Bản án số 292/2022/DS-PT ngày 29/11/2022 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 292/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 292/2022/DS-PT ngày 29/11/2022 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 292/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/11/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kháng cáo tiền lãi
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 292/2022/DS-PT
Ngày 29-11-2022
V/v “tranh chấp vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị An Tiên.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Ông Hà Chí Quốc.
- Thư phiên tòa: Thị Bích Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Huỳnh Thị Mộng Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 257/2022/TLPT-DS ngày 06
tháng 9 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2022,
của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 217/2022/QĐPT-DS
ngày 08 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị Thu T1, sinh năm 1972; nơi trú: khu phố L,
phường L1, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Đỗ Thị M, sinh năm 1962,
i trú: ấp 4, S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; người đại diện theo ủy quyền
(Theo văn bản ủy quyền lập ngày 01/3/2022); có mặt;
2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; chị Nguyễn Thị Thu H, sinh
năm 1979; cùng nơi trú: t 11, ấp 3, N, huyện T, tỉnh Tây Ninh; anh T có
mặt; chị H vắng mặt.
3. Người kháng cáo: anh Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/12/2019 của nguyên đơn trong quá trình
giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, Đỗ Thị M trình
bày:
2
Do quen biết nên ngày 08/12/2020 chị T1 cho anh T vay 400.000.000
đồng, làm giấy nhận nợ. Anh T hẹn trả nợ kể từ ngày 18/12/2020 đến tháng
8/2022 sẽ hoàn trả xong cho chị T1 400.000.000 đồng với hình thức cứ mỗi 06
tháng kể từ ngày 18/12/2020 sẽ hoàn trả cho chị T1 100.000.000 đồng. Khi vay,
nói lãi suất tính 2%/tháng. Nhưng kể từ ngày vay đến nay, anh T chỉ trả cho
chị T1 được 93.500.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại 306.500.000 đồng tiền gốc
tiền lãi.
Anh T người trực tiếp đi vay tiền nhận tiền; khi trả tiền thì anh T trả,
lần tchị H trả, việc trả tiền các bên cũng không lập biên nhận. Nay chị T1
khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn T chNguyễn Thị Thu H trả 306.500.000
đồng và tiền lãi tính từ ngày 08/12/2020 với lãi suất 0.83%/tháng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – anh Nguyễn Văn T trình bày:
Từ năm 2013, do cần vốn làm xưởng mộc nên anh vay tiền của chị T1
nhiều lần, mỗi lần vay t 20.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, lãi suất
8%/tháng. Đến ngày 08/12/2020, các bên chốt nợ, anh nợ chị T1 tổng cộng
400.000.000 đồng và cam kết cứ sau 06 tháng bắt đầu từ tháng 01/2021 anh sẽ trả
cho chị T1 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Việc trả tiền lãi được anh thực
hiện từ ngày vay tiền đến ny chốt nợ 400.000.000 đồng. Anh trực tiếp trả tiền
lãi cho chị T1 nhưng không có lập biên nhận khi giao tiền.
K từ ngày 08/12/2020 đến ngày 15/11/2021, anh trả cho chị T1 được
93.500.000 đồng, còn nợ lại 306.500.000 đồng. Nay anh đồng ý trả cho chị T1
306.500.000 đồng tiền nợ gốc; riêng tiền lãi thì ông chỉ hoàn trả tiền lãi tính từ
ngày Tòa án thụ lý vụ án (02/3/2022) với lãi suất 0,83%/tháng.
Anh và chị Nguyễn Thị Thu H là vợ chồng nhưng tiền anh vay chị T1 là nợ
riêng của anh nên anh không đồng việc chị T1 yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H
nghĩa vụ cùng ông hoàn trả số tiền còn nợ, chị H không liên quan cũng
không có sử dụng số tiền này.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị anh Nguyễn Văn T vợ chồng, chung sống vợ chồng có đăng
kết hôn từ năm 2001 đang chung sống tại ấp 3, N, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị T1 đối với chị anh T thì chị không đồng ý
cùng anh T hoàn trả cho chị T1 số tiền 306.500.000 đồng ng tiền lãi do
không có vay tiền của chị T1, không sử dụng số tiền anh T vay của chị T1. Ngoài
ra chị không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Tại Bản án Dân sự thẩm 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2022,
của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27, 37
Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 146, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí
Tòa án:
3
Buộc anh Nguyễn Văn T chị Nguyễn Thị Thu H nghĩa vụ liên đới
hoàn trả cho chị Thị Thu T1 306.500.000 đồng tiền gốc 50.115.500 đồng
tiền lãi. Tổng cộng là 356.615.500 đồng
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành và quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Nội dung kháng cáo: anh T kháng cáo không chấp nhận trả tiền lãi,
đồng thời yêu cầu một mình anh trả nợ cho chị T1.
Ý kiến Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư
phiên tòa: Thẩm phán thụ vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử
quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung,
thẩm quyền theo quy định của Bluật Ttụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: đều thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
- Về nội dung: đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Căn cứ
khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Thu H bị đơn, được Tòa án triệu tập hợp
lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chH
theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Nội dung Giấy biên nhận ngày 08-12-2020 do anh Nguyễn Văn T viết
có xác nhận của chị Võ Thị Thu T1. Nội dung giấy vay tiền thể hiện, ngày 08-12-
2020, anh T vay của chị T1 400.000.000 đồng, hứa trả trong hai năm kể từ
năm 2021, trả 06 tháng 01 lần 100.000.000 đồng. Như vậy, nội dung thỏa thuận
của các bên không thể hiện về tính lãi, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi k từ
ngày vay tiền 08/12/2020 không đúng. Tuy nhiên, căn cứ nội dung thỏa thuận
giữa các bên sở xác định, các bên thỏa thuận thời hạn vay, không lãi.
Do đó, tiền lãi được tính trong trường hợp này lãi chậm trả theo quy định tại
khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự, sau 06 tháng, nếu anh T, chị H không trả đủ
100.000.000 đồng thì chịu tiền lãi chậm trả với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tiền
lãi được tính lại như sau:
- 06 tháng đầu từ ngày 08-12-2021 đến ngày 08-6-2022: trả 93.500.000
đồng trong 06 tháng đầu năm 2021, đúng hạn nên không tính tiền lãi.
- Trong hạn 06 tháng tính từ ngày 09/6/2021 đến 08/12/2021: anh T phải
trả 100.000.000 đồng tiếp theo nhưng không trả nên chịu lãi chậm trả từ ngày
09/12/2021 đến ngày xét xử thm (ngày 29-7-2022) 07 tháng 20 ngày:
106.500.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng 20 ngày = 6.777.000 đồng;
4
- Trong hạn 06 tháng tính từ ngày 08/12/2021 đến ngày 08/6/2022: anh T
phải trả 100.000.000 đồng tiếp theo nhưng không trả nên chịu lãi chậm trả từ
ngày 09/7/2022 đến ngày xét xử thẩm (ngày 29-7-2022) 20 ngày:
100.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 20 ngày = 553.000 đồng;
Còn 100.000.000 đồng còn lại hết hạn vào ngày 08/12/2022, như vậy đến
nay chưa đến hạn nên không tính lãi.
[3] Tại phiên tòa, anh T trình bày, thu nhập kinh tế gia đình anh từ công
việc làm mộc của anh lương công nhân của chị H; anh vay tiền của chị T1 để
trang trả cho xưởng mộc. Như vậy, việc anh T vay tiền của chị T1 để phục vụ cho
nhu cầu kinh tế gia đình anh chị H. Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc chị H
cùng anh có nghĩa vụ trả nợ cho chị T1 là đúng pháp luật.
Kháng cáo của anh T được chấp nhận một phần; sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí sơ thẩm: qtrình thu thập chứng cứ tại Tòa án cấpthẩm,
phía chị T1 yêu cầu tính án phí từ ngày 08-12-2020 đến ngày xét xử thẩm với
mức lãi suất 0,83%/tháng với số tiền 50.115.500 đồng, nhưng Tòa án chỉ chấp
nhận 7.330.000 đồng. Do đó, chị T1 phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không
được chấp nhận là 42.785.500 đồng tiền lãi.
[5] Về án phí phúc thẩm: anh T không phải chịu án p phúc thẩm do
kháng cáo được chấp nhận một phần theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần
kháng cáo của anh Nguyễn Văn T; sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST
ngày 29 tháng 7 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 463, 466 Điều 468 Bộ luật dân s; Điều 27, Điều
37 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Thu T1 vtranh chấp hợp
đồng vay tài sản đối với anh Nguyễn Văn Tchị Nguyễn Thị Thu H:
Buộc anh Nguyễn Văn T chị Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ liên đới trả
cho chị Thị Thu T1 306.500.000 đồng tiền nợ gốc 7.330.000 đồng tiền lãi.
Tổng cộng 313.830.000 đồng (ba trăm mười ba triệu tám trăm ba ơi nghìn
đồng).
Ktừ ngày 30/7/2022 cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Văn T
chị Nguyễn Thị Thu H n phải trả cho chị Thị Thu T1 khoản tiền lãi của số
tiền 356.615.500 đồng phải thi hành án với mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Về án p dân sự sơ thẩm:
5
Anh Nguyễn n T chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 15.619.000 đồng
(mười lăm triệu sáu trăm mười chín nghìn).
Chị T1 phải chịu 2.119.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí ch
T1 đã nộp 19.631.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng),
theo Biên lai thu số 0007119 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh; còn hoàn lại cho chị T1 17.512.000 (mười bảy
triệu năm trăm mười hai nghìn) đồng.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: hoàn trả cho anh Nguyễn Văn T 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số
0007535, ngày 24-8-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh
Châu, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể tngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND huyn ;
- CCTTHADS huyện;
- Các đương sự;
- Lưu a DS;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ã ký)
Nguyễn Thị An Tiên
Tải về
Bản án số 292/2022/DS-PT Bản án số 292/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất