Bản án số 465/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 465/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 465/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 465/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim C "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị Á
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 463/2026/DS-PT
Ngày: 02-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
bà Đinh Thị Ngọc Yến
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Hữu Thái Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 984/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng
12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp E, L,
huyện C, tỉnh Long An (nay là số 799 Tổ A, xã R, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo ủy quyền của C (theo văn bản ủy quyền ngày
02/4/2026): ông Trương Võ Phi Long Anh V, sinh năm 1977.
- Bị đơn: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp E, L, huyện C,
tỉnh Long An (nay là xã R, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Á (theo văn bản ủy quyền 12/4/2024):
ông Nguyễn Khoa N, sinh năm 1978; địa chỉ: số A đường P, Phường A, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay số I đường P, phường G, Thành phố HChí
Minh).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thúy Á1, sinh năm
1995; địa chỉ thường trú: Tổ A, ấp P, P, huyện C, tỉnh Long An; địa chỉ liên
lạc: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã R, tỉnh Tây Ninh).
2
Người đại diện theo ủy quyền của Á1 (theo văn bản ủy quyền ngày
12/7/2024): ông Hoàng Đ, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: ấp L, M,
huyện C, tỉnh Tiền Giang; địa chỉ liên lạc: số A đường V, Phường C, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường G, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Kim C; bị đơn, bà Nguyễn
Thị Ánh .
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Tây
Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ghi ngày 17/01/2024, ngày 20/3/2024 và trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim C
người đại diện ông Lê Ngân G trình bày:
Vào ngày 15/3/2021, C vay tiền của Á số tiền 100.000.000 đồng,
thời hạn vay 01 năm, lãi suất 5%/tháng. Hai bên làm giấy vay tiền, nội
dung do C viết nhưng giấy vay tiền thì Á giữ. C trả lãi cho Á
bằng hình thức chuyển khoản cho Trần Thúy Á1 qua số tài khoản
040105480001 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1, cụ thể:
+ Ngày 02/4/2021, 1.500.000 đồng;
+ Ngày 01/5/2021, 1.500.000 đồng;
+ Ngày 02/5/2021, 500.000 đồng;
+ Ngày 07/5/2021, 2.000.000 đồng;
+ Ngày 10/7/2021, 2.000.000 đồng;
+ Ngày 14/5/2021, 1.500.000 đồng;
+ Ngày 20/5/2021, 2.000.000 đồng;
+ Ngày 19/6/2021, 11.000.000 đồng;
+ Ngày 06/7/2021, 300.000 đồng;
+ Ngày 15/7/2021, 350.000 đồng;
+ Ngày 19/8/2021, 119.000 đồng;
+ Ngày 15/9/2021, 350.000 đồng;
+ Ngày 20/10/2021, 100.000 đồng.
Do Chi T lãi không đầy đủ nên Á cộng phần tiền lãi chưa đóng vào
tiền vốn và tiếp tục tính lãi suất là 15%/tháng đối với số tiền lãi chưa đóng. Đến
ngày 30/11/2021, bà C thấy Á cộng dồn tiền lãi vào tiền vốn lên quá nhiều
khoảng 150.000.000 đồng, nên C xin Á trả vốn trước một phần, bà Á
đồng ý nên bà C chuyển khoản trả tiền gốc qua số tài khoản của Á1, cụ thể:
+ Ngày 30/11/2021, trả vốn 20.000.000 đồng.
+ Ngày 02/12/2021, trả vốn 15.000.000 đồng;
3
+ Ngày 06/12/2021, trả vốn 20.000.000 đồng;
+ Ngày 08/12/2021, trả vốn 10.000.000 đồng;
+ Ngày 14/12/2021, trả vốn 1.000.000 đồng;
+ Ngày 14/12/2021, trả vốn 5.000.0000 đồng;
+ Ngày 19/12/2021, trả vốn 5.000.000 đồng và tiền lãi là 5.000.000 đồng;
+ Ngày 20/12/2021, trả tiền lãi là 17.000.000 đồng;
+ Ngày 24/12/2021, trả lãi là 1.000.000 đồng.
Đến ngày 17/01/2022, C vay thêm Á số tiền 50.000.000 đồng
bà Á chốt nợ lại là 150.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm tính từ ngày
17/01/2022, mỗi tháng C đóng tiền lãi 8.000.000 đồng (trong đó, lãi suất đối
với số tiền 100.000.000 đồng 5%/tháng, lãi suất đối với số tiền 50.000.000
đồng 6%/tháng). Hai bên làm giấy vay tiền lại, giấy vay tiền C tviết
và đưa cho bà Á giữ, Á chỉ chụp hình giấy vay tiền gửi lại cho bà C.
Chi trả lãi cho Á bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản của
Á1, cụ thể:
+ Ngày 14/02/2022, trả lãi 300.000 đồng.
+ Ngày 12/3/2022, trả lãi 300.000 đồng;
+ Ngày 11/5/2022, trả lãi 270.000 đồng;
+ Ngày 20/5/2022, trả lãi 4.400.000 đồng;
+ Ngày 12/6/2022, trả lãi 300.000 đồng;
+ Ngày 14/6/2022, trả lãi 3.000.000 đồng;
+ Ngày 17/6/2022, trả lãi 6.000.000 đồng;
+ Ngày 23/7/2022, trả lãi là 4.000.000 đồng;
+ Ngày 12/8/2022, trả lãi 5.000.000 đồng;
+ Ngày 14/8/2022, C xin Á trả trước một phần tiền vốn, Á đồng ý
nên bà C chuyển khoản trả vốn 50.000.000 đồng (trong số tiền 150.000.000
đồng theo giấy vay tiền ngày 17/01/2022).
+ Ngày 19/8/2022, trả lãi 3.000.000 đồng;
+ Ngày 26/8/2022, trả lãi 5.000.000 đồng;
+ Ngày 10/9/2022, trả lãi 2.500.000 đồng;
+ Ngày 12/9/2022, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 17/9/2022, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 20/9/2022, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 10/10/2022, trả lãi là 5.000.000 đồng;
+ Ngày 14/10/2022, trả lãi 1.500.000 đồng;
4
+ Ngày 18/10/2022, trả lãi là 500.000 đồng;
+ Ngày 08/11/2022, trả lãi 3.000.000 đồng;
+ Ngày 09/11/2022, trả vốn 2.000.000 đồng (trong số tiền vốn 100.000.000
đồng);
+ Ngày 20/11/2022, bà Chi trả lãi 750.000 đồng;
+ Ngày 30/11/2022, bà Chi trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 08/12/2022, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 10/12/2022, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 11/12/2022, trả lãi 750.000 đồng;
+ Ngày 12/12/2022, trả lãi là 500.000 đồng;
+ Ngày 13/12/2022, trả lãi 700.000 đồng;
+ Ngày 14/12/2022, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 16/12/2022, trả lãi 1.300.000 đồng;
+ Ngày 17/12/2022, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 14/12/2022, trả lãi 750.000 đồng;
+ Ngày 20/12/2022, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 14/12/2022, trả lãi 600.000 đồng;
+ Ngày 07/01/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 09/01/2023, trả lãi 750.000 đồng;
+ Ngày 10/01/2023, trả lãi 300.000 đồng;
+ Ngày 13/01/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 14/01/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 18/01/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 20/01/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 23/01/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 08/02/2023, trả lãi 700.000 đồng;
+ Ngày 10/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 11/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 12/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 13/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 14/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 114/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 15/02/2023, trả lãi 700.000 đồng;
5
+ Ngày 18/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 19/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 20/02/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 21/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 23/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 27/02/2023, trả lãi 1.000.000 đồng;
+ Ngày 14/4/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 23/4/2023, trả lãi 500.000 đồng;
+ Ngày 21/5/2023, trả lãi 500.000 đồng.
Tất cả những lần trả lãi, C đều không trả đủ số tiền lãi 02 bên thỏa
thuận. Đến ngày 21/4/2023 âm lịch (tức ngày 08/6/2023 dương lịch), giữa C
và bà Á chốt nợ lại một lần nữa, Á cộng tiền vốnlãi mà bà C còn thiếu
thông báo số tiền C còn thiếu Á 191.000.000 đồng và yêu cầu C viết
Giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch Á đã cung cấp cho Tòa án, thỏa
thuận C trách nhiệm trả góp hàng tháng cho Á 10.000.000
đồng/tháng tính ngày 01/5/2023 âm lịch (tức ngày 18/6/2023 dương lịch).
C đã thực hiện việc trả tiền theo Giấy cam kết, hình thức chuyển khoản
qua tài khoản của Á số tài khoản 6605205123662 từ ngày 18/6/2023 đến
ngày 30/9/2023 tổng cộng 16.830.000 đồng, gồm:
+ Ngày 18/6/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 21/6/2023, trả vốn 1.000.000 đồng;
+ Ngày 29/6/2023, trả vốn 2.500.000 đồng;
+ Ngày 23/7/2023, trả vốn 2.000.000 đồng;
+ Ngày 25/7/2023, trả vốn 400.000 đồng;
+ Ngày 27/7/2023, trả vốn 600.000 đồng;
+ Ngày 05/8/2023, trả vốn 1.000.000 đồng;
+ Ngày 12/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 19/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 20/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 21/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 22/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 25/8/2023, trả vốn 350.000 đồng;
+ Ngày 27/8/2023, trả vốn 480.000 đồng;
+ Ngày 29/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 30/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
6
+ Ngày 31/8/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 09/9/2023, trả vốn 1.000.000 đồng;
+ Ngày 15/9/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 16/9/2023, trả vốn 500.000 đồng;
+ Ngày 30/9/2023, trả vốn 2.000.000 đồng.
Số tiền vốn vay 150.000.000 đồng, theo thống giao dịch chuyển khoản
từ ngày 02/4/2021 đến ngày 30/9/2023, thì C đã trả cho bà Á tổng cộng
264.419.000 đồng, gồm 143.830.000 đồng vốn và 120.589.000 đồng lãi.
C yêu cầu Tòa án xem xét lại số tiền lãi mà bà C đã đóng theo quy định
pháp luật tính từ ngày 02/4/2021 đến ngày 30/9/2023 như sau: 150.000.000
đồng x 20%/năm x 02 năm 05 tháng 28 ngày = 74.833.333 đồng. Tổng gốc vay
lãi C phải trả theo quy định 224.833.333 đồng. Do đó, C yêu cầu
Á phải trả lại C số tiền nhận thừa 39.585.667 đồng (= 264.419.000đ -
224.833.333đ).
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19/9/2025, người đại diện theo ủy quyền của bà
C cho rằng bà C chỉ vay của Á số tiền 100.000.000 đồng đồng ý trả lãi
80.000.000 đồng, nên yêu cầu Á trả lại cho C số tiền 84.000.000 đồng
lãi suất theo quy định pháp luật.
Theo các đơn phản tố ghi ngày 01/7/2024, 17/7/2024, 17/12/2024 trong
quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Á người đại
diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Khoa N trình bày:
Á cho C vay tiền nhiều lần, không làm giấy vay tiền, hai bên
có thỏa thuận lãi suất nhưng không nhớ được lãi suất bao nhiêu, mỗi lần vay tiền
đều thỏa thuận miệng là 01 tháng sẽ trả tiền. Trong khoảng thời gian vay tiền, bà
C trả lãi cho bà Á, nhưng Á không nhớ được đã trả lãi bao nhiêu. Hết
thời hạn vay tiền, bà C không trả được khoản tiền vốn nào cho bà Á.
Đến năm 2023, C đến gặp bà Á nói không khả năng đóng lãi
xin trả dần vốn, Á đồng ý. Vì vậy, C mới viết Giấy cam kết đề ngày
21/4/2023 âm lịch (tương ứng ngày 08/6/2023 dương lịch) để chốt lại số nợ gốc
giữa bà Á và bà C 191.000.000 đồng và bà C cam kết trả dần số tiền
191.000.0000 đồng theo tháng, mỗi tháng trả 10.000.000 đồng cho đến khi hết
số tiền nợ gốc, số tiền gốc trả hàng tháng 10.000.000 đồng cũng C tự đề
xuất, bắt đầu trả góp vào ngày 01/5/2023 âm lịch. Giấy cam kết do C tự viết
tên. Hai bên thỏa thuận miệng C phải trả lãi 5%/tháng đối với số
tiền 191.000.000 đồng, nếu C trả được tiền vốn thì tiền lãi sẽ được tính
5%/tháng trên số tiền vốn còn lại.
Sau khi viết giấy cam kết, C trả lãi cho Á vài lần trả thông qua
số tài khoản của bà Trần Thúy Á1 con gái của Á, nhưng Chi trả lãi
không đủ trả nhiều lần, nên Á cũng không nhớ được tổng số tiền lãi đã
nhận của bà C là bao nhiêu.
7
Việc C xác định chỉ vay tiền của Á 150.000.000 đồng không
căn cứ, bởi các bên đã chốt nợ vào ngày 21/4/2023 âm lịch C n nợ
Á số tiền 191.000.000 đồng tiền vốn, các lần vay trước đó đã xong.
C trình bày trả vốn và trả lãi cho Á theo các chứng từ chuyển tiền
trong năm 2022 năm 2023 phù hợp với các lần vay trước đó giữa C
Á. Tuy nhiên, đến ngày 21/4/2023 âm lịch thì giữa Á C đã chốt nợ
theo Giấy cam kết, bà C xác định còn nợ tiền vốn của bà Á là 191.000.000 đồng.
Do đó, bà Á yêu cầu Chi T số tiền vốn vay còn nợ 191.000.000 đồng
và yêu cầu tính tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng tạm tính tới thời điểm ngày
01/12/2024 là 19 tháng với số tiền 60.240.000 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi
cho đến khi trả hết nợ.
Tại phiên tòa thẩm ngày 19/9/2025, đại diện Á yêu cầu Chi T số
tiền còn nợ 191.000.000 đồng tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm tạm tính
từ ngày 08/6/2023 đến 01/12/2024 yêu cầu tiếp tục trả lãi cho đến khi trả hết
nợ. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu tính lãi của Á thì Á yêu
cầu tính lãi chậm trả đối với số tiền 191.000.000 đồng từ ngày 18/6/2023 theo
quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Trần Thúy Á1 do ông Hoàng Đ người đại diện theo ủy
quyền trình bày:
Á1 con ruột của Nguyễn Thị Ánh . Á1 có biết bà Á C
vay tiền qua lại với nhau nhưng số tiền vay bao nhiêu, thời điểm vay, lãi suất
thời hạn vay thì Á1 không biết. Á1 chủ số tài khoản 04010548001, mở
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1, nhưng bà Á1 không sử dụng thẻ ATM
tài khoản này Á sdụng. vậy, Á1 không biết C đã chuyển
khoản bao nhiêu lần, chuyển vào tài khoản này bao nhiêu tiền và cũng không để
ý những lần C chuyển tiền vào tài khoản tiền gì. Khi C chuyển tiền vào
tài khoản này thì bà C Á tự thông báo cho nhau biết Á tự đi rút tiền
ra.
Tại Bản án dân sự thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6-Tây Ninh đã xử:
Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 91; Điều 147; khoản 1 Điều 227 ; Điều 244 ; Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 5, Điều 6, Điều 9, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 12,
Điều 26 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim
C đối với Nguyễn Thị Á về việc yêu cầu Nguyễn Thị Á trả lại số tiền
84.000.000 đồng.
8
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Á đối với
Nguyễn Thị Kim C.
Buộc Nguyễn Thị Kim Chi T cho Nguyễn Thị Á số tiền 174.170.000
(Một trăm bảy mươi triệu, một trăm bảy mươi) đồng, trả làm một lần ngay
khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy
định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân s2015 đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chưa thi hành án.
Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tcủa Nguyễn Thị Á đối với
Nguyễn Thị Kim C về việc yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 20%/năm tính từ
ngày 08/6/2023 đến ngày 01/12/2024 số tiền là 60.240.000 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tcủa Nguyễn Thị Á đối với
Nguyễn Thị Kim C về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Chi T số tiền
16.830.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.908.500 đồng.
Chuyển số tiền tạm ứng án phí 1.188.250 đồng, Nguyễn Thị Kim C đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010478 ngày 22/4/2024 của
Chi cục Thi hành án dân shuyện Cần Đước, tỉnh Tây Ninh (nay Phòng thi
hành án dân sự khu vực 6 Tây Ninh). Nguyễn Thị Kim C còn phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm 11.718.675 đồng.
Nguyễn Thị Á phải chịu án phí dân sự thẩm 3.853.500 đồng.
Chuyển số tiền tạm ứng án phí do Nguyễn Thị Á nộp 7.311.445 đồng theo
các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002640 ngày 09/11/2023,
0010189 ngày 08/3/2024, 0012100 ngày 22/7/2024, 0012916 ngày 17/12/2024
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Tây Ninh (nay Phòng
thi hành án dân sự khu vực 6 Tây Ninh). H lại cho Nguyễn Thị Á số tiền
còn thừa là 3.457.945 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc
thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/9/2025 và ngày 06/10/2025, bà Nguyễn Thị Á do ông Nguyễn
Khoa N đại diện theo ủy quyền kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Ngày 22/9/2025, Nguyễn Thị Kim C kháng cáo toàn bộ bản án dân sự
sơ thẩm.
Ngày 03/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Tây
Ninh kháng nghị một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Trương Phi L Anh V Nguyễn Thị Kim C thống nhất trình
9
bày: số tiền 191.000.000 đồng ghi trên giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch
thực chất là nợ lãi cộng dồn vào nợ gốc. Từ ngày 21/4/2021 đến ngày 30/9/2023,
C đã chuyển khoản trả cho Á được tổng cộng số tiền 264.149.000 đồng,
trong khi nợ gốc vay của bà C chỉ 100.000.000 đồng. C đồng ý trả cho
Á nợ gốc 80.000.000 đồng tiền lãi, nên yêu cầu Á phải trả lại cho C số
tiền đã trả thừa 84.000.000 đồng. Mặc trên giấy cam kết ngày 21/4/2023
âm lịch không thỏa thuận lãi, nhưng C Á thỏa thuận trả lãi với mức
lãi suất 5%/tháng. Trong tổng số tiền C đã chuyển khoản, thì từ ngày
18/6/2023 đến ngày 30/9/2023 được 16.830.000 đồng trả ½ trả gốc và ½ trả
lãi của số tiền nợ 191.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Khoa N trình bày: k từ khi C viết giấy cam kết ngày
21/4/2023 âm lịch, thì C Á đã chốt nợ tất toán các khoản vay trước
đó. Số tiền 191.000.000 đồng nợ gốc, 02 bên thỏa thuận miệng lãi suất
5%/tháng. Số tiền C đã chuyển khoản trả cho Á từ ngày 18/6/2023 đến
ngày 30/9/2023 là 16.830.000 đồng, Á chấp nhận ý kiến của bà C là trong đó
½ trả gốc ½ trả lãi. Do đó, Á yêu cầu Chi trả số tiền nợ gốc còn lại
tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 10%/năm, tính ktừ ngày 01/10/2023
đến khi trả nợ xong.
Ông Hoàng Đ trình bày: Á1 không tranh chấp hay yêu cầu trong
vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn, Nguyễn Th
Kim C; bị đơn Nguyễn Thị Á kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 6-Tây Ninh đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung: trong đơn khởi kiện, bà Á đã yêu cầu tính lãi chậm trả cho
đến khi Chi trả xong nợ. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét không đúng,
nên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Tây Ninh
có căn cứ. Bà C không chứng minh được trong số tiền 191.000.000 đồng tại giấy
cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch nợ lãi nhập gốc, hai bên đã chốt nợ kể từ
ngày lập giấy cam kết, nên đề nghị bác kháng cáo của C. Tại phiên tòa phúc
thẩm, C đại diện bà Á thừa nhận thỏa thuận mức lãi suất 05%/tháng;
đại diện Á thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đồng ý khấu trừ số tiền
16.830.000 đồng C đã chuyển khoản cho Á từ ngày 18/6/2023 đến
ngày 30/9/2023 vào nợ gốc tiền lãi không vượt quá phạm vi khởi kiện ban
đầu của Á. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà
Á và kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim C, bị đơn
Nguyễn Thị Á và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
6-Tây Ninh thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 276, 278,
279 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi
10
kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng
cáo; Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên kháng nghị. Các đương sự không tự thỏa
thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục
phúc thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn, Nguyễn Thị Á, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Trần Thúy Á1 vắng mặt, nhưng người đại
diện theo ủy quyền có mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Nguyễn Thị Á kháng cáo và Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Tây Ninh kháng nghị một phần bản án
sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Kim C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ Điều
293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ
án.
[4] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: căn cứ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn yêu cầu phản tố của bị đơn, thì các bên phát sinh tranh chấp về
giao dịch vay tài sản được xác lập thực hiện vào khoảng thời gian năm 2021-
2023. Do đó, áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 các văn bản hướng dẫn thi
hành luật có liên quan để giải quyết vụ án.
[5] Về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Nguyễn Thị Kim C và Nguyễn Thị Á thừa
nhận giữa C Á mối quan hệ vay tiền nhiều lần với nhau (bút lục số
434, 435); giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch do C viết và tên, mục
đích của việc viết giấy cam kết là để chốt nợ của các khoản vay mà C đã vay
của Á trước đó (bút lục số 434); lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng; số tiền bà C
đã chuyển khoản trả cho Á từ ngày 18/6/2023 đến ngày 30/9/2023
16.830.000 đồng, trong đó ½ trả gốc và ½ trả lãi.
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim C và bà Nguyễn Thị Á về số tiền gốc
vay
[6] Đối với trình bày của Nguyễn Thị Kim C cho rằng chỉ nợ gốc vay
100.000.000 đồng và đã trả thừa tiền lãi, được khấu trừ vào nợ gốc nên hiện nay
không còn nÁ, thấy rằng: trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm, C trình bày vào các ngày 15/3/2021, 30/11/2021, 17/01/2022, C
vay tiền của Á, số tiền lãi vay từ các khoản vay này được cộng dồn vào nợ
gốc thành số tiền 191.000.000 đồng, nhưng C không cung cấp được bất kỳ
bản chính (bản gốc) của các giấy vay tiền này. C không xác định được các
lần trả lãi là trả lãi cho tháng nào (bút lục số 435). Bà C cũng không chứng minh
được đã bị ép buộc khi viết tên vào giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch.
Do đó, không căn cứ để chấp nhận ý kiến trình bày của C rằng số tiền
191.000.000 đồng trong giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch là tiền nợ lãi
cộng dồn vào nợ gốc.
[7] Đối với kháng cáo của Á yêu cầu Chi trả nợ gốc đủ 191.000.000
đồng, thấy rằng: mặc trong giấy cam kết ngày 21/4/2023 âm lịch, các bên
11
không thỏa thuận về trả lãi, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm C đại diện bị
đơn đã thừa nhận lãi suất hai bên thỏa thuận 5%/tháng. Theo sao do Ngân
hàng N1 Chi nhánh C1 cung cấp, từ ngày 18/6/2023 đến ngày 30/9/2023 C
đã chuyển khoản cho Á được tổng số tiền 16.830.000 đồng. Á C
thống nhất xác định số tiền 16.830.000 đồng bà C đã chuyển khoản trả nợ gốc ½
nợ lãi ½ (= 8.415.000 đồng) của khoản vay 191.000.000 đồng. Tại phiên tòa
phúc thẩm, đại diện Á yêu cầu Chi T số nợ gốc còn lại, sau khi trừ đi số
tiền gốc đã trả 8.415.000 đồng, căn cứ. Như vậy, tính đến ngày 30/9/2023,
số tiền nợ gốc C còn nợ 182.585.000 đồng (= 191.000.000đ - 8.415.000đ).
Do đó, chấp nhận kháng cáo của bà Á về phần này.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát khu vực 6-Tây Ninh về tiền lãi và lãi suất
[8] Theo các đơn phản tố, Á yêu cầu Chi trả lãi với mức lãi suất
20%/năm cho đến khi trả xong nợ gốc lãi. Như vậy, việc Tòa án cấp thẩm
nhận định Á không yêu cầu nên không tính lãi chậm trả cho Á,
không chính xác. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của Á C đã thống
nhất xác định thỏa thuận trả lãi với mức lãi suất 5%/tháng đại diện bà Á
yêu cầu Chi trả lãi trên số nợ gốc còn lại từ ngày 01/10/2023 đến khi trả nợ
xong, với mức lãi suất 10%/năm. Yêu cầu này của bà Á là phù hợp với quy định
tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 lợi hơn cho C,
nên được chấp nhận. Nvậy, số tiền lãi C phải trả cho Á 35.967.000
đồng (= 182.585.000đ x 10%/năm x 719 ngày). Tổng cộng gốc lãi C phải
trả cho bà Á 218.552.000 đồng.
[9] T nhận định tại các đoạn [6], [7], [8] Hội đồng xét x phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Kim C; chấp nhận kháng cáo
của Nguyễn Thị Á và chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 6-Tây Ninh.
[10] Tuy nhiên, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án của
đương sự. Việc bản án thẩm tuyên buộc C phải trả tiền cho Á làm một
lần ngay khi bản án hiệu lực pháp luật, không phù hợp quy định tại Điều 6,
Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, nên
Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về cách tuyên án.
[11] Về án phí dân sự thẩm: buộc Nguyễn Thị Kim C phải chịu án
phí do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận chịu án phí trên số tiền yêu
cầu phản tố của Nguyễn Thị Á được chấp nhận, cụ thể: (84.000.000đ +
182.585.000đ + 35.967.000đ) x 5%. Nguyễn Thị Á không phải chịu án p
và được hoàn trả tạm ứng.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của Nguyễn Thị Á được
chấp nhận nên Á không phải chịu được hoàn trả tiền tạm ứng án pphúc
thẩm. Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
12
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, Điều 147, Điều 148 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 288, Điều
357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim C.
3. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ánh .
4. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
6-Tây Ninh.
5. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Tây Ninh:
5.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim C về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Á trả lại số tiền 84.000.000 đồng.
5.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Ánh .
5.3. Buộc Nguyễn Thị Kim Chi T cho Nguyễn Thị Á số tiền tổng
cộng 218.552.000đ (hai trăm mười tám triệu năm trăm năm mươi hai ngàn
đồng), trong đó nợ gốc vay 182.585.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu năm
trăm tám mươi lăm ngàn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2025 là 35.967.000
đồng (ba mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: ktngày tiếp theo của ngày xét x
thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất 10%/năm.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
7.1. Buộc Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí dân sự thẩm
15.127.600 đồng, được khấu trừ vào số tiền 1.188.250 đồng tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0010478 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An (nay Phòng thi hành án dân sự khu
vực 6 Tây Ninh). Nguyễn Thị Kim C còn phải nộp tiếp số tiền án phí quy
tròn là 13.939.000đ (mười ba triệu chín trăm ba mươi chín ngàn đồng).
7.2. Nguyễn Thị Á không phải chịu án phí được hoàn trả số tiền
7.311.445 đồng (bảy triệu ba trăm mười một ngàn bốn trăm bốn mươi lăm đồng)
tổng cộng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0002640 ngày
09/11/2023, số 0010189 ngày 08/3/2024, số 0012100 ngày 22/7/2024 và s
0012916 ngày 17/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh
Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Tây Ninh).
8. Án phí dân sự phúc thẩm:
13
8.1. Buộc Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn
đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 0005038 ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
8.2. Nguyễn Thị Á không phải chịu được hoàn trả số tiền 300.000
đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005048
ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh
9. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
10. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 6-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 6-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Tải về
Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 465/2026/DS-PT Bản án số 465/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất