Bản án số 26/2020/DS-ST ngày 22/06/2020 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2020/DS-ST ngày 22/06/2020 của TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Sóc Trăng (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 26/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Công ty D Số A1 đường A2 tháng A3, khóm A4, phường A5, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu yêu cầu bị đơn là Công ty ST tại địa chỉ số Số B1 đường B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm thanh toán cho Công ty D khoản nợ gốc với số tiền là 298.772.500 đồng và tiền lãi là 44.051.300 đồng, tổng cộng tiền vốn và tiền lãi là 342.823.800 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 20/2020/DS-ST
Ngày 22 - 6 - 2020
V/v tranh chấp đòi lại tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ
Các Hội Thẩm nhân dân:
Ông Trần Vĩnh Ảnh
Bà Võ Ngọc Các
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên
tòa: Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử thẩm công khai vụ án thụ số
150/2019/TLST-DS, ngày 16 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp đòi lại tài sản
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXX-DS ngày 06 ngày 3
tháng 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Diệp Văn Th, sinh
năm 19XX; Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ: Số A1 đường A2 tháng A3, khóm A4, phường A5, thành phố
BL, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: ng ty Cổ phần ST
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Minh Ph, sinh
năm 19XX; Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Số B1 đường B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc
Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bđơn: Ông Hồ Quốc Th, sinh năm
1960 (có mặt).
2
Địa chỉ: ấp C1, , huyện VT, tỉnh Hậu Giang (theo Văn bản ủy
quyền ngày 24/7/2019).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 6 năm 2019 của nguyên đơn
Công ty Trách nhiệm hữu hạn D trong quá trình giải quyết vụ án cũng n
tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông Diệp Văn Th
đều trình bày:
Ngày 27 tháng 9 năm 2016 ông Nguyễn Minh Ph người đại diện cho Công
ty ST (Viết tắt Công ty ST) đại diện của chủ đầu Trụ sở văn phòng
Công ty tại số B1 đường B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
đã chào thầu cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D (Viết tắt Công ty D) thi
công xây Nhà máy chế biến thủy sản Sóc Trăng thuộc dự án của Công ty ST tại
khu công nghiệp An Nghiệp tỉnh Sóc Trăng, cũng trong ngày này nguyên đơn
có chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn Minh Ph số tiền 30.000.000 đồng.
Đến ngày 29 tháng 9 năm 2016 giữa hai Công ty đã cùng Hợp đồng
thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình. Theo yêu cầu của Công ty ST,
Công ty D thống nhất quỹ cho đơn vị chủ đầu tư Công ty ST với số tiền
300.000.000 đồng (Trong đó các bên thống nhất số tiền chuyển khoản vào ngày
27 tháng 9 năm 2016 với số tiền 30.000.000 đồng được cộng với số tiền đưa
trực tiếp vào ngày 29 tháng 9 năm 2016 là 270.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền
mà nguyên đơn đã ký quỹ cho bị đơn là 300.000.000 đồng).
Ngày 31 tháng 10 năm 2016 nguyên đơn chuyển cho ông Nguyễn Văn
C stiền 100.000.000 đồng, Riêng đối với số tiền này đã được nguyên đơn
ông C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Đến ngày 28 tháng 11 năm 2016 nguyên đơn đã đưa tiền trực tiếp cho
người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Nguyễn Minh Ph số tiền
40.000.000 đồng.
Sau khi Công ty D đã chuyển số tiền đúng như thỏa thuận tại Hợp đồng
thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình nhưng Công ty ST đã không thực
hiện đúng như cam kết. Vì vậy, vào ngày 27 tháng 12 năm 2016 giữa Công ty D
Công ty ST đã Biên bản đối chiếu công nợ, tại biên bản này bị đơn thừa
nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 440.000.000 đồng (trong đó 100.000.000
đồng của ông Nguyễn Văn C). Tuy nhiên, sau khi đã đối chiếu công nợ Công ty
ST trình bày đang gặp khó khăn về tài chính tiếp tục yêu cầu Công ty D
chuyển tiền cho bị đơn vào ngày 22 tháng 5 năm 2017 nguyên đơn đã chuyển
vào tài khoản của bị đơn số tiền 60.000.000 đồng. Tổng cộng Công ty D đã
chuyển cho Công ty ST 400.000.000 đồng tiền vốn để thực hiện Hợp đồng
thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình mà các bên đã ký trước đây.
Sau khi nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn tổng cộng 400.000.000 đồng,
nhưng bị đơn lại không thực hiện đúng theo Hợp đồng thỏa thuận về việc
3
quỹ thực hiện công trình các bên đã kết. vậy, ngày 30 tháng 6 năm
2017 và ngày 17 tháng 11 năm 2017 bị đơn đều có ký nhận tại Biên bản bản đối
chiếu công nợ, kiêm giấy xác nhận nợ bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn
400.000.000 đồng ã trừ số tiền 100.000.000 đồng của ông C) cũng tại
Biên bản xử công nợ thỏa thuận lãi suất các bên đã cùng xác nhận,
bị đơn đều đồng ý trả tiền lãi chậm trả tiền cho nguyên đơn với mức lãi suất
4%/tháng trên dư nợ gốc.
Đến ngày 08 tháng 6 năm 2018, tại nhà riêng của ông Nguyễn Minh Ph
tọa lạc tại số B đường B1, phường B2, thành phố Sóc Trăng, ông Ph đại diện
Công ty ST và Công ty D tiến hành đối chiếu công nợ các bên đã thống nhất xác
nhận công nợ đến ngày 08 tháng 6 năm 2018 là 885.146.667 đồng (Trong đó
tiền vốn gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 385.146.667 đồng).
Chiều cùng ngày 08 tháng 6 năm 2018, tại nhà riêng của ông Nguyễn
Minh Ph số B đường B1, phường B2, thành phố Sóc Trăng, ông Ph đại diện
Công ty ST đã thanh toán một phần tiền lãi cho Công ty D với số tiền lãi đã trả
135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Đến ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại nhà riêng của ông Nguyễn Minh Ph
tọa lạc tại số B đường B1, phường B2, thành phố Sóc Trăng, ông Ph đại diện
Công ty ST Công ty D cùng tiến hành lập biên bản đối chiếu công nợ
thống nhất xác nhận công nợ đến ngày 20 tháng 7 năm 2018 ông Nguyễn
Minh Ph đã đại diện Công ty ST cam kết trách nhiệm chi trả cho ng ty D
số tiền tổng cộng là: 594.546.667 đồng (trong đó tiền nợ gốc 400.000.000
đồng và tiền lãi phát sinh là 194.546.667 đồng).
Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại nhà riêng của ông Ph tại số B đường B1,
phường B2, thành phố Sóc Trăng ông Nguyễn Minh Ph đã viết giấy cam kết
trong vòng 90 ngày sẽ thanh toán dứt nợ cho Công ty D Công ty D sẽ giảm
lãi suất cho ông Nguyễn Minh Ph. Nhưng từ khi viết giấy cam kết ông Ph chỉ
trả tiền lãi cho nguyên đơn được 04 lần với tổng số tiền lãi là 39.000.000 đồng.
Trong số tiền này, nguyên đơn không nhớ ngày bị đơn đã trả tiền lãi mà chỉ
nhớ là vào cuối năm 2018. Kể từ đó đến nay, phía bị đơn chỉ hứa hẹn nhằm mục
đích kéo dài thời gian trả tiền cho nguyên đơn không thực hiện theo đúng
những gì mà bị đơn đã cam kết.
Căn cứ theo Giấy cam kết đã ngày 26 tháng 7 năm 2018 Công ty D đã
tiến hành tính toán theo hướng giảm lãi suất từ 4% xuống thành 1,66% cho bị
đơn nguyên đơn đã trừ đi số tiền lãi mà bị đơn đã trả tổng cộng
174.000.000 đồng. Tính đến ngày 21 tháng 6 năm 2019 bị đơn còn phải thanh
toán cho Công ty D với số tiền tổng cộng 433.342.423 đồng (Bốn trăm ba
mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi hai ngàn, bốn trăm hai mươi ba đồng).
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Công ty D đã yêu cầu Tòa án giải
quyết buc bị đơn Công ty ST người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn
Minh Ph, chức vụ: Tổng Giám đốc trách nhiệm hoàn trả lại số tiền
4
433.342.423 đồng (trong đó tiền vốn gốc 392.432.667 đồng tiền lãi
40.909.756 đồng) nguyên đơn tiếp tục yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi
phát sinh theo mức lãi suất 1,66%/tháng cho đến khi thanh toán nợ xong số
tiền nêu trên.
Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn yêu cầu
buc Công ty ST phải trách nhiệm hoàn trả số tiền tổng cộng là 452.390.455
đồng (trong đó tiền vốn gốc 368.635.000 đồng tiền lãi chậm trả tính đến
ngày 17 tháng 6 năm 2020 83.755.455 đồng) tiền lãi phát sinh theo mức
lãi suất 1.35%/tháng cho đến khi thanh toán xong số tiền nêu trên cho Công
ty D.
* Tại các biên bản hòa giải ngày 16 tháng 8 năm 2019, ngày 15 tháng 10
năm 2019 của Tòa án, cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của
bị đơn Công ty ST ông Hồ Quốc Th đều trình bày:
Bị đơn Công ty ST thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về thời
gian Hợp đồng thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình những lần
nguyên đơn đã chuyển tiền cho bị đơn. Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn
đến ngày 08 tháng 6 năm 2018 với số tiền vốn gốc 400.000.000 đồng. Cùng
ngày 08 tháng 6 năm 2018 bị đơn đã trả cho nguyên đơn được số tiền vốn gốc
135.000.000 đồng, khi trả số tiền nêu trên cho nguyên đơn, bị đơn nói với
nguyên đơn trả vào tiền vốn gốc. Tiếp đó, bị đơn đã trả được 04 đợt với tổng
số tiền là 39.000.000 đồng đây là số tiền bị đơn trả tiền vốn gốc cho nguyên
đơn (ngày tháng trả bị đơn không nhớ nhưng trả tiền vào năm 2018). Như vậy,
bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền vốn gốc là 135.000.000 đồng vào ngày 08
tháng 6 năm 2018 tiếp tục trả số tiền vốn gốc 39.000.000 đồng (của 04 đợt
thanh toán) tổng cộng bị đơn đã trả tiền vốn cho nguyên đơn được 174.000.000
đồng.
Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền vốn gốc tính đến ngày 17
tháng 6 năm 2020 226.000.000 đồng (trong đó tiền vốn gốc nợ
400.000.000 đồng - tiền vốn gốc đã trả 174.000.000 đồng, còn nợ lại
226.000.000 đồng). Bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền vốn gốc còn nợ lại là
226.000.000 đồng cho nguyên đơn.
Đối với số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng cộng
122.755.455 đồng, sau khi trừ 39.000.000 đồng còn lại tiền lãi 83.755.455
đồng cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu
1.35%/tháng, bđơn không đồng ý với yêu cầu này, lúc nguyên đơn giao tiền
cho bị đơn đó là tiền ký quỹ để thực hiện công trình, không phải tiền bị đơn vay
của nguyên đơn. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hợp đồng thỏa thuận về
việc quỹ thực hiện công trình được ngày 29 tháng 9 m 2016 Hợp
đồng hiệu xử hậu quả hợp đồng vô hiệu các bên cần hoàn trả cho
nhau những đã nhận cụ thể: Bị đơn đã nhận 400.000.000 đồng tiền quỹ
của nguyên đơn trong đó bị đơn đã trả được số tiền 174.000.000 đồng.
vy, bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ lại là 226.000.000 đồng.
5
* Tại phiên a Kiểm sát viên Đại din Vin kiểm sát nhân dân thành phố
Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật ttụng dân
sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp,
xác định đúng cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng
cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy
định. Về thời hạn gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt
đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến
tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án. Qua thẩm tra các chứng cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề ngh
Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 166, Điều 357, khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân snăm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, cthể xác định lại từng mốc số tiền vốn gốc,
tính lãi chậm thực hiện và đề nghị áp dụng mức lãi suất 0.833%/tháng và không
chấp nhận số tiền yêu cầu vượt của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
toà và trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty D nguyên
đơn yêu cầu bị đơn Công ty ST phải trách nhiệm hoàn trả số tiền tổng
cộng là 452.390.455 đồng (trong đó tiền vốn gốc 368.635.000 đồng và tiền lãi
chậm trả được tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2018 đến ngày 17 tháng 6 năm 2020
cụ thể 368.635.000 x 740 ngày x 1.35%/tháng = 122.755.455 đồng) và tiền
lãi phát sinh. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
“Tranh chấp đòi lại tài sản vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Khoản 3 Điều
26, điểm a Khoản 1 Điều 35 Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Do các bên không yêu cầu Tòa án áp dụng
thời hiệu nên Tòa án không đặt ra xem xét về thời hiệu khởi kiện.
[3]. Tại phiên tòa nguyên đơn Công ty D trình bày trước đây nguyên đơn
yêu cầu bđơn Công ty ST phải trả số tiền vốn 392.432.667 đồng
tiền lãi theo mức lãi suất là 1.66%/tháng. Nhưng nay nguyên đơn xin thay đổi
6
một phần yêu cầu khởi kiện trước đây chỉ yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vốn
368.635.000 đồng và tiền lãi châm trả theo mức lãi suất là 1.35%/tháng với số
tiền lãi là 83.755.455 đồng.
Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá
phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
* Về nội dung vụ án:
[4] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Công ty D đòi bị đơn là Công ty ST
phải thanh toán khoản nợ gốc 368.635.000 đồng tiền lãi chậm trả từ ngày
27 tháng 9 năm 2016 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 17 tháng 6 năm 2020 với
mức lãi suất là 1.35%/tháng và tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận
vào 29 tháng 9 năm 2016 giữa nguyên đơn bị đơn Hợp đồng thỏa
thuận về việc quỹ thực hiện công trình xây dựng nhà máy chế biến thủy sản
Sóc Trăng, thuộc dự án của Công ty ST tại khu công nghiệp An Nghiệp c
Trăng. Tuy nhiên, hợp đồng nêu trên đã không được thực hiện theo đúng nội
dung các bên đã kết. vậy, đến ngày 27 tháng 12 năm 2016 giữa
nguyên đơn bị đơn đã cùng ký Bản đối chiếu công nợ kiêm giấy nhận nợ đối
với số tiền 440.000.000 đồng (trong đó có 100.000.000 đồng của ông C) đến
ngày 30 tháng 6 năm 2017, ngày 17 tháng 11 năm 2017 các đương s đã
Biên bản đối chiếu công nợ kiêm giấy nhận nợ bị đơn đều thừa nhận còn nợ
nguyên đơn số tiền vốn 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 08 tháng 6 năm
2018 bị đơn đã trả cho nguyên đơn được số tiền 135.000.000 đồng bị đơn
tiếp tục trả cho nguyên đơn được 04 lần, không nhớ ngày cụ thể nhưng nguyên
đơn xác nhận bị đơn đã trả đủ số tiền 39.000.000 đồng khoảng cuối tháng 12
năm 2018 từ đó đến nay bđơn vẫn chưa thanh toán số tiền nêu trên cho
nguyên đơn.
Hiện nay, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn đã nhận từ Hợp đồng thỏa
thuận về việc quỹ thực hiện công trình với số tiền nợ gốc theo như nguyên
đơn trình bày là 368.635.000 đồng và tiền lãi 83.755.455 đồng, tổng cộng vốn
lãi 452.390.455 đồng tại phiên tòa bị đơn cũng thừa nhận đã nhận của
nguyên đơn số tiền từ Hợp đồng thỏa thuận quỹ thực hiện công trình là
400.000.000 đồng hiện đã trả tiền vốn được 174.000.000 đồng. Theo Khoản
2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015 quy định: Một bên đương sự
thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết
luận của quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó
không phải chứng minh”. Như vậy, việc nguyên đơn Công ty D bị đơn
Công ty ST Hợp đồng thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình bị
đơn đã nhận số tiền 400.000.000 đồng từ hợp đồng nêu trên là có thật.
[5] Theo Hợp đồng thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình hai
bên đã ký, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi Hợp đồng thỏa thuận về việc
7
ký quỹ thực hiện công trình vào ngày 29 tháng 9 năm 2016 giữa các bên đã giao
nhận đủ số tiền quỹ đầu tiền 300.000.000 đồng, tiếp đó vào ngày 28
tháng 11 năm 2016 nguyên đơn tiếp tục chuyển 40.000.000 đồng ngày 22
tháng 5 năm 2017 nguyên đơn chuyển cho bị đơn số tiền 60.000.000 đồng, vậy
tổng số tiền nguyên đơn đã quỹ cho bị đơn 400.000.000 đồng. Tuy
nhiên, tại Điều 2 của Hợp đồng đã quy định: Sau khi nhận được hồ tiến
hành hợp đồng xây dựng thi công công trình khi lệnh của chủ đầu
Công ty ST. Trong trường hợp Chủ đầu không thực hiện cam kết theo thỏa
thuận trong hợp đồng thì chủ đầu trách nhiệm hoàn trả lại cho bên B số
tiền đã nhận cùng lãi suất thỏa thuận”. Tuy nhiên, đến ngày 27 tháng 12 năm
2016 ngày 30 tháng 6 năm 2017 các bên đã bản đối chiếu công nợ kiêm
giấy xác nhận nợ và cũng tại tờ cam kết ngày 26 tháng 7 năm 2018 bị đơn đã
cam kết trong 90 ngày sẽ trả dứt nợ cho nguyên đơn nhưng đến nay bđơn vẫn
chưa trả lại đầy đủ số tiền mà bị đơn đã nhận của nguyên đơn.
[6] Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày chỉ
đồng ý trả số tiền vốn đã nhận còn nợ lại 226.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng
vào ngày 08 tháng 6 năm 2018 đã trả cho nguyên đơn số tiền vốn
135.000.000 đồng sau đó đã trả được 04 lần với số tiền 39.000.000 đồng,
tổng cộng bị đơn đã trả được số tiền vốn 174.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị
đơn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hợp đồng thỏa thuận tiền đặt cọc ký quỹ
xây dựng công trình đề ngày 29 tháng 9 năm 2016 hiệu xử hậu của
Hợp đồng vô hiệu hoàn trả cho nhau những đã nhận bị đơn không đồng
ý với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
[6.1] Xét lời trình bày của bị đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoản 2
Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp,
giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Tuy
nhiên, phía bị đơn không cung cấp được cho Tòa án bất kỳ tài liệu, chứng cứ để
chứng minh bị đơn đã trả tiền cho nguyên đơn là Công ty D số tiền 174.000.000
đồng là số tiền vốn, bên cạnh đó bị đơn cho rằng chỉ còn nợ nguyên đơn số tiền
vốn là 226.000.000 đồng, tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng số tiền tổng cộng
174.000.000 đồng bđơn đã trả cho nguyên đơn trả tiền lãi nếu như bị
đơn trả tiền vốn thì khi các bên ký bảng đối chiếu công nợ sau này đã phải trừ đi
tiền vốn mà bị đơn đã nhận. Như đã phân tích nêu trên thì lời phản đối của phía
bị đơn Công ty ST không căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[6.2] Xét lời trình bày của bị đơn Công ty ST đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bố Hợp đồng thỏa thuận về việc quỹ thực hiện công trình ngày 29
tháng 9 năm 2016 là vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng dân sự
hiệu. Hội đồng xét xử nhận thấy do trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và trước khi Tòa án ban hành
quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị đơn không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với
8
yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thỏa thuận về việc ký quỹ thực hiện công trình ngày
29 tháng 9 năm 2016 hiệu, mặt khác yêu cầu của bị đơn cũng chưa được
đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 Điều 25 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử không
xem xét giải quyết.
[7] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn trả tiền
vốn tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất chậm trả 1.35%/tháng, cụ thể như
sau:
+ Tiền vốn 300.000.000 đồng: Tính từ ngày 27 tháng 9 năm 2016 đến
ngày 08 tháng 6 năm 2018 nợ gốc là 300.000.000 đồng x 617 ngày x 1.35%=
83.295.000 đồng, vốn và lãi là 383.295.000 đồng
+ Tiền vốn 40.000.000 đồng: Tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2016 đến
ngày 08 tháng 6 năm 2018 nợ gốc 40.000.000 đồng x 557 ngày x 1.35%=
10.026.000 đồng. Vốn và lãi là 50.026.000 đồng
+ Tiền vốn 60.000.000 đồng: Tính tngày 22 tháng 5 năm 2017 đến
ngày 08 tháng 6 năm 2018 nợ gốc 60.000.000 đồng x 282 ngày x 1.35%=
10.314.000 đồng. Vốn và lãi là 70.314.000 đồng
Tổng cộng các khoản nêu trên tiền vốn 400.000.000 đồng tiền i
phát sinh 103.635.000 đồng trừ đi số tiền bị đơn đã trả 135.000.000
đồng, thì bị đơn còn nợ tiền vốn là 368.635.000 đồng.
Tiền vốn tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2018 đến ngày 17 tháng 6 năm
2020 của số tiền vốn gốc là 368.635.000 đồng x 740 ngày x 1.35%/tháng =
122.755.455 đồng, vốn lãi 491.390.455 đồng. Trừ đi số tiền bị đơn đã
trả 39.000.000 đồng thì hiện tại bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền
452.390.455 đồng (trong đó tiền vốn 368.635.000 đồng tiên lãi
83.755.455 đồng và nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nêu trên yêu
cầu bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi chậm trả với mức lãi suất là 1.35%/tháng.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ theo Điều 357 của Bộ luật dân sự năm
2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì tại khoản
1 quy định “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả” tại khoản 2 quy định
“Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên
nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468
của Bộ luật này; nếu không thỏa thuận tthực hiện theo quy định tại khoản
2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Tuy trong hợp đồng thỏa thuận về việc ký quỹ giữa nguyên đơn và bị đơn
ghi: Trường hợp Chủ đầu không thực hiện cam kết theo thỏa thuận trong
hợp đồng thì chủ đầu tư trách nhiệm hoàn trả lại cho bên B số tiền đã nhận
9
cùng lãi thỏa thuận. Tuy nhiên từ khi kết thúc hợp đồng đến nay giữa các bên lại
không có thỏa thuận cụ thể về mức lãi suất nguyên đơn lại yêu cầu bị đơn trả
lãi suất phát sinh do chậm trả tiền với mức lãi suất 1.35%/tháng là cao so với
quy định. vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, tại các biên bản đối chiếu công n
kiêm giấy nhận nc ngày 27 tháng 12 năm 2016; ngày 30 tháng 6 năm 2017;
ngày 17 tháng 11 năm 2017 cũng như tại Giấy cam kết ngày 26 tháng 7 năm
2018 các bên đều thỏa thuận tiền lãi 4%/tháng, tại phiên tòa nguyên đơn chỉ
yêu cầu tính mức lãi là 1.35%/tháng. Tuy nhiên, bị đơn từ khi đối chiếu công nợ
đến nay, bị đơn không chịu trả số tiền nhận cho nguyên đơn bị đơn cũng
không thực hiện đúng thỏa thuận nêu trên, xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn
nhận thấy theo như các Bản đối chiếu công nợ 4%/tháng và yêu cầu tại phiên
tòa 1,35%/tháng quá cao theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại cho phù hợp. Tại phiên tòa c
đương sự đều thừa nhận từ khi ký kết các Biên bản đối chiều công nợ thì bị đơn
đã trả được số tiền cụ thể vào ngày 08 tháng 6 năm 2018 135.000.0000 đồng
trả được 04 lần không ngày cụ thể nhưng tháng 12 năm 2018 trả được
39.000.000 đồng, tổng số tiền mà bị đơn đã trả là 174.000.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 166, Điều 357
Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị đơn có trách nhiệm trả
cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi cụ thể như sau:
Từ ngày đối chiếu công nợ đầu tiên ngày 27 tháng 12 năm 2016 đến
ngày 08 tháng 6 năm 2018 17 tháng 11 ngày x 0.833% x 340.000.000 đ =
49.185.873 đồng.
Từ ngày 30 tháng 6 năm 2017 đến ngày 08 tháng 6 năm 2018 11 tháng
7 ngày x 0.833% x 60.000.000 đ = 5.647.740 đồng.
Ngày 08 tháng 6 năm 2018 bị đơn đã trả được 135.000.000 đồng nên còn
thừa lại số tiền: 135.000.0000 đồng - lãi 54.833.613 đồng = 80.166.387 đồng.
S tin này đưc khấu trừ vào số tiền vốn cụ thể là: 400.000.000 đồng (tiền vốn)
80.166.387 đồng (số tiền thừa lại) = 319.833.613 đồng.
Từ ngày 09 tháng 6 năm 2018 đến ngày 31 tháng 12 năm 2018 06
tháng 22 ngày x 0.833% x 319.833.613 đ = 17.938.878 đồng.
Ngày 31 tháng 12 năm 2018 bị đơn đã trả được 39.000.000 đồng nên còn
thừa lại số tiền 39.000.000 đồng - lãi 17.938.878 đồng = 21.061.112 đồng. S
tin này đưc khấu trừ vào số tiền vốn cụ thể : 319.833.613 đồng (tiền vốn)
21.061.112 đồng (số tiền thừa lại) = 298.772.500 đồng.
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến ngày xét xử thẩm ngày 22 tháng
6 năm 2020 là: 17 tháng 21 ngày x 0.833% x 298.772.500 đồng = 44.051.300
đồng (đã làm tròn số).
10
Như vậy, bị đơn trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay
298.772.500 đồng tiền lãi 44.051.300 đồng. Tổng cộng vốn và lãi
342.823.800 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 166 của Bộ
luật dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn
phải trả cho nguyên đơn 298.772.500 đồng tiền vốn tiền lãi 44.051.300
đồng, tổng cộng tiền vốn và lãi là: 342.823.800 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[8] Từ những phân tích trên, đủ sở chấp nhận đề nghị của Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[9] Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn Công ty D phải chịu án phí
dân sự thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35;
Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 229, Khoản 1
Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 357;
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty D.
Buộc Công ty ST có trách nhiệm thanh toán cho Công ty D khoản nợ gốc
với số tiền 298.772.500 đồng tiền lãi 44.051.300 đồng, tổng cộng tiền
vốn và tiền lãi 342.823.800 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự thẩm: Công ty ST chịu án phí dân sự thẩm là
17.141.190 đồng.
Công ty D phải chịu án phí dân sự thẩm 5.478.332 đồng nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.666.800 đồng theo biên lai thu
11
số 0007581 ngày 24/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc
Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Công ty D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp
5.188.468 đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án
này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên
tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt
hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc
thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bsung
năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sóc Trăng; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Sóc Trăng;
- Các đương sự;
- Chi cục THADS TP Sóc Trăng; (Đã ký và đóng dấu)
- Lưu HSVA.
Nguyễn Thị Kim Huệ
Tải về
Bản án số 26/2020/DS-ST Bản án số 26/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất