Bản án số 263/2025/DS-PT ngày 03/07/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 263/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 263/2025/DS-PT ngày 03/07/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 263/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; - Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 263 /2025/DS-PT
Ngày 03 - 7 - 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh.
Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mai Loan, Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2025/TLPT-DS ngày 22/4/2025
về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án
dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện
Krông Bông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 230/2025/QĐ-PT ngày
19/5/2025 Quyết định hoãn phiên tòa số: 245/2025/QĐ-PT ngày 18/6/2025
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn A; địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Đồng
Nai; Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Thị L; địa chỉ: Thôn D,
xã D, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 06/8/2021); Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công V, Thị Hồng V1; địa chỉ: Thôn E,
D, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền của bđơn: Ông Thanh K; địa chỉ: Số G Y,
phường B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 14/3/2025); Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn N; Có mặt.
3.2. Bà Vũ Thị L; Có mặt.
2
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã D, tỉnh Đắk Lắk.
3.3. Ông Nguyễn Công H; Vắng mặt.
3.4. Bà Nguyễn Thị Bích N1; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn E, xã D, tỉnh Đắk Lắk.
4. Người m chứng: Ông Nguyễn Duy L1; địa chỉ: Thôn F, Q, tỉnh
Lâm Đồng; Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Công V.
6. Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Nguyễn
Tuấn A có đại diện ủy quyền là bà Vũ Thị L trình bày:
Ngày 10/9/2004 âm lịch (Ngày 23/10/2004 dương lịch) ông Nguyễn Tuấn
A nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Công V, bà Thị Hồng V1
01 diện tích đất rẫy 03 mẫu (03 hécta = 30.000m
2
), đất tại thôn D, C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn D, D, tỉnh Đắk Lắk) với giá 45.000.000 đồng,
cọc trước 10.000.000 đồng, hẹn 06 ngày sau chồng đủ tiền ông V, V1 sẽ bớt
lại 3.000.000 đồng để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng số tiền ông
V, bà V1 nhận là 42.000.000 đồng. Giấy chuyển nhượng do ông Nguyễn Duy L1
(Bố của ông Tuấn A) viết. Các bên thống nhất sau khi được cấp GCNQSDĐ, ông
V, bà V1 sẽ hỗ trợ hoàn tất việc chuyển nhượng theo quy định pháp luật.
Ngày 12/9/2004 âm lịch (tức ngày 25/10/2004 dương lịch), ông Tuấn A đã
giao đủ tiền cho ông V, V1. Sau nhiều lần thúc giục thì ông V, V1 mới
hoàn thành thủ tục sang nhượng cho ông Tuấn A phần diện tích 20.108m
2
(hơn
02 hecta trong 03 hécta của thửa đất) theo GCNQSDĐ số W 807983 do UBND
huyện K cấp ngày 29/11/2004. Mặc bên mua ông Nguyễn Tuấn A, nhưng
do anh em trong gia đình nên ông Tuấn A đã sang nhượng trực tiếp cho vợ
chồng Nguyễn Văn N và bà Vũ Thị L đứng tên. Phần diện tích đất còn lại gần 01
hecta ông V, bà V1 cam kết khi nào được cấp GCNQSDĐ sbàn giao tiếp như
hai bên đã thỏa thuận. Tuy nhiên, đến nay ông V, V1 vẫn không thực hiện
chuyển nhượng.
vậy, ông Tuấn A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Công V,
Thị Hồng V1 tiếp tục thực hiện sang nhượng đất như đã thỏa thuận, giao
cho ông Nguyễn Tuấn A đdiện tích đất còn thiếu 9.892m
2
theo thỏa thuận như
giấy viết tay ban đầu, đất vợ chồng ông Tuấn A đã sử dụng từ năm 2006 đến nay
như thế nào thì trả lại như vậy. Hiện trạng thửa đất không có gì thay đổi gì so với
trước đây.
Tại phiên tòa thẩm, Thị L - Đại diện ủy quyền của nguyên đơn
xác định: Qua đo đạc, trong phần đất trước đây ông V đã giao cho bên mua có 01
3
phần diện tích 336,3m
2
đã được cấp GCNQSDĐ cho Nguyễn Thị C (Mẹ của
ông V) 01 phần đất được quy hoạch làm đường giao thông nên không còn đủ
diện tích 9.892m
2
. vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án chỉ công nhận phần hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với phần diện tích còn lại trên thực tế
7.718,6m
2
; không yêu cầu ông V, bà V1 phải trả lại phần diện tích còn thiếu là
2.173,4m
2
và cũng không yêu cầu bồi thường bằng tiền.
Bị đơn ông Nguyễn Công V, bà Lê Thị Hồng V1 trình bày:
Ngày 10/9/2004 âm lịch (tức ngày 23/10/2004 dương lịch), vợ chồng tôi
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tuấn A một miếng đất rẫy 03 mẫu (03 hécta
= 30.000m
2
), tại thôn D, C, huyện K với giá 45.000.000 đồng, cọc trước
10.000.000 đồng, đến ngày 12/9/2004 nhận thêm 32.000.000 đồng, còn lại
3.000.000 đồng khi nào giao đủ sẽ sang tên bìa đỏ. Tổng số tiền đã nhận
42.000.000 đồng. Chúng tôi mua bán đất với ông Nguyễn Tuấn A nhưng lại đ
vợ chồng ông Nguyễn Văn N, Thị L đứng tên trên GCNQSDĐ (việc thỏa
thuận này chúng tôi không biết). Ông N, L đã sdụng đất mười mấy năm,
trên đất trồng điều, cao su rồi sau đó phá đi, nhưng vẫn không thấy họ trả số
tiền còn thiếu 3.000.000 đồng nên chúng tôi lấy lại 02 sào đất tương đương
3.000.000 đồng là giá trị đất vào năm 2004, hiện tại trên đất gia đình tôi đã trồng
cây bạch đàn từ 03 năm nay. Nội dung trong giấy sang nhượng bớt lại 3.000.000
đồng để làm a đỏ không đúng, số tiền này tương đương với 02 sào đất,
mặc dù vchồng tôi vào giấy sang nhượng nhưng do không đọc nội dung,
chủ quan nên vào chứ thực tế thỏa thuận việc mua bán không phải như vậy.
Trong giấy sang nhượng chúng tôi làm việc với ông Nguyễn Duy L1, nội dung
giấy tờ do ông L1 viết thay tên con trai ông Nguyễn Tuấn A, nội dung
ghi không đúng sự thật như hai bên thỏa thuận. Ông L1 khai trong lúc làm giấy
tờ hai bên thống nhất bớt lại giá trị 02 sào 3.000.000 đồng để làm bìa đỏ
không đúng sự thật.
Nay ông Tuấn A yêu cầu chúng tôi tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đủ
đất như đã thỏa thuận thì bên mua phải trả đủ số tiền 02 sào theo giá thị trường
hiện nay thì chúng tôi sgiao lại đất, còn không thì chúng tôi lấy lại đất để sản
xuất. Tôi không bớt 02 sào để làm bìa đỏ, vì thân quen tin tưởng nhau nên tôi
cũng không để ý giấy tờ viết tay lại viết với nội dung như vậy, chúng tôi bán 03
mẫu, với giá 45.000.000 đồng nhưng chỉ nhận được 42.000.000 đồng, tiền chúng
tôi chưa nhận đủ còn muốn lấy thêm diện tích đất, yêu cầu chúng tôi giao đủ diện
tích đất còn thiếu 9.892m
2
thì chúng tôi không đồng ý. Hiện trạng thửa đất không
có gì thay đổi gì so với trước đây.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, bà Vũ Thị L
trình bày: Chúng tôi thống nhất với lời khai của ông Nguyễn Tuấn A nêu trên về
việc ông Tuấn A đã đại diện gia đình nhận chuyển nhượng đất của ông V, bà V1.
4
Năm 2006, do sự sắp xếp trong gia đình, ông A đã bán giao đất cho vợ chồng
tôi sử dụng thửa đất trên. Đến năm 2016, ông V, bà V1 đã sang tên cho chúng tôi
diện tích 20.108m
2
, diện tích còn lại đến nay ông V, V1 vẫn chưa sang tên
cho ông A để ông A sang tên lại cho vợ chồng tôi. Phần đất chưa sang tên này vợ
chồng tôi đã sử dụng từ năm 2006 đến nay, đến năm 2021 ông V, V1 tý lấy
lại 02 sào. Nay chúng tôi yêu cầu ông V, bà V1 giao đủ số diện tích đất còn lại là
9.892m
2
cho ông Tuấn A theo nội dung đã thỏa thuận tại giấy viết tay.
Người quyền nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công H, Nguyễn
Thị Bích N1 (Là con của ông V, V1) trình bày: Tại thời điểm chuyển
nhượng diện tích 03 ha vào năm 2004 giữa ông Nguyễn Tuấn A với bố mẹ chúng
tôi ông V, V1, thì chúng tôi đang còn nhỏ, không đóng góp gì. Nay xảy
ra tranh chấp giữa bố mẹ tôi với ông A thì chúng tôi không có ý kiến hay yêu cầu
gì, để bố mẹ tôi và ông A tự giải quyết với nhau. Chúng tôi bận công việc nên đề
nghị Tòa án cho giải quyết và xét xử vắng mặt.
Người làm chứng ông Nguyễn Duy L1 trình bày:
Tôi thống nhất với lời khai của con trai tôi Nguyễn Tuấn A đã đại diện
gia đình nhận chuyển nhượng của ông V, V1 một đất rẫy 03 mẫu, tứ
cận: Phía Đông giáp ông C1, phía Tây giáp đập, phía Nam giáp đất ông T, phía
Bắc giáp đất ông V, với giá 45.000.000 đồng. Anh Tuấn A1 người trực tiếp
làm việc thương lượng mua đất với ông V, tôi không mua đất rẫy của ông V.
Khi các bên đã thống nhất với nhau thì tôi người viết giấy sang nhượng đất đ
ông V anh Tuấn A1 tên giao nhận tiền. Tôi không giao dịch hay thỏa
thuận gì với ông V, việc ông V cho rằng ngày 10/9/2004 (âm lịch) ông V có thỏa
thuận sang nhượng cho tôi một đất rẫy 03 mẫu nêu trên, trong quá trình giao
dịch ông V chỉ làm việc với tôi, ông V không biết trong giấy sang nhượng ghi
tên bên mua là Nguyễn Tuấn A là không đúng sự thật, vì trong giấy sang nhượng
đất phần nhận tiền ông V còn tự tay viết “Ngày 12-9/004 ÂL Tôi nhận của
ông T1 32,0 triệu đồng chẳng (Ba hai triệu đồng). Người nhận Nguyễn Công
V. Do đất này chưa được cấp GCNQSDĐ nên ông V đã bớt cho Tuấn A
3.000.000 đồng để Tuấn A chi pkhi làm sổ đỏ, khi tôi viết giấy sang nhượng
đất dùm cho con tôi thì tôi đã hỏi hai bên thống nhất bớt 3.000.000 đồng, nên
tôi đã ghi vào giấy nội dung trên. Theo tôi được biết anh Tuấn A đã trả xong
42.000.000 đồng còn lại cho ông V. Ông V người đã trưởng thành nên không
ai thể lừa ông được, khi viết xong giấy sang nhượng đất tôi còn đọc cho hai
bên nghe xong mới thống nhất ký tên. Sau khi nhận chuyển nhượng, anh Tuấn A
vẫn sử dụng đất n định, đến năm 2006 chuyển nhượng lại cho vợ chồng anh
Nguyễn Văn N chị Thị L, do anh em ruột nên khi chuyển nhượng các
bên không viết giấy tờ gì mà chỉ thỏa thuận miệng. Đến năm 2016, vợ chồng anh
N, chị L; anh Tuấn A vợ chồng ông V thỏa thuận để cho thuận tiện trong giao
5
dịch thì vợ chồng ông V sẽ làm thủ tục chuyển nhượng phần diện tích 20.108m
2
đất cho anh Nguyễn Văn N, chị Vũ Thị L luôn chứ không sang tên cho anh Tuấn
A nữa, vì làm vậy vừa mất thời gian vừa tốn thêm một lần thuế. Anh Ngọc, chị L
đã sử dụng đất ổn định từ đó đến nay.
Đối với phần diện tích còn lại 9.892m
2
chưa hoàn thành thủ tục chuyển
nhượng, nên giữa anh Tuấn A với vợ chồng ông V, bà V1 xảy ra tranh chấp, ông
Tuấn A khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông V phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/9/2004, bằng cách hoàn thành thủ
tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật đối với phần diện tích còn thiếu
9.892m
2
ttôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, đảm bảo
quyền lợi ích hợp pháp cho anh Tuấn A. Hiện nay tôi tuổi đã cao, sức khỏe
yếu, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, vậy i xin vắng mặt tại quá trình giải
quyết và xét xử tại Tòa án.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/7/2024:
- Thửa đất số 408 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21 có diện tích 19.868,8m
2
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 807983, mang tên ông
Nguyễn Văn N và Thị L, tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Thanh M;
phía Tây giáp đất ông Thanh M1; phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn H1
đất ông Trần Hữu M2; phía Bắc giáp các thửa số 404, 405, 406, 407 số 17.
Hiện nay Thị L đang cho ông Nguyễn Văn T2, địa chỉ: Thôn D, C,
huyện K thuê. Ông Trương mới cày đất lên chưa trồng gì. Ông Trương M3 một
cái mương để thoát nước, có chiều sâu 30cm và chiều rộng 70cm.
- Thửa đất số 404 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21 diện tích 1.863,3m
2
,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Một phần diện tích cấp
chồng lấn lên thửa số 17 diện tích 336,3m
2
. tứ cận: Phía Đông giáp đất
ông Thanh M; phía Tây giáp thửa đất số 17; phía Nam giáp thửa đất số 407
và 408; phía Bắc giáp đường giao thông nội đồng.
- Thửa đất số 405 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21 diện tích 1.100,6m
2
,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. tứ cận: Phía Đông
giáp thửa đất số 408 và 406; phía Tây giáp đất ông Lê Thanh M1; phía Nam giáp
đất ông Trần Hữu M2; phía Bắc giáp đường giao thông nội đồng.
- Thửa đất số 406 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21 diện tích 1.018,6m
2
,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. tứ cận: Phía Đông
giáp thửa đất số 17; phía Tây giáp thửa đất số 405; phía Nam giáp thửa đất số
408; phía Bắc giáp đường giao thông nội đồng.
- Thửa đất số 407 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21 diện tích 4.070,4m
2
,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. tứ cận: Phía Đông
giáp đất ông Thanh M ông Thanh C2; phía Tây giáp thửa đất số 408;
phía Nam giáp thửa đất số 408; phía Bắc giáp thửa số 404.
6
- Một phần thửa đất số 17, tờ bản đsố 21 diện tích 336,3m
2
, đất đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị C. tứ cận:
Phía Đông giáp thửa đất số 404; phía Tây giáp thửa đất số 406; phía Nam giáp
thửa đất số 408; phía Bắc giáp đường giao thông nội đồng.
Ông Nguyễn Công V làm 01 hàng rào bằng các cọc cây gỗ tạp
đường kính từ 5cm - 10cm đối với một phần thửa đất 404, 406 và thửa đất số 17,
tờ bản đồ số 21. Khoảng cách trung bình 2,5m một cọc, tổng số 48 cọc với chiều
cao 1m; kéo một dây kẽm gai gắn trên 48 cọc, 10 cọc gắn thêm một dây kẽm
gai, để ngăn giữa hai thửa đất. So với thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
20/01/2022 thì sự thay đổi, những cây gỗ tạp hiện nay đã mục không còn sử
dụng được, một số đã không còn.
Hiện ông V đang quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp này trồng 440
cây bạch đàn được 03 năm tuổi. Ông V còn trồng 110 cây bạch đàn trên phần
đường giao thông nội đồng cạnh phần đất tranh chấp, khoảng cách trung bình
giữa các cây bạch đàn là 1,5m, khoảng cách giữa hai hàng bạch đàn là 2m.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa
án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 48, Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều
273, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 129, 288, 500, 501, 502, 503 Bộ
luật dân sự; các Điều 100, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 42 Nghị định
số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ hiệu lực thi hành từ ngày
01/8/2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn A.
Công nhận Giấy sang nhượng đất ngày 10/9/2004 Âm lịch (Tức ngày
23/10/2004 Dương lịch) giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Công V,
Thị Hồng V1 với bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Tuấn A là hợp pháp.
Buộc ông Nguyễn Công V, bà Lê Thị Hồng V1 phải có nghĩa vụ tự nhổ bỏ
các cây lâu năm cây bạch đàn đã trồng trái phép trên phần đất tranh chấp
tháo dỡ các cọc gỗ còn lại cùng dây kẽm gai trên phần diện tích đất 1.529m
2
,
thuộc thửa đất số 404, tờ bản đồ số 21 và giao đất cho ông Nguyễn Tuấn A.
Ông Nguyễn Tuấn A được quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để làm thủ tục đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định đối với một phần thửa đất số 404, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.529m
2
(đã trừ
phần diện tích 336,3m
2
đất của thửa số 17, tờ bản đồ số 21 cấp cho Nguyễn
Thị C); Thửa đất số 405, 406, 407, tờ bản đồ số 21 diện tích 6.189,6m
2
. Tổng
7
diện tích là 7.718,6m
2
. Đất tọa lạc tại thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Kèm
theo sơ đồ để xác định hình thể, tứ cận và diện tích).
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Công V Thị Hồng V1
phải liên đới trả cho ông Nguyễn Tuấn A 3.800.000 đồng tiền chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
3. Về án phí:
Buộc ông Nguyễn Công V Thị Hồng V1 phải liên đới chịu
11.578.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Tuấn A 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự thẩm đã nộp theo biên lai thu s60AA/2021/0004888 ngày 06/10/2021 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo quyền yêu cầu
thi hành án cho các đương sự theo quy định.
Theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 112/QĐ-VKS-DS ngày
21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, kháng nghị đối với bản án
dân sự thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện
Krông Bông, nội dung: Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sai
án phí, tuyên án không đảm bảo công tác thi hành án, ảnh hưởng quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự. Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ vụ
án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 23/01/2025 (Theo dấu gửi bưu điện), bđơn ông Nguyễn Công V
đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên ông V, bà
V1 phải trả lại cho ông Nguyễn Tuấn A diện tích đất 7.718,6m
2
nhưng trong đó
khoảng 03 sào đất (300m
2
) của ông V, V1. Khi xem xét, thẩm định đất
không mặt ông V, V1 nên đo đạc không đúng hiện trạng đất thực tế. Đề
nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên
nội dung đơn khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Công V giữ nguyên nội dung đơn
kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk giữ nguyên quyết định
kháng nghị.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xđã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu thập
trong hồ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 112/QĐ-VKS-DS ngày
21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; chấp nhận đơn kháng cáo
8
của bị đơn ông Nguyễn Công V Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số
01/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh
Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 112/QĐ-VKS-DS
ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và đơn kháng cáo của
bị đơn Nguyễn Công V làm trong hạn luật định; ông V đã nộp tạm ứng án phí
phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số:
112/QĐ-VKS-DS ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk
đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công V, Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Xét Giấy sang nhượng đất ngày 10/9/2004 âm lịch nội dung ông
V, bà V1 chuyển nhượng 03 ha đất cho ông Tuấn A với giá 45.000.000 đồng, đặt
cọc 10.000.000 đồng, hẹn 06 ngày sau chồng đủ tiền thì bớt lại 3.000.000 đồng
làm bìa đỏ. Tại phần nhận tiền ông Nguyễn Công V tự tay viết “Ngày 12-9/004
ÂL Tôi nhận của ông T1 32,0 triệu đồng chẳng (Ba hai triệu đồng). Người
nhận Nguyễn Công V”, không nội dung thỏa thuận sẽ bớt lại 02 sào đất
(tương ứng 3.000.000 đồng) nếu ông Tuấn A không trả đủ 3.000.000 đồng còn
lại nông V trình bày. Tức đủ căn cứ xác định ông V, V1 đã nhận đủ tiền
giá trị chuyển nhượng QSDĐ nhưng chưa bàn giao đủ diện tích đất cho ông
Tuấn A. Tại thời điểm kết hợp đồng các bên đầy đủ năng lực hành vi dân
sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, mục đích nội dung hợp đồng
không trái quy định pháp luật đạo đức hội. vậy, ông Tuấn A khởi kiện
yêu cầu bị đơn ông V, V1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng cách bàn
giao diện tích đất còn thiếu cho ông Tuấn A là có căn cứ.
[2.2] Về xác định vị trí, mốc ranh giới, diện tích đất tranh chấp:
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/7/2024 tại cấp thẩm
đã xác định phần diện tích đất ông V, V1 chuyển nhượng cho ông Tuấn A
gồm:
+ Thửa số 408, tờ bản đồ số 21, diện tích thực tế 19.868,8m
2
, mục đích s
dụng: Đất màu, được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số W 807983 ngày
29/11/2004, thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, diện ch 20.108m
2
cho hộ ông
Nguyễn Công V Thị Hồng V1, ngày 29/7/2016 Chi nhánh VPĐKĐĐ
huyện K xác nhận biến động chuyển nhượng QSDĐ cho ông Nguyễn Văn N,
Thị L (Ông Tuấn A sang nhượng thẳng tGCNQSDĐ đứng tên ông V,
9
V1 sang tên ông N, L đkhông phải nộp tiền thuế sdụng đất khi sang tên
cho ông Tuấn A rồi mới sang tên tiếp cho ông N, bà L).
+ Thửa đất số 405, 406, 407, tờ bản đồ số 21, tổng diện tích 6.189,6m
2
chưa được cấp GCNQSDĐ đang do ông N, bà L sử dụng.
+ Thửa đất số 404 (Thửa số 25 cũ), tờ bản đồ số 21, diện tích 1.865,3m
2
,
chưa được cấp GCNQSDĐ, hiện đang do vợ chồng ông V, V1 quản , sử
dụng một phần.
Từ đó, xác định tổng diện tích đất ông V, V1 chưa bàn giao chưa
thực hiện thủ tục chuyển nhượng QSDĐ cho ông Tuấn A 9.892m
2
. Số liệu
xem xét, thẩm định nêu trên được xác định do đại diện ủy quyền của nguyên đơn
bđơn cùng chỉ mốc ranh giới đđo đạc theo hiện trạng sử dụng đất cùng
tên vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/7/2024. Ông V không
yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định lại diện tích đất tranh chấp.
Do đó, ông V kháng cáo cho rằng Tòa án đo đạc khi ông không mặt tại buổi
xem xét, thẩm định diện tích đất tranh chấp không đúng thực tế không
cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu
Tòa án chỉ công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với phần diện
tích còn lại trên thực tế 7.718,6m
2
; không yêu cầu ông V, V1 phải trả lại
phần diện tích còn thiếu là 2.173,4m
2
do 01 phần diện tích 336,3m
2
đã được
cấp GCNQSDĐ cho Nguyễn Thị C (Mcủa ông V) 01 phần đất được quy
hoạch làm đường giao thông, cũng không yêu cầu bồi thường bằng tiền. Tức
nguyên đơn đã thay đổi nội dung khởi kiện chyêu cầu bđơn tiếp tục thực hiện
hợp đồng để bàn giao diện tích 7.718,6m
2
thay vì 9.892m
2
như yêu cầu ban đầu,
không phải nguyên đơn rút một phần khởi kiện như nội dung kháng nghị của
Viện kiểm sát. vậy, Tòa án cấp thẩm không đình chỉ giải quyết đối với nội
dung này phù hợp, nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát không
căn cứ.
Trong các thửa đất số 404, 405, 406, 407, 408, tbản đồ số 21 ông V, bà
V1 chuyển nhượng cho ông Tuấn A, thì hiện chỉ có thửa số 404, tờ bản đồ số 21,
diện tích 1.865,3m
2
vẫn đang do vchồng ông V, V1 quản lý, sử dụng một
phần chưa bàn giao cho ông Tuấn A. Tuy nhiên, trong thửa số 404 một
phần diện tích 336,3m
2
bị cấp chồng lên thửa đất số 17, tờ bản đồ số 21, diện
tích 1.263m
2
đã được cấp GCNQSDĐ ngày 02/4/2004 cho hộ Nguyễn Thị C.
C chết năm 2014 để lại cho con trai ông Nguyễn Công V sử dụng nhưng
chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Mặc dù nguyên đơn không yêu
cầu Tòa án giải quyết đối với diện tích đất 336,3m
2
bị cấp chồng lên đất C,
nhưng việc chồng lấn giữa hai thửa đất số 17 và 404 là thật chưa được giải
quyết triệt để. Bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn ông Tuấn A được quyền liên hệ
10
với quan Nhà nước thẩm quyền đlàm thủ tục đăng cấp GCNQSDĐ
trong khi có sự chồng lấn là không thể thi hành án.
[2.3] Bản án sơ thẩm tuyên ông Tuấn A được quyền liên hvới quan
Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục đăng cấp GCNQSDĐ theo quy định
đối với một phần thửa đất 404, tờ bản đồ 21, diện tích 1.529m
2
(đã trừ phần diện
tích 336,3m
2
đất của thửa số 17, tờ bản đồ 21 cấp cho Nguyễn Thị C); Thửa
đất số 405, 406, 407 t bản đồ 21 diện tích 6.189,6m
2
. Tổng diện tích
7.718,6m
2
(Kèm theo đồ đxác định hình thể, tứ cận diện tích), nhưng
không tuyên cụ thể vị trí tứ cận, chiều dài các cạnh các thửa đất tuyên án
không rõ, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
Mặt khác, Tòa án cấp thẩm chưa trưng cầu quan chuyên môn tiến
hành đo đạc lồng ghép bản đồ đối với diện tích đất tranh chấp nên các thông
tin về thửa đất chưa được cụ thể, chính xác.
[2.4] Các thửa đất số 404, 405, 406, 407, tờ bản đồ 21, tại thôn D, C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk hiện chưa được cấp GCNQSDĐ. Đất vừa bị chồng lấn
với thửa đất khác đã được cấp GCNQSDĐ vừa một phần nằm trong quy
hoạch đường giao thông, nhưng Tòa án cấp thẩm không xác minh tại các
quan thẩm quyền về điều kiện cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất, mà tuyên
nguyên đơn quyền liên hệ đăng cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất trên
là thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ.
[2.5] Xét kháng nghị của VKSND tỉnh Đắk Lắk về việc Tòa án cấp
thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng Nguyễn Thị X (Vợ của ông Tuấn
A): Tại bản tự khai ngày 29/6/2025, bà Nguyễn Thị X trình bày: Năm 2013 bà X
kết hôn cùng ông Tuấn A, thời điểm nguyên đơn nhận chuyển nhượng thửa đất
năm 2004 là trước khi kết hôn với bà X. Do đó bà X không có quyền, nghĩa vụ gì
trong vụ án từ chối tham gia tố tụng. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã khắc
phục, bổ sung lời khai của X như trên nên không cần thiết phải đưa X vào
tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.6] Về án phí dân sự thẩm: Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc công nhận giấy sang nhượng đất ký ngày 10/9/2004
âm lịch giữa ông V, V1 với ông Tuấn A hợp pháp, nhưng lại buộc ông
V2 phải liên đới chịu 11.578.000 đồng tiền án phí dân s thẩm g
ngạch không đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mà
phải buộc ông V, V2 chịu 300.000 đồng án pdân sthẩm không giá
ngạch mới đúng quy định.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét
thấy Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ căn cứ pháp về điều kiện được
11
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất đang tranh chấp, chưa
giải quyết triệt để các yêu cầu khởi kiện dẫn đến tuyên án không đảm bảo công
tác thi hành án không thể thi hành được bản án, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi ích hợp pháp của đương sự. vậy, cần chấp nhận một phần Quyết định
kháng nghị phúc thẩm số: 112/QĐ-VKS-DS, ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đắk Lắk chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn ông
Nguyễn Công V, để hủy toàn bộ bản án thẩm giao hồ vụ án về cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng án phí sơ thẩm: Sđược xác định khi Tòa án cấp
sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do hủy bản ánthẩm nên ông Nguyễn Công V
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần Quyết định kháng ngh phúc thẩm số: 112/-
VKS-DS ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
- Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công V;
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa
án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ vụ án vcho Tòa án
nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về chi phí tố tụng:
[2.1] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nghĩa vụ
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản sẽ được xác định khi
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[2.2] Về án phí dân sự thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự thẩm sẽ
được xác định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[2.3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Nguyễn Công V
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số
AA/2023/0007328 ngày 12/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông
Bông, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 Đắk Lắk).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đà Nẵng;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc
thẩm tại Đà Nẵng (Viện phúc thẩm 2);
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; (Đã ký)
- TAND khu vực 6 – Đắk Lắk;
12
- Phòng THADS Khu vực 6 – Đắk Lắk; Bùi Quốc Hà
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
13
14
Tải về
Bản án số 263/2025/DS-PT Bản án số 263/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 263/2025/DS-PT Bản án số 263/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất