Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 271/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 271/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bị đơn kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 271 /2026/DS-PT
Ngày: 17 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên toà:
Các Thẩm phán:
bà Hoàng Ngọc Liễu
ông Nguyễn Mạnh Hùng
ông Nguyễn Quang Tuấn
- Thư ký phiên toà: bà Lò Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà
Khà Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2026/TLPT - DS ngày 08 tháng
6 năm 2026 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2026/DS - ST ngày 24 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 205/2026/QĐ-PT
ngày 20/7/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng
V3). Địa chỉ: Tầng A và B Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Hà Hoàng H – Chức vụ: Giám đốc
Trung tâm X, Khối xử lý nợ của V3.
Người đại diện theo ủy quyền lại: bà Đinh Phương T, bà Hoàng Thị Hồng
V1 - CCCD: ************, bà Hà Thị Bình D - cán bộ Ngân hàng. Địa chỉ: tầng
A tòa nhà C, số D T, phường K, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: ông Bùi Văn M, sinh năm 1976 - CCCD: ************ và bà
Bùi Thị H1, sinh năm 1981- CCCD: ************ (bà H1 đồng thời là Người
đại diện theo ủy quyền cho ông M). Cùng địa chỉ: Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ.
2
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Chị Bùi Thị Huyền M1, sinh năm 2004 - CCCD: ************ và
chị Bùi Thị Huyền N, sinh năm 2012. Người đại diện của chị M1, chị N: bà Bùi
Thị H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ.
3.2. Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Phú Thọ.
4. Người kháng cáo: bị đơn Bùi Thị H1.
Tại phiên tòa, bà Hoàng Thị Hồng V1 có mặt. Ông V, ông H, bà T, bà D,
ông M, bà H1, chị M1, chị N và Ủy ban nhân dân xã H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo nội dung Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và
tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng V3 trình bày:
Ngày 28/4/2022, Ngân hàng V3 và ông Bùi Văn M, bà Bùi Thị H1 ký
Hợp đồng tín dụng số 3995538.22, số tiền vay là 1.500.000.000 đồng; giải ngân
ngày 29/04/2022; Mục đích vay vốn: Vay mua nhận chuyển nhượng bất động sản
thửa đất 13, tờ bản đồ số 289 tại L, huyện K, tỉnh Hòa Bình cũ; Thời hạn vay: 276
tháng, từ ngày 30/04/2022 đến 29/04/2045; Phương thức cho vay: Cho vay từng
lần; Phương thức giải ngân: Chuyển khoản trực tiếp vào số tài khoản 357838988,
chủ tài khoản tên Bùi Thị H1; Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,7%/năm, lãi
suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở trong kỳ
theo sản phẩm + 3,7%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ
ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều
chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở trong kỳ theo sản phẩm cộng biên
độ 3,7%/năm. Hoàn trả tín dụng gốc và lãi vào ngày 25 háng tháng, mỗi tháng trả
5.434.000 đồng gốc. Ngày đầu trả nợ là 25/5/2022. Khoản nợ này đã chuyển nợ
quá hạn vào ngày 25/09/2023.
Ngày 03/02/2023, bà Bùi Thị H1 yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng với
hạn mức là 75.000.000 đồng; Số tài khoản thẻ: 048228; Chủ tài khoản thẻ: Bùi
Thị H1. Trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết thì Ngân hàng
V3 có quyền thu hồi nợ trước thời hạn đối với các khoản vay nêu trên.
Tài sản bảo đảm cho 02 khoản vay nêu trên là Quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 60, diện tích 628,4m
2
; địa chỉ đất
tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CS 510640; Số vào sổ cấp GCN: CH00083 do Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 12/11/2019 cho hộ bà Bùi Thị H1. (Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số công chứng 869, quyển số
02/2022/TP/CC/-SCC/HĐ ngày 28/04/2022).
3
Do bà H1, ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng V3 đã
nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bà H1 và ông M không trả. Vì vậy, Ngân hàng
V3 khởi kiện bà Bùi Thị H1, ông Bùi Văn M, cụ thể:
Yêu cầu bà H1, ông M có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ gốc và lãi tạm
tính đến ngày 24/04/2026 đối với Hợp đồng tín dụng số 3995538.22 ký ngày
28/04/2022, tổng số tiền là 2.123.966.869 đồng (Hai tỷ, một trăm hai mươi ba
triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ
gốc 1.351.220.000 đồng; Lãi trong hạn là 102.340.754 đồng; Lãi quá hạn là
646.979.858 đồng và lãi chậm trả tiền lãi trong hạn 23.426.257 đồng; Yêu cầu bà
H1, ông M có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo thẻ tín dụng cấp ngày
03/2/2023; Yêu cầu tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín
dụng cho đến khi bà H1, ông M thực tế thanh toán hết mọi khoản nợ cho V3. Đối
với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt Giấy CNQSD đất) số CS
510640; Số vào sổ cấp GCN: CH00083 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày
12/11/2019 cho hộ bà Bùi Thị H1 thuộc diện phải thu hồi theo Kết luận số
66/KL-TTr ngày 05/12/2023 của Tranh tra tỉnh H (nay là tỉnh Phú Thọ) do cấp
sai mục đích sử dụng nhưng bà H1, ông M đã ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp
đồng thế chấp với VIB ngày 28/04/2022 và ngày 03/02/2023 trước thời điểm
Giấy CNQSD đất bị thu hồi nên đề nghị Tòa án xem xét hiệu lực của Hợp đồng
thế chấp, trên cơ sở đó yêu cầu Tòa án tuyên Ngân hàng V3 được quyền tự bán
tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý
tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp bà H1, ông M không thực hiện
được hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ngày
06/11/2025 người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn, ông Đồng Phú V2 bổ
sung yêu cầu khởi kiện, theo đó yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H có trách nhiệm
cấp đổi lại Giấy CNQSD đất mới cho hộ bà H1, phải giữ nguyên hiện trạng về
diện tích và mục đích sử dụng đất ở là 200m
2
như đã được cấp trước đó. Đối với
chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi cấp đổi lại Giấy CNQSD đất mới, đề
nghị Ủy ban nhân dân xã phải có trách nhiệm chịu chi phí này do Ủy ban nhân
dân huyện K cũ cấp sai sổ đỏ cho hộ bà H1.
Quá trình giải quyết vụ án, bà H1 đã thanh toán trả toàn bộ nợ gốc và các
khoản tiền phí của khoản nợ đối với thẻ tín dụng cấp ngày 03/2/2023 nên tại
phiên tòa sơ thẩm Ngân hàng V3 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản
nợ thẻ tín dụng.
Bị đơn bà Bùi Thị H1 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn Bùi Văn M và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị
Huyền M1 và Bùi Thị Huyền N trình bày:
4
Bà thừa nhận bà và chồng bà là ông Bùi Văn M có vay tiền của Ngân
hàng V3 theo Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ
và Đề nghị cấp thẻ tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất như ý kiến của đại diện Ngân hàng V3 đã trình bày; số tiền vay, lãi
suất, thời hạn vay và kỳ hạn trả nợ, mục đích vay và tài sản bảo đảm đúng như
nội dung hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Vợ chồng bà có chậm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ tuy nhiên không xuất phát từ ý chí trốn tránh nghĩa vụ mà do làm ăn khó
khăn và nguyên nhân khách quan liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản bảo
đảm. Nay Ngân hàng V3 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải liên đới trả nợ gốc
và lãi tạm tính đến ngày 24/04/2026 với tổng số tiền 2.123.966.869 đồng (Hai tỷ
một trăm hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm sáu mươi
chín đồng), bà H1 đồng ý trả nợ và cũng đồng ý tiếp tục thanh toán tiền lãi theo
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thực tế thanh toán hết mọi khoản
nợ. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên bà đề nghị Ngân hàng xem xét giảm nợ lãi
quá hạn và tạo điều kiện để gia đình bà thu xếp trả nợ dần. Bà không đồng ý phát
mại tài sản thế chấp mà đề nghị tạm dừng việc xử lý tài sản thế chấp cho đến khi
hoàn tất thủ tục thu hồi cấp đổi Giấy CNQSD đất theo quy định pháp luật.
Người đại diện ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Phú Thọ ông
Bùi Trọng N1 trình bày :
Ngày 12/11/2019, Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình (cũ) đã cấp
Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS
510640; Số vào sổ cấp GCN: CH00083 cho hộ bà Bùi Thị H1 đối với thửa đất số
17, tờ bản đồ số 60, diện tích 628,4m
2
trong đó có 200m
2
đất ở và 428,4m
2
đất
trồng cây lâu năm
tại địa chỉ: Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hòa Bình cũ. Thửa đất có
nguồn gốc do bao chiếm đất nông lâm trường quản lý, sử dụng. Việc cấp Giấy
CNQSD đất cho hộ bà H1 là không đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106
Luật Đất đai năm 2013 và quy định tại điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm
2024. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay theo Quyết số 354/QĐ-UBND ngày
03/3/2025 của Ủy ban nhân dân huyện K về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 huyện K thì cả diện tích đất ở và đất trồng cây lâu
năm tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 60 đứng tên hộ bà Bùi Thị H1 đều đã phù
hợp với quy hoạch sử dụng đất tại địa phương. Vì vậy việc thu hồi để cấp lại Giấy
CNQSD đất mới cho hộ bà Bùi Thị H1 theo quy định pháp luật không làm mất đi
quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Bùi Thị H1 theo Giấy CNQSD đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 510640 do Ủy ban nhân dân
huyện K (cũ) đã cấp ngày 12/11/2019. Hạn mức đất ở của hộ bà Bùi Thị H1 khi
cấp lại có thể được cấp tối đa là 400m
2
. Tuy nhiên do khi làm thủ tục cấp Giấy
CNQSD đất đối với thửa đất thửa số 17, tờ bản đồ số 60, hộ bà H1 đã kê khai
5
không đúng về nguồn gốc đất (Theo Biên bản làm việc về việc cấp Giấy chứng
nhận lần đầu đối với các hộ gia đình, cá nhân tại thị trấn B theo Kết luận 66/KL-
TTr ngày 05/12/2023 của Thanh tra tỉnh Hòa Bình). Vì vậy, để được giữ nguyên
200m
2
đất ở thì hộ gia đình bà Bùi Thị H1 phải có nghĩa vụ nộp thêm các khoản
thuế, phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất là 4.500.000đ/1m
2
theo Quyết định số
01/2025/QĐ-UB ngày 01/1/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh H về việc sửa đổi bổ
sung một số điều liên quan đến các quy định về bảng giá các loại đất trên địa bàn
tỉnh Hòa Bình. Khi làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CS 510640 ngày 12/11/2019 hộ bà Bùi Thị H1 đã
nộp 50% lệ phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 200m
2
đất ở là
80.000.000 đồng. Nay theo quy định hiện hành để được cấp lại 200m
2
đất ở như
cũ thì hộ bà H1 sẽ phải nộp tổng cộng 900.000.000 đồng, tương đương
4.500.000đ/1m
2
và được đối trừ 80.000.000 đồng đã nộp trước đây. Nếu không
nộp tiền thì khi cấp lại Giấy CNQSD đất mới hộ bà Bùi Thị H1 chỉ được cấp diện
tích đất theo Bìa cũ là 628,4m
2
và toàn bộ là đất trồng cây lâu năm. Ủy ban nhân
dân xã H, tỉnh Phú Thọ là cơ quan có thẩm thu hồi Giấy CNQSD đất cũ và cấp lại
Giấy CNQSD đất mới cho hộ bà Bùi Thị H1 theo quy định pháp luật.
Ủy ban nhân dân xã H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng V3 về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H phải có trách nhiệm cấp lại Giấy
CNQSD đất mới theo đúng hiện trạng diện tích và mục đích sử dụng như bìa cũ
và phải chịu mọi khoản chi phí cấp đổi lại Giấy CNQSD đất vì theo quy định
pháp luật, chủ sử dụng đất phải có nghĩa vụ nộp các khoản thuế, phí chuyển đổi
mục đích sử dụng đất. Khi hộ bà H1 nộp đầy đủ các khoản thuế, phí thì Ủy ban
nhân dân xã H sẽ có trách nhiệm cấp lại Giấy CNQSD đất cho hộ bà H1 theo
đúng quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 Tòa án nhân
dân khu vực 13- Phú Thọ quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227;
Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 280; Điều 288; Điều 292; Điều 293; Điều 298; Điều 299; Điều
317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 323; Điều 401;
Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 500; Điều 501 Điều 502 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
6
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu
ông Bùi Văn M và bà Bùi Thị H1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ theo yêu cầu cung
cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 03/02/2023.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc ông Bùi Văn
M và bà Bùi Thị H1 phải liên đới thanh toán trả Ngân hàng thương mại cổ phần
Q số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/04/2026 đối với Hợp đồng tín dụng
số 3995538.22 ngày 28/04/2022 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ
số 8121025.22 ngày 29/4/2022, tổng cộng 2.123.966.869 đồng (Hai tỷ, một trăm
hai mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng).
Trường hợp ông Bùi Văn M, bà Bùi Thị H1 không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V3 được quyền tự bán tài sản
bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản
bảo đảm để thu hồi nợ đối với: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 17, tờ bản đồ số 60, diện tích 628,4m
2
; địa chỉ đất tại thôn Đ, xã N,
huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 510640;
Số vào sổ cấp GCN: CH00083 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày
12/11/2019 cho hộ bà Bùi Thị H1 và tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm
thi hành án. (Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất, số công chứng 869, quyển số 02/2022/TP/CC/-SCC/HĐ ngày
28/04/2022).
Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án
phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/5/2026, bà Bùi Thị H1 kháng cáo đề nghị Sửa bản án dân sự sơ
thẩm theo hướng không cho phép Ngân hàng tự bán tài sản bảo đảm khi tài sản
chưa đủ điều kiện pháp lý. Chưa xử lý tài sản thế chấp cho đến khi hoàn tất việc
thu hồi, cấp lại Giấy chứng nhận và thực hiện nghĩa vụ tài sản. Cho phép được trả
nợ theo lộ trình phù hợp, xem xét giảm lãi, miễn lãi phạt. Trường hợp cần thiết,
đề nghị hủy một phần liên quan đến xử lý tài sản để xem xét lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp tụng
dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội, bác
kháng cáo của bị đơn Bùi Thị H1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số:
7
12/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ. Về
án phí, bà H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố
tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các Bị đơn thanh toán số tiền còn nợ
theo Hợp đồng tín dụng, trường hợp không thanh toán được hoặc không thanh
toán đầy đủ khoản nợ sẽ được quyền bán hoặc phát mại tài sản thế chấp. Các bị
đơn cư trú tại xã H, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ đã xác
định là vụ án dân sự, quan hệ pháp luật là Tranh chấp Hợp đồng tín dụng để thụ
lý và giải quyết theo đúng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn Bùi Thị H1 trong hạn luật định, hợp lệ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự được chấp nhận
để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V1 có mặt. Bà H1 đồng thời là người
đại diện của ông M, chị Huyền M1, chị Huyền N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt nhưng có đại diện theo ủy quyền
hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 3995538.22 ngày 28/04/2022 và Đơn
đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 8121025.22 ngày 29/04/2022 được
ký kết giữa vợ chồng bà Bùi Thị H1, ông Bùi Văn M và Ngân hàng V3, thấy
rằng việc giao kết Hợp đồng tín dụng giữa các bên là tự nguyện. Nội dung và
hình thức của Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát
sinh hiệu lực đối với các bên. Theo thỏa thuận của các bên, ông M và bà H1 vay
của Ngân hàng V3 số tiền là 1.500.000.000 đồng, mục đích vay để nhận chuyển
nhượng bất động sản. Thời hạn vay: 276 tháng, từ ngày 30/04/2022 đến
29/04/2045 với Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,7%/năm, chỉ được áp dụng
trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi
nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở
trong kỳ theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Hoàn trả tín dụng gốc hàng
tháng vào ngày 25; mỗi tháng trả 5.434.000 đồng và ngày đầu trả nợ là ngày
25/5/2022.
8
Quá trình giải quyết, gia đình bà H1 đã trả nợ gốc là 148.780.000 đồng, nợ
lãi trong hạn là 213.366.683 đồng, nợ lãi quá hạn là 628.208 đồng và nợ lãi
chậm trả lãi trong hạn là 931.244 đồng. Nhưng quá trình thực hiện hợp đồng các
Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến hạn nên các khoản vay đã
chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/04/2026, các Bị đơn
còn nợ Ngân hàng V3 với tổng số tiền là 2.123.966.869 đồng (Hai tỷ, một trăm
hai mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, tám trăm sáu mươi chín
đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.351.220.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 102.340.754
đồng, nợ lãi quá hạn là 646.979.858 đồng và nợ lãi chậm trả tiền lãi là
23.426.257 đồng. Xét cách tính lãi của Nguyên đơn là đúng theo thỏa thuận giữa
2 bên trong Hợp đồng tín dụng, mức lãi suất phù hợp quy định pháp luật. Vì
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc
các Bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi như
trên là có căn cứ.
Về tổng số tiền mà các Bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng V3, các Bị
đơn nhất trí và không có ý kiến gì. Bị đơn chỉ kháng cáo xin trả nợ dần, xem xét
giảm lãi, miễn lãi phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đại diện của Nguyên đơn
không đồng ý phương án xin trả nợ dần, giảm lãi, đối với đề nghị miễn lãi phạt
thì Ngân hàng không thực hiện việc phạt do vi phạm trả nợ lãi nên không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo này của Bị đơn.
[2.2] Xét kháng cáo của bà H1 về việc không cho phép Ngân hàng được
tự ý bán tài sản khi tài sản chưa đủ điều kiện pháp lý; đề nghị chưa xử lý tài sản
thế chấp cho đến khi hoàn tất việc thu hồi, cấp lại Giấy chứng nhận và thực hiện
nghĩa vụ tài chính, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo hồ sơ vụ án, ngày 28/4/2022 hộ gia đình bà Bùi Thị H1 và Ngân
hàng V3 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất, số công chứng 869, quyển số 02/2022/TP/CC/-SCC/HĐ. Tài sản thế chấp là
628,4m
2
đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 60 tại địa chỉ thôn Đ, xã N, huyện K,
tỉnh Hòa Bình (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) và các tài sản gắn liền trên đất theo
Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS
510640; Số vào sổ cấp GCN: CH00083 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày
12/11/2019 cho hộ bà Bùi Thị H1. Xét thấy, Hợp đồng thế chấp được ký kết
giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, đã thực hiện công chứng hợp đồng và làm thủ
tục đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật nên Hợp đồng thế chấp có
hiệu lực. Vì vậy, Ngân hàng V3 có quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp.
Tuy nhiên, theo Kết luận 66/KL-TTr ngày 05/12/2023 của Thanh tra tỉnh
Hòa Bình thì thửa đất có nguồn gốc do bao chiếm đất nông lâm trường quản lý,
sử dụng. Việc cấp Giấy CNQSD đất cho hộ bà H1 là không đúng quy định tại
9
điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và tại điểm d khoản 2 điều 152
Luật Đất đai năm 2024, thuộc trường hợp đất phải thu hồi. Nhưng đến thời điểm
hiện nay theo Quyết số 354/QĐ-UBND ngày 03/3/2025 của Ủy ban nhân dân
huyện K về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030
huyện K, thì cả diện tích đất ở và đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 17, tờ bản
đồ số 60 đứng tên hộ bà Bùi Thị H1 đã phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại
địa phương. Do đó, việc thu hồi Giấy CNQSD đất là để cấp lại Giấy CNQSD đất
mới cho hộ bà Bùi Thị H1 theo quy định pháp luật, không làm mất đi quyền sử
dụng đất đã cấp cho hộ bà Bùi Thị H1 theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 510640 do Ủy ban nhân dân huyện K đã
cấp ngày 12/11/2019. Song khi khi làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất đối với
thửa đất nêu trên, để được giữ nguyên 200m
2
đất ở thì hộ gia đình bà Bùi Thị H1
phải có nghĩa vụ nộp thêm các khoản thuế, phí chuyển đổi mục đích sử dụng
theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, nếu không nộp thì khi cấp lại Giấy
CNQSD đất mới hộ bà Bùi Thị H1 chỉ được cấp diện tích đất theo Bìa cũ là
628,4m
2
và toàn bộ là đất trồng cây lâu năm. Quá trình giải quyết, bà H1 khai
không thực hiện được việc cấp đổi Giấy CNQSD đất do không có tiền để nộp và
hiện Giấy CNQSD đất đang do Ngân hàng giữ. Để đảm bảo việc thi hành án,
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo Giấy CNQSD
đất và tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm thi hành án là phù hợp. Ngoài
ra, tại mục 9.3. xử lý tài sản thế chấp của Hợp đồng thế chấp ngày 28/4/2022
quy định "...Bên A tự bán/ chuyển nhượng tài sản thế chấp hoặc ủy quyền cho
bên thứ ba bán/chuyển nhượng tài sản thế chấp...". Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm
đã chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo đề nghị của Nguyên đơn là có
căn cứ.
[2.3] Từ những nhận định nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng
cáo của Bị đơn, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2026/DS - ST
ngày 24/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ.
[3] Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Đối với án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bà H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa
án nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
10
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bùi Thị H1. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số: 12/2026/DS - ST ngày 24/4/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 13 - Phú Thọ.
2. Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Bà Bùi Thị H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí
dân sự phúc thẩm, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003947 ngày 05/5/2026 tại
Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận bà Bùi Thị H1 đã nộp đủ án phí.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (17/9/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 13 - Phú Thọ;
- TAND khu vực 13 - Phú Thọ
- Phòng THADS khu vực 13 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA; tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 271/2026/DS-PT Bản án số 271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất