Bản án số 119/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh An Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 119/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 119/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh An Giang
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 119/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 119/2026/HS-PT Bản án số 119/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 119/2026/HS-PT Bản án số 119/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 119/2026/HS-PT
Ngày: 11-9-2026.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Quang và ông Trần Bình Đảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2026/TLPT-HS ngày 10
tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Đặng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với
bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2026/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 – An Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Văn T, sinh ngày 21/4/1983; nơi sinh: T, tỉnh
An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã T, tỉnh An Giang; nghề
nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ và mẹ: Đặng Thị H, sinh năm 1959;
vợ: Lê Thị Kim C, sinh năm 1992; con: có 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh
năm 2021.
- Tiền sự: Ngày 10/7/2023, bị Công an thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng, chấp
hành xong quyết định xử phạt.
- Tiền án: Không.
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 06/02/2026 đến nay
tại Phân trại tạm giam A (cơ sở 2), hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công
an tỉnh A.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Quang V - Trợ giúp viên pháp lý của
Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. (Có đơn xin vắng mặt)
2
(Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không liên
quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó, Đặng Văn T và Phan Thị Q chung sống như vợ chồng tại nhà
của Phan Thị Q thuộc khu dân cư ấp L, xã T, tỉnh An Giang. Xảy ra mâu thuẫn,
Quyền không chung sống, không liên lạc với T nữa, từ đó T nảy sinh ý định trộm
cắp số tài sản của ông Phan Văn K và bà Nguyễn Thị N là cha mẹ ruột của Q gửi
Quyền quản lý, cất giữ dùm tại nhà Q để Q liên lạc với T, tạo cơ hội để T hàn gắn
tình cảm, chung sống lại với Q. Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2026, T nằm võng
trước nhà của ông Đồng Văn L (gần nhà Q), thấy nhà Q đóng khóa cửa, không
người trông giữ, T đi ra phía sau nhà Q, quan sát không có người, T nhặt 01 cây
kéo bằng kim loại, trèo lên vách tường, cắt tole trên mái nhà tạo khoảng trống,
kích thước (80 x 60) cm, đột nhập vào bên trong nhà Q. Quá trình đột nhập, T bị
tole cắt đứt mặt ngoài bàn chân trái làm chảy máu xuống máy giặt và nền nhà.
Thư lục tìm lấy được tiền mặt và trang sức mà ông K và bà N gửi Quyền quản lý,
cất giữ dùm. Cụ thể:
Bên trong phòng ngủ, T lấy được:
- 01 lắc tay, 01 dây chuyền có gắn mặt và 01 vòng đeo tay, đều bằng kim
loại màu vàng để trong túi vải đỏ bên trong tủ quần áo bằng nhôm;
- 03 nhẫn kim loại, 01 lắc tay đều bằng kim loại màu vàng và 01 chiếc lắc
tay bằng vàng 24kara trọng lượng 01 lượng để trong bóp màu đỏ phía dưới thùng
loa;
- Tiền Việt Nam 30.000.000 đồng (60 tờ tiền cùng mệnh giá 500.000 đồng)
phía dưới nệm.
Bên ngoài phòng ngủ, T lấy được tiền Việt Nam 6.000.000 đồng (12 tờ tiền
cùng mệnh giá 500.000 đồng) trong ngăn kéo tủ bằng nhựa.
Thư để toàn bộ tiền và trang sức trên vào ví màu đỏ, mở chốt gài cửa phía
sau nhà, tẩu thoát bằng lối thoát hiểm, mang ví này cất giấu tại căn chòi bỏ hoang
cách nhà Q khoảng 20m. Xong, T quay lại nhà ông L hát karaoke cùng ông L và
ông T1, sau đó T về nhà. Khi phát hiện nhà bị mất trộm tài sản nên Quyền trình
báo Công an. Đến sáng ngày 06/02/2026, biết bị phát hiện, T đến Công an đầu
thú, giao nộp tiền và trang sức lấy trộm.
Kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 10/02/2026 của Phân viện Khoa
học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh:
3
+ 01 vòng kim loại màu vàng, khối lượng M1: 14,4491 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là B (A1): 95,84%, Đ (Cu): 3,15%.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng M2: 7,2978 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 98,59%.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng M3: 13,5587 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là B (A1): 97,16%, Đ (Cu): 1,47%.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng M4: 8,3193 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là B (A1): 94,77%, Đ (Cu): 4,38%.
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M5: 37,5044 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là V1 (Au): 99,95%.
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M6: 38,3847 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 97,10%.
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M7: 29,3304 gam được niêm
phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 96,98%
+ 01 dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng M8: 19,5266 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 99,48%.
+ 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng M9: 16,8054 gam, có
thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 44,79%, K1 (Z): 55,21%.
Bản Kết luận định giá tài sản số 455 ngày 13/02/2026 của Hội đồng định
giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự xã T:
+ 01 vòng kim loại màu vàng, khối lượng: 14,4491 gam, có thành phần kim
loại chủ yếu là B (A1): 95,84%, Đ (Cu): 3,15%, trị giá 684.000 đồng.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng: 7,2978 gam, có thành phần kim
loại chủ yếu là Đ (Cu): 98,59%, trị giá 50.000 đồng
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng M3: 13,5587 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là B (A1): 97,16%, Đ (Cu): 1,47%, trị giá 648.000 đồng.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng M4: 8,3193 gam, có thành phần
kim loại chủ yếu là B (A1): 94,77%, Đ (Cu): 4,38%, trị giá 396.000 đồng
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M5: 37,5044 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là V1 (A2): 99,95%, trị giá 160.000.000 đồng.
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M6: 38,3847 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 97,10%, trị giá 60.000 đồng.
+ 01 lắc tay kim loại màu vàng, khối lượng M7: 29,3304 gam được niêm
phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 96,98%, trị giá
60.000 đồng.
4
+ 01 dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng M8: 19,5266 gam, có thành
phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 99,48%, trị giá 120.000 đồng.
+ 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng M9: 16,8054 gam, có
thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 44,79%, K1 (Z): 55,21%, trị giá 48.000
đồng.
+ 01 bóp vải màu đỏ, bên trong lót vải, bên ngoài bằng nhựa, có dây khóa
kéo, kích thước (16 x 12) cm, trị giá 15.000 đồng.
Kết luận giám định số 877/KL-KTHS ngày 31/3/2026 của Phòng K2 - Công
an tỉnh A:
+ Vết màu nâu sẫm đã khô (nghi máu) tại vị trí số 5 là máu người, thuộc
nhóm máu B.
+ Máu của Đặng Văn T, sinh năm 1983 thuộc nhóm máu B.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng; thu giữ do Đặng Văn
T giao nộp:
- Tiền Việt Nam 36.000.000 đồng (72 tờ tiền cùng mệnh giá 500.000 đồng);
01 chiếc vòng bằng kim loại màu vàng; 01 nhẫn hình mặt vuông chữ tàu bằng kim
loại màu vàng; 01 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng; 01 nhẫn hình mặt
vuông có số 555, bằng kim loại màu vàng; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng
kích thước (15,5 x 2,5) cm; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng kích thước (15,9 x
1,9) cm; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng kích thước (17 x 1,3) cm; 01 sợi dây
đeo cổ bằng kim loại màu vàng kích thước (52 x 0,2) cm; 01 mặt dây đeo cổ mặt
hình phật bằng đá màu xanh; 01 túi nylon màu đen; 01 túi cầm tay màu đỏ, phía
trong túi bằng vải, phía ngoài túi bằng cao su, đều đã qua sử dụng, đã trao trả cho
bị hại Phan Thị Q.
- 01 túi niêm phong mã số PS3 24098474, mép túi niêm phong được dán
kính và đóng dấu mọc tròn đỏ của Công an xã T, mặt trước có ghi chữ “Vết máu
nâu sẫm đã khô (nghi máu) tại vị trí số 5”, trên túi niêm phong có chữ ký và ghi
họ tên của Nguyễn Đồng Hữu D, Nguyễn Trường G, Huỳnh Thúy D1, Phan Thị
Q và Đặng Văn T, chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự khu vực 15 – An Giang
theo quy định.
- 01 phong bì niêm phong màu trắng, mép phong bì niêm phong được dán
kính, mặt trước có ghi chữ “Mẫu máu Đặng Văn T, sinh năm 1983, nơi thường
trú: Ấp L, xã T, tỉnh An Giang”, mặt sau đóng dấu mọc tròn đỏ của Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an tỉnh A và có chữ ký, ghi họ tên Phạm Thanh S, Nguyễn
Trường G, Đặng Văn T, chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự khu vực 15 – An
Giang theo quy định.
- 01 bọc nylon màu đen, đã qua sử dụng.
5
- 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, vỏ tay cầm bằng nhựa, có hàng chữ
màu vàng * KEO NHIP XE ĐAC BIET * MINH NGA *, chiều dài 19cm, đã qua
sử dụng, chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự khu vực 15 – An Giang theo quy
định.
Theo thông báo về nội dung kết luận giám định tài sản số A1380/TB-CSHS
ngày 14/02/2026, tài sản bị mất trộm trang sức có giá trị 162.081.000 đồng. Bị
cáo lấy 30.000.000 đồng tiền Việt Nam (60 tờ tiền cùng mệnh giá 500.000 đồng);
6.000.000 đồng tiền Việt Nam (12 tờ tiền cùng mệnh giá 500.000 đồng). Tổng trị
giá gồm tiền mặt và trang sức là 198.081.000 đồng.
Bị cáo sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
không có tiền sự, tiền án; trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn
chế.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đặng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và
không có ý kiến, khiếu nại gì về kết luận của cơ quan điều tra. Bị hại bà Phan Thị
Q đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2026/HS-ST, ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/02/2026).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng,
án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/7/2026, bị cáo Đặng Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin
giảm nhẹ hình phạt sớm trở về với gia đình chăm sóc mẹ già và làm người có ích
cho xã hội.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội là
đúng tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội
dung kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang giữ quyn công tố tại
phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2
Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 04 năm tù là có căn cứ đúng quy định
của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội
6
của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị
cáo với mức án là phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên
tòa bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố
tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên nội dung bản
án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại bản luận cứ bào chữa ngày 10 tháng 9 năm 2026 của người bào chữa
cho bị cáo là trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V thuộc Trung tâm trợ giúp
pháp lý Nhà nước tỉnh A trình bày như sau: Bị cáo lấy tài sản của bị hại nhằm hàn
gắn mối quan hệ tình cảm giữa bị cáo và bị hại; bị cáo không có mục đích khác
với số tiền, hiện vật trộm cắp; tài sản đã trả lại cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt
Bị cáo Đặng Văn T thống nhất bản luận cứ bào chữa, không bổ sung ý kiến
gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cãi xin Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm để trở về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng
cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được
Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quyết định của Bản án sơ thẩm:
Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Đặng Văn T đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt
nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa
là phù hợp, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan; cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập
khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2026, tại khu dân cư thuộc ấp L, xã T, tỉnh An
Giang, bị cáo Đặng Văn T đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà, trộm cắp tài sản
của Phan Thị Q gồm tiền mặt và trang sức, tổng trị giá 198.081.000 đồng. Vì vậy,
bị cáo Đặng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội này.
7
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”
được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm xong, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin
được giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ
năng nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, trực
tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây
mất trật tự tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn tình cảm với bị hại Phan Thị Q, mục
đích để Quyền chủ động liên lạc hàn gắn tình cảm lại, lợi dụng bị hại thiếu cảnh
giác đã dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản.
Xét đơn kháng cáo của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ
thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng
đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 04 năm
tù là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp
chiếm đoạt tài sản trái pháp luật với giá trị tương đối lớn vì vậy cần áp dụng mức
hình phạt tù đối với bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng
ngừa chung trong xã hội nhằm đảm bảo mục đích cải tạo bị cáo trở thành công
dân tốt. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo kháng cáo nhưng không cung
cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình.
Bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo đầu thú quy định tại khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp nên việc bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là
không có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp
nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
[4] Về quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do bị cáo thuộc trường hợp cận nghèo nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Vì các lẽ trên.
8
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm
số: 92/2026/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 –
An Giang.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/02/2026).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đặng Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 92/2026/HS-ST ngày 01
tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang không có kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VCTVKS phúc thẩm tại Tp. HCM (1);
- Tòa phúc thẩm -TANDTC tại Tp . HCM (1);
- VKSND tỉnh An Giang (1);
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh An Giang (1);
- Bị cáo (1);
- Cơ quan điều tra khu vực (1);
- Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang (1); Phan Văn Thuấn
- VKS nhân dân khu vực 15 – An Giang (1);
- Phòng THA DS khu vực 15 – An Giang (1);
- Lưu hồ sơ (1);
- Lưu tòa hình sự (5).
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 119/2026/HS-PT Bản án số 119/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 119/2026/HS-PT Bản án số 119/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất