày:
Chị V anh T tự nguyện kết hôn với nhau, đăng tại UBND Khánh
Hồng ngày 03/9/2003. Tnăm năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nhưng
mâu thuẫn không đáng kể; từ năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nhiều hơn, nguyên
nhân do anh T chơi bời, không quan H3 đến gia đình dẫn đến kinh tế gia đình
khó khăn; từ năm 2021 phát sinh mâu thuẫn đỉnh điểm, anh T chơi bởi nhiều hơn
về nhà đánh chửi nhiều hơn, dẫn đến vợ chồng đánh cãi chửi nhau, anh T đánh
chị V nhiều lần, cuộc sống luôn căng thẳng; từ tháng 5/2024 cho đến nay vợ
chồng sống ly thân, không quan H3 đến nhau; nay nh cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị V xin ly hôn anh T. Về con, chị
V và anh T có 04 con là cháu Hoàng Thị H sinh ngày 08/6/2004, cháu Hoàng Thị
Diễm H1 sinh ngày 17/12/2010, cháu Hoàng Thị H2 sinh ngày 12/3/2014
cháu Hoàng Minh H3 sinh ngày 22/8/2017; đối với cháu H đã đủ 18 tuổi tự lập
được cuộc sống, nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn lại 03 cháu
cháu H1, cháu H2 cháu H3, chị V đề nghị giao c03 cháu cho chị V nuôi
2
dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị V không yêu cầu anh T phải cấp
dưỡng nuôi con cho chị V chị V cam đoan sẽ đảm bảo đầy đủ cho cuộc sống,
sinh hoạt học tập cho cả 03 cháu. Về tài sản, chị V không yêu cầu Toà án giải
quyết; vợ chồng không vay mượn ai tài sản.
Tại bản tự khai bị đơn là anh T trình bày: Anh T và chị V tự nguyện kết
hôn với nhau, đăng tại UBND Khánh Hồng ngày 03/9/2003. Trong
cuộc sống hằng ngày việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không tránh khỏi, vợ
chồng cãi nhau tức giận anh T không kiềm chế được bản thân, nên anh T có đánh
chửi chị V; vào tháng 6/2024 vchồng cãi nhau, những lời nói xúc phạm
tới anh T, khiến cho anh T những hành động không kiểm soát được là tát và chửi
chị V, ngay sau đó 01 tuần chị V đã tự ý bỏ nhà đi không nói đến anh T;
anh T nhắn tin liên lạc đề nghị chị V về, song đến nay chị V đã chặn mọi
liên lạc và không về nhà cùng với bố con anh T, không quan H3 đến gia đình;
nay chị V đề nghị ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Về con, anh T chị V
04 con là cháu Hoàng Thị H sinh ngày 08/6/2003, cháu Hoàng Thị Diễm H1 sinh
ngày 17/12/2010, cháu Hoàng Thị H2 sinh ngày 12/3/2014 cháu Hoàng Minh
H3 sinh ngày 22/8/2017; anh T đề nghị giao cả 03 cháu H1, cháu H2cháu H3
cho chị V nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng; còn cháu H đã trưởng thành
nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, anh T không yêu cầu Toà
án giải quyết; vợ chồng không vay mượn ai tài sản .
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đối với vụ án: Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ
tranh chấp; xác định đúng cách đương sự; đã tiến hành thông báo, xác minh,
mở phiên họp thời hạn xét xử đúng quy định. Bị đơn trong vụ án chưa chấp
hành đầy đủ các quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều
82, Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử, chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của chị V.
- Cho chị V được ly hôn với anh T.
- Giao cháu H1, cháu H2 cháu H3 cho chị V nuôi dưỡng cho đến khi các
cháu đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị V anh T được
quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
- Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về những vấn đề cần phải giải
quyết trong vụ án như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị V khởi kiện “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con”
với anh T, việc khởi kiện của chị V được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
3
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh T trú tại K, huyện Y, tỉnh Ninh
Bình; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Y thụ giải quyết vụ án đúng thẩm
quyền.
Về sự vắng mặt của bđơn: Tại phiên tòa bị đơn là anh T vắng mặt, mặc
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về ly hôn: Chị V anh T tự nguyện kết hôn với nhau, đã đăng tại
UBND Khánh Hồng ngày 03/9/2003, tại thời điểm kết hôn chị V anh T đã
đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân
gia đình; do vậy n nhân giữa chị V và anh T là hợp pháp.
do ly hôn: Theo chị V khai thể hiện từ năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng hơn hiện tại chị V anh T
đang sống ly thân không quan H3 đến nhau. Theo anh T khai thể hiện khi vợ
chồng cãi nhau tức giận anh T không kiềm chế được bản thân, anh T tát
chửi chị V; chị V đã tự ý bỏ nhà đi, chị V đã chặn mọi liên lạc, không v
không quan H3 gì đến gia đình.
Như vậy, đủ sở khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị V anh T
trong thời gian qua đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu tH quý
trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau; anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh T không
đến Toà án tham gia phiên hoà giải không tham gia phiên toà điều này thể
hiện anh T bỏ mặc không biện pháp khắc phục mâu thuẫn; dẫn đến hôn
nhân giữa chị V anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1
Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn
của chị V, cho chị V và anh T ly hôn.
[3] V nuôi con: Chị V anh T 04 con cháu Hoàng Thị H sinh ngày
08/6/2004, cháu Hoàng Thị Diễm H1 sinh ngày 17/12/2010, cháu Hoàng Thị H2
sinh ngày 12/3/2014 và cháu Hoàng Minh H3 sinh ngày 22/8/2017.
Cháu H đã đủ 18 tuổi tự lập được cuộc sống, chị V anh T đều không yêu
cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xem xét giải quyết.
Đối với cháu H1, cháu H2 và cháu H3; chị V đề nghị giao cả 03 cháu cho chị
V nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; theo lời khai của cả 03 cháu
trong hồ thể hiện nguyện vọng của c03 cháu muốn được với bố; tuy
nhiên theo lời khai của anh T có trong hồ sơ, anh T khai “đề nghị giao cả 03 cháu
cho chị V nuôi dưỡng”. Do anh T không đến tham gia phiên toà và anh T đề nghị
giao cả 03 cháu cho chị V nuôi dưỡng; nên chấp nhận yêu cầu của chị V, giao cả
03 cháu cháu H1, cháu H2 cháu H3 cho chị V nuôi dưỡng cho đên khi các
cháu đủ 18 tuổi.
Về nghĩa vcấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: Do chị V không yêu cầu anh T
phải cấp dưỡng nuôi con cho chị V chị V cam đoan sẽ đảm bảo đầy đủ cho
cuộc sống, sinh hoạt học tập cho cả 03 cháu; nên Toà án không buộc anh T
phải cấp dưỡng nuôi con cho chị V.
4
[4] Về tài sản: Chị V anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết về i
sản; vợ chồng không vay mượn ai tài sản gì.
[5] Về án phí n sự thẩm: Chị V nguyên đơn nên phải chịu 300.000
đồng án phí về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn
nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
2. Xử:
2.1. Về ly hôn: Cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Hoàng Văn T.
2.2. Về nuôi con: Chấp nhận đề nghị của chị V; giao cháu Hoàng Thị Diễm
H1 sinh ngày 17/12/2010, cháu Hoàng Thị H2 sinh ngày 12/3/2014 cháu
Hoàng Minh H3 sinh ngày 22/8/2017 cho chị V nuôi dưỡng cho đến khi các cháu
đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị V
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom
để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con.
2.3. Về án phí dân sự thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000
đồng án phí về việc ly hôn, được trừ vào số tiến tạm ứng án phí chị V đã nộp
300.000 đồng, theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí số 0001686 ngày 25/7/2024
của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Y, chị V đã nộp đủ án phí về việc ly hôn.
Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Bđơn quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao
bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình
- VKSND tỉnh Ninh Bình
- VKSND huyện Y
- Chi cục THA
- UBND xã Khánh Hồng
- Các đương sự
- Lưu hồ s
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Bùi Văn Lực
Tải về
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất