Bản án số 30/2023/DS-PT ngày 18-01-2023 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp quyền lối đi qua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 30/2023/DS-PT ngày 18-01-2023 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp quyền lối đi qua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Long An
Số hiệu: 30/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/01/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trịnh Thị Thanh B và Ông Trương Tuấn A tranh chấp quyền lối đi qua
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
Bản án số: 30/2023/DS-PT
Ngày: 18-01-2023
“V/v tranh chấp quyền về lối
đi qua”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh.
Các Thẩm phán:
1. Bà Lê Thị Bích Tuyền.
2. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Kim Thanh Thẩm tra viên Tòa
án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên
tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh Kiểm sát viên.
Vào ngày 11ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Long An mở phiên toà để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
544/2022/TLPT-DS ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc “tranh chấp quyền về
lối đi qua”.
Do bản án dân sự thẩm số 92/2022/DS-ST ngày 20-9-2022 của Toà án
nhân dân huyện Y bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 528/2022/QĐ-PT ngày
20 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thanh B, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số 5/13E Phan Văn Tình, thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Trương Tuấn A, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số 10/5, Khu 1, Ô1 Phan Văn Tình, thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long
An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đoàn Ngọc D, sinh năm 1969.
3.2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: Hẻm 5, Ô2, Khu phố 1, đường Phan Văn Tình, thị trấn X,
huyện Y, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: Ông Trương Tuấn A.
2
(Bà B, ông A mặt tại phiên tòa; các đương sự còn lại vắng mặt tại phiên
tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng, cũng như tại phiên tòa nguyên
đơn Trịnh Thị Thanh B trình bày: Vào ngày 31/12/2019 mua phần đất
thửa số 13 tờ bản đồ số 11-2 diện tích 142,2m
2
của Vương Thị Mỹ Dung,
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/01/2020. Lúc mua
và bà Dung có xuống xem đất và thấy trên đất có nhà, có lối đi đường đan từ nhà
ra lối đi công cộng rồi đi ra đường Phan Văn Tình, phần đất thửa 13 này bà Dung
mua của Trương Thị Đào chị của ông A, hỏi thăm các hộ dân xung
quanh tlối đi chung của các hộ dân luôn cả chủ đất cũ. Nhưng khi sửa
nhà thì ông A không cho xe chở vật tư vô, ông A nói rằng lối đi trên đất của ông.
Nay nhà của bà không có lối đi, bà yêu cầu mở lối đi qua thửa đất số 4 tờ bản đồ
số 11-2 của ông Trương Tuấn A theo Mảnh trích đo địa chính số 94-2021 là khu
B và Khu E. Bà đồng ý với trích đo bản vẽ địa chính và chứng thư thẩm định giá.
đồng ý bồi thường gtrị quyền sử dụng đất phần lối đi mở qua đất cho ông
A theo chứng tthẩm định giá. Tại phiên tòa, B thay đổi một phần yêu cầu
khởi kiện, bà xác định chỉ yêu cầu khởi kiện mở lối đi qua thửa đất số 4 của ông
A thể hiện trên Mảnh trích đo là khu E, không yêu cầu khu B.
Bị đơn ông Trương Tuấn A trình bày: Ông người sử dụng người
đứng tên thửa đất số 4, tờ bản đồ số 11-2 được cấp giấy chứng nhận ngày
13/7/2005. Nguồn gốc thửa đất cha mẹ ruột cho riêng ông, là tài sản riêng của
ông, cha mẹ cho đất các con Trương Văn Sưa, Trương Văn Giàu, Trương Thị
Đào, Trương Văn Nay Trương Tuấn Kiệt. Thửa đất số 13 này trước đây của
Trương Thị Đào, chị ruột của ông, anh chị em nhà ông sử dụng lối đi qua đất
của ông để ra lối đi công cộng. Đào bán cho Dung do Đào vay tiền
không đủ sức trả lãi nên mới hợp đồng chuyển nhượng để hợp thức hóa,
Dung hứa cho chuộc đất nhưng cuối cùng không cho chuộc đất.
Dung lại bán cho B. Gia đình chị em trong nhà thì ông cho đi, người lạ thì ông
không cho đi, vì gia đình ông nhiều cái cũng phức tạp. Mặc dù hiện tại đất của
B không có lối đi, chỉ đi qua lối đất của ông mới ra được lối đi công cộng nhưng
ông không đồng ý cho mở lối đi qua đất của ông, như vậy mất đất của ông,
việc mua bán đất giữa Dung Đào cũng không ràng, nếu trước đó
khi mua đất mà bà Dung gặp ông thỏa thuận thì ông chấp nhận, hiện tại đã tranh
chấp ông không đồng ý. Về trích đo bản đồ địa chính và chứng thư thẩm định giá
thì ông không có kiến gì khác. Nay bà B muốn có lối đi thì đợi khi nào nhà nước
làm bờ kè thì có lối đi. Đối với khu B theo bản vẽ thuộc thửa số 18, trước đây ba
của ông mua thỏa thuận miệng với chủ đất nhưng không làm giấy, sau
này chủ đất bán lại cho người khác nên phần nằm trong thửa 18, hiện nay
thuộc giấy chứng nhận của D ông C nhưng thực tế thì ông đang quản s
dụng thuộc sân nhà của ông, D ông C không sử dụng cũng đã làm hàng
rào giáp ranh.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Ngọc D ông Nguyễn
Văn C bản tường trình trình bày: Ông, chủ sử dụng thửa đất số 18, tờ
3
bản đồ số 11-2 thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long An. Kết quả đo đạc lối đi B yêu
cầu được mở liên quan đến thửa đất số 18 của ông nhưng thực tế thửa 18
của ông bà có lập hàng rào ở vị trí ranh đất, phần vị trí lối đi mà bà B yêu cầu m
nằm ngoài hàng rào của ông bà, chỉ là sát ranh. Như vậy việc bà B yêu cầu mở
lối đi không nằm trong thửa đất số 18 thuộc quyền sử dụng đất của ông nên
xin vắng mặt không tham gia do bận công việc mua bán hàng ngày, đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự thẩm số 92/2022/DS-ST ngày 20-9-2022 của Toà án
nhân dân huyện Y đã căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39, Điều 205, 147, 227, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
254 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, 171 Luật đất đai; Nghị quyết về án phí,
lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trịnh Thị Thanh B “tranh chấp yêu về
mở lối đi qua bất động sản liền kề” với ông Trương Tuấn A.
Buộc ông Trương Tuấn A phải mở cho Trịnh Thị Thanh B một lối đi
trên một phần thửa số 4, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long
An diện tích 3,8m
2
khu E theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 94 của
Công ty TNHH đo đạc nhà đất Thủ Thừa lập ngày 01/6/2021 được Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Y duyệt ngày 03/6/2021, vị trí tứ cận là:
Đông giáp thửa số 4 dài 1,5m;
Tây giáp thửa số 18 dài 1,8m;
Nam giáp thửa số 13 dài 2,2m;
Bắc giáp thửa số 4 dài 2,5m;
Các đương squyền, nghĩa vụ khai đăng quyền sdụng hạn chế
thửa đất liền kề đối với phần đất nêu trên theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai
năm 2013, Điều 73 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
quy định chi tiết thì hành một số điều của Luật Đất đai.
Buộc bà Trịnh Thị Thanh B phải đền bù trả cho ông Trương Tuấn A số tiền
4.922.000 đồng là giá trị diện tích quyền sử dụng đất mở lối đi.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự 2015.
Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá:
17.500.000 đồng, bà Trịnh Thị Thanh B phải chịu và đã nộp xong.
Về án phí: ông Trương Tuấn A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm.
4
Hoàn lại cho Trịnh Thị Thanh B 375.000 đồng tiền tạm ứng án phí B
đã nộp theo biên lai thu s0007402 ngày 08/10/2020 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Y tỉnh Long An.
Ngoài ra, án còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ của các bên
giai đoạn thi hành án.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/10/2022, ông Trương Tuấn A kháng cáo không đồng ý với bản án
thẩm với do lối đi dẫn vào điểm E không ràng. Mảnh trích đo địa chính
số 94-2021 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Thủ Thừa vẽ vị trí lối đi trên thực
tế không đúng và cho rằng bị đơn sử dụng tn phần đất của D không
căn cứ theo nội dung án thẩm bị đơn bị buộc phải mở lối đi qua phần đất của
mình là không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lợi của bản thân bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên thỏa thuận được với nhau như sau:
- Ông Trương Tuấn A thống nhất mở lối đi cho phần đất thuộc thửa số 13,
tờ bản đồ 11-2, tọa lạc tại thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long An tại vị trí khu C, B1,
E1 của Mảnh trích đo địa chính số -2021 ngày 13/01/2023 trên sở Mảnh
trích đo địa chính số 94-2021 do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Thủ Thừa đo vẽ
ngày 01/6/2021, được Chi nhánh n phòng đăng đất đai tại huyện Y phê
duyệt ngày 03/6/2021, với tổng diện tích là 19,6m
2
và chịu chi phí tố tụng tại cấp
phúc thẩm; đồng thời đnghTrịnh Thị Thanh B bồi thường giá trị theo giá
đã định tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Trịnh Thị Thanh B thống nhất hoàn trả lại giá trị cho phía ông Trương
Tuấn A theo giá đã định tại Tòa án cấp thẩm; đồng thời đề nghị ông A chịu
chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm và bà B chịu chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
- Về pháp luật tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố
tụng từ khi thụ vụ án đến khi đưa ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử,
Thư những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo tố tụng. Các bên
đương sự thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình. Kháng cáo hợp lệ đủ điều
kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, hai bên đương sđã
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; việc thỏa thuận của đương sự
không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, đnghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm áp dụng Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đcông nhận sự
thỏa thuận của hai bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1 Ông Trương Tuấn A kháng cáo trong thời hạn luật định hợp lệ, đúng
thủ tục tố tụng nên được chấp nhận xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 4, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc
thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An
thụ giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
5
[1.3] Đoàn Ngọc D ông Nguyễn Văn C đã đơn yêu cầu giải quyết
vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử
vắng mặt bà D, ông C.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số CU 620357 ngày 17/01/2020 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Long An cấp cho Trịnh Thị Thanh B đứng tên đối với thửa
đất số 13, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long
An trên sHợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng công
chứng Thủ Thừa chứng nhận số 8631, quyển số 01/2019/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 31/12/2019 giữa người chuyển nhượng Vương Thị Thùy Dung với người
nhận chuyển nhượng Trịnh Thị Thanh Thủy.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 641646 ngày 13/7/2005 do
Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Long An cấp cho ông Trương Tuấn A đứng tên
đối với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc tại thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long
An trên cơ sở nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Trương Văn Sang theo Văn
bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Phòng tư pháp huyện Y chứng thực
số 13, quyển số 1 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/01/2005.
Theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AG 445362 ngày 20/7/2006
do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Long An cấp cho Đoàn Ngọc D đứng tên
đối với thửa đất số 18, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc tại thị trấn X, huyện Y, tỉnh
Long An trên cơ sở nhận thừa kế quyền sử dụng đất.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 94-2021 do Công ty TNHH đo đạc nhà đất
Thủ Thừa đo vẽ ngày 01/6/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại
Thủ Thừa phê duyệt ngày 03/6/2021 (sau đây gọi tắt Mảnh trích đo địa chính
số 94-2021) Mảnh trích đo địa chính số -2021 ngày 13/01/2023 được phân
khu trên sở Mảnh trích đo địa chính số 94-2021 thể hiện: Khu A diện tích
142m
2
thuộc thửa số 13, khu B1 diện tích 6,5m
2
thuộc một phần thửa 18, khu B2
diện tích 5,1m
2
thuộc một phần thửa 18, khu C diện tích 9,7m
2
thuộc một phần
thửa 18, khu D diện tích 3m
2
thuộc lối đi công cộng, khu E1 diện tích 3,4m
2
thuộc một phần thửa 4, khu E2 diện ch 0,4m
2
thuộc một phần thửa 4; khu B1,
B2, C, E1, E2 đều do ông A quản lý, sử dụng.
[2.2] Tại bản tường trình ngày 08/4/2022, Đoàn Ngọc D ông Nguyễn
Văn C thừa nhận rằng Theo thông báo của Tòa án, kết quả đo đạc lối đi B
yêu cầu được mở liên quan đến thửa đất số 18 của chúng tôi nhưng thực tế
toàn bộ khu đất thuộc thửa số 18 của chúng tôi đã lập hàng rào vị trí ranh
đất, phần vị trí lối đi B yêu cầu được mở nằm ngoài hàng rào của chúng tôi
(sát ranh). Như vậy việc B yêu cầu mở lối đi không nằm trong thửa đất số 18
thuộc quyền sử dụng đất của chúng tôi. Như vậy, khu B1, B2, C, E1, E2 thuộc
quyền sử dụng của ông A theo quy định của pháp luật đất đai.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, Trịnh Thị Thanh B ông Trương Tuấn
A thống nhất thỏa thuận, sử dụng khu C, B1, E1 với tổng diện tích là 19,6m
2
làm
lối đi ra đường công cộng cho phần đất thuộc thửa số 13 nêu trên của B cho
đến khi lối đi mới thuận tiện hơn. Sự thỏa thuận này của hai bên đương sự là
6
hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật không trái đạo đức
hội nên căn cứ vào Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự.
[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên thống nhất với Chứng thư thẩm định
giá số 2022038.IVC-CT ngày 04/4/2022 của Công ty Cổ phần đầu & thẩm
định giá Hội Nhập thì phần đất đơn giá 1.295.264 đồng/m
2
; B đồng ý bồi
thường giá trị đất cho phía ông A. vậy, phần đất dùng làm lối đi giá
1.295.264 đồng/m
2
x 19,6m
2
= 25.387.174 đồng, B trách nhiệm hoàn trả
giá trị cho ông A.
[2.5] Về chi phí tố tụng: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông A tự nguyện chịu;
tại cấp sơ thẩm bà B tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ đó thấy rằng, kháng cáo của ông Trương Tuấn A sở chp nhn; lời
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An hoàn toàn căn cứ
nên chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải
chịu theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29 của Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Các khoản khác của án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ
hiệu lực sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 300, Điều 293, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Chấp nhận kháng cáo của ông Trương Tuấn A.
Cải sửa bản án dân sự thẩm số 92/2022/DS-ST ngày 20-9-2022 của Toà
án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An.
Căn c vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 205, 147, 148, 157, 158, 227, 266, 267, 271, 273, 300 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, 171 Luật đất đai; Điều 26, 29
của Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Chủ sử dụng (bà Trịnh Thị Thanh B) đối với thửa đất số thửa đất số 13, tờ
bản đồ số 11-2, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn X, huyện Y, tỉnh Long An được
quyền sử dụng phần đất thuộc khu C, B1, E1 với tổng diện tích 19,6m
2
thuộc
một phần thửa đất số 18, 4, tờ bản đồ số 11-2, tọa lạc tại thị trấn X, huyện Y, tỉnh
Long An làm lối đi ra đường công cộng cho đến khi có lối đi mới thuận tiện hơn.
Phần đất nêu trên vị trí, tcận theo Mảnh trích đo địa chính s94-2021
do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Thủ Thừa đo vẽ ngày 01/6/2021, được Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai tại Thủ Thừa phê duyệt ngày 03/6/2021 (sau
đây gọi tắt là Mảnh trích đo địa chính số 94-2021) và Mảnh trích đo địa chính số
7
-2021 ngày 13/01/2023 được phân khu trên sở Mảnh trích đo địa chính số
94-2021.
[2] Trịnh Thị Thanh B trách nhiệm đền cho ông Trương Tuấn A
số tiền 25.387.174 đồng (hai mười lăm triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, một
trăm bảy tư đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự 2015.
[3] Về chi phí tố tụng:
[3.1] Tại cấp sơ thẩm, bà Trịnh Thị Thanh B tự nguyện chịu số tiền
17.500.000 đồng (đã nộp xong).
[3.2] Tại cấp phúc thẩm, ông Trương Tuấn A tự nguyện chịu số tiền
4.100.000 đồng để hoàn trả lại cho bà Trịnh Thị Thanh B đã tạm ứng trước.
[4] Về án dân sự sơ thẩm:
[4.1] Buộc ông Trương Tuấn A phải chịu 300.000 đồng án phí dân s
thẩm.
[4.2] Hoàn lại cho Trịnh Thị Thanh B số tiền 375.000 đồng tiền tạm ứng
án phí B đã tạm nộp theo biên lai thu số 0007402 ngày 08/10/2020 của
Chi cục thi hành án dân shuyện Y, tỉnh Long An.
[5] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Hoàn lại cho ông Trương Tuấn A số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
mà ông A đã tạm nộp theo biên lai thu số 0002678 ngày 17/10/2022 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Long An.
[6] Án xử công khai phúc thẩm hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi
tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Long An;
- TAND cấp huyện;
- Chi cục THADS cấp huyện;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Cảnh
8
Tải về
Bản án 30/2023/DS-PT Long An Bản án 30/2023/DS-PT Long An

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 30/2023/DS-PT Long An Bản án 30/2023/DS-PT Long An

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất