Bản án số 144/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 144/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 144/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 144/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 144/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 144/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Vương Minh Tâm
Ông Lê Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 697/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản là quyền sử dụng
đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 832/2025/QĐ-PT ngày 26
tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 104/2026/QĐ – PT ngày 23
tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Phan Thị Hoàng O, sinh năm 1967 (có mặt)
2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1957 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O:
- Anh Trần Quang K, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Đ chỉ: Số nhà G, Khu phố C, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Nguyễn Tưới A, sinh năm 2002 (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Ngô Nhật T, sinh năm 1995 (vắng mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 144/2026/DS - PT
Ngày 05 - 02 - 2026
V/v“Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc và đòi tài sản là
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Địa chỉ: Ấp H, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ liên hệ: Số A Ẻ, đường số C, Khu dân cư S, khu phố M, phường
B, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 06/10/2025.
Người đại diện hợp pháp của anh Trần Quang K, anh Ngô Nhật T:
- Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1997 (có mặt)
Đ chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2003 (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, ấp A, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày
08/01/2026.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà O: Luật sư Nguyễn
Văn T2, Luật sư Huỳnh Văn V, Công ty luật Luật sư M và Cộng sự - Chi nhánh V1.
(vắng mặt)
- Bị đơn:
1. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 1 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là 1 Đ,
phường T, tỉnh Ninh Bình).
Chỗ ở hiện nay: A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là A,
khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của chị H: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1978
Địa chỉ: F, khu phố B, phường A, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền
ngày 02/01/2026.
2. Anh Nguyễn Hữu L sinh năm 1993 (có mặt)
Địa chỉ thường trú: Thị Trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N, tỉnh
Hưng Yên).
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C là nguyên đơn; chị
Nguyễn Thị Thu H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần
Văn C và trong quá trình giải quyết vụ án ông Đinh Minh P1 là người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 26/7/2023, ông Trần Văn C và vợ là bà
Phan Thị Hoàng O ký hợp đồng đặt cọc với chị Nguyễn Thị Thu H. Theo đó, ông C
và bà O có nhận của chị H số tiền cọc là 350.000.000 đồng để chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 989 + 990, tờ bản đồ số 01, diện
tích 733,3m² tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Giá chuyển nhượng phần đất
nêu trên là 879.000.000 đồng. Sau khi đo đạc để tách thửa cho chị H là thửa đất số
528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn
phòng C2 (địa chỉ số D, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre), số công chứng: 1587,
3
quyền số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/7/2023. Chị Nguyễn Thị Thu H đã
đặt cọc trước số tiền là 350.000.000 đồng thời hạn đặt cọc là 12 tháng tại Điều 2
Hợp đồng đặt cọc. Số tiền còn lại 529.000.000 đồng thanh toán theo thỏa thuận
trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đặt cọc là ngày 26/7/2023. Tuy nhiên, chị
Nguyễn Thị Thu H chưa thanh toán số tiền 529.000.000 đồng cho vợ chồng ông C
và bà O.
Ngày 04/5/2024, ông Trần Văn C1 có chuyển nhượng tiếp cho chị Nguyễn Thị
Thu H phần diện tích 38m² (vị trí liền kề với phần diện tích 733,3m² đã bán trước
đây) thuộc một phần thửa đất số 989, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh
Bến Tre với giá chuyển nhượng là 12.500.000 đồng. Phần tiền này chị H và anh L
đã thanh toán đủ. Ông C, bà O không tranh chấp phần diện tích này. Hiện nay, phần
đất có diện tích 773,5m² thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T,
huyện C, tỉnh Bến Tre do anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị Thu H quản lý,
canh tác và sử dụng.
Bà O, ông C1 nhận của chị H, anh L các lần tiền cụ thể như sau:
Ngày 15/6/2023, nhận 200.000.000 đồng để trả tiền ngân hàng, xóa thế chấp để
nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 21/6/2023 nhận 50.000.000 đồng, gồm 40.000.000 đồng chuyển khoản
vào số tài khoản 020040103416 và 10.000.000 đồng tiền mặt giao trực tiếp cho bà
O. Khi nhận số tiền 50.000.000 đồng, anh L đưa cho bà O tờ giấy trắng nói sẽ đánh
biên nhận rồi đưa lại cho bà O. Tuy nhiên khi anh L, chị H đánh nội dung văn bản
“Biên bản nhận thêm tiền cọc và được phép xây dựng ngày 21/6/2023” nhưng khi
nộp cho Tòa án lại ghi là “Biên bản nhận thêm tiền cọc và được phép xây dựng
ngày 28/8/2023”. Biên bản này không có chữ ký của ông C, bà O yêu cầu làm rõ hai
biên bản này.
Ngày 26/7/2023, tại văn phòng C2 nhận 100.000.000 đồng (Gồm 80.000.000
đồng tiền mặt và 20.000.000 đồng chuyển khoản). Bà O, ông C nhận của chị H, anh
L là 350.000.000 đồng tiền cọc; và ngày 04/5/2024 có nhận thêm 12.500.000 đồng.
Tổng cộng bà O nhận của chị H và anh L là 362.000.000 đồng.
Nay ông C, bà O yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 26/7/2023 giữa ông Trần
Văn C và bà Phan Thị Hoàng O với chị Nguyễn Thị Thu H phần đất có diện tích
773,5m² thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến
Tre. Do bên chị H vi phạm hợp đồng nên ông C, bà O không đồng ý trả lại số tiền là
350.000.000 đồng. Yêu cầu anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị Thu H tháo dỡ
công trình trên đất trả lại hiện trạng đất phần đất có diện tích 773,5m² thuộc thửa đất
số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cho ông C và bà O.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H và trong quá trình giải quyết vụ án bà Đỗ Thị P
là người đại diện hợp pháp của bị đơn chị H trình bày: Vào ngày 26/07/2023, chị
Nguyễn Thị Thu H và vợ chồng bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C ký kết Hợp
đồng đặt cọc số 1587 tại Văn phòng C2 thỏa thuận về việc đặt cọc nhằm mục đích
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể như sau: Số tiền đặt cọc
350.000.000đồng; thời hạn đặt cọc: 12 tháng kể từ ngày Hợp đồng được công
4
chứng; Mục đích đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với một phần thửa đất số 989 + 990, tờ bản đồ số 01, diện tích
733,3m
2
, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; giá chuyển nhượng đất:
879.000.000 đồng; bên nhận đặt cọc có nghĩa vụ làm mọi thủ tục pháp lý để chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bên đặt cọc đúng thời hạn theo Hợp đồng
đặt cọc này.
Căn cứ theo nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc nêu trên, chị H đã thanh
toán cho vợ chồng bà O, ông C đầy đủ số tiền 350.000.000 đồng. Sau ngày ký hợp
đồng đặc cọc, vợ chồng bà O, ông C lại yêu cầu chị H đặt cọc thêm 50.000.000
đồng với lý do cần tiền để chi phí đi lại và hồ sơ tách thửa cho chị H. Chị H đã đồng
ý và ký hợp đồng đặt cọc thêm 50.000.00 đồng tại nhà của vợ chồng bà O, ông C.
Được sự cho phép của vợ chồng bà O, ông C, chị H đã nhận đất và vào đất canh tác
sử dụng, chị H đã tiến hành lắp đặt công trình phục vụ nhu cầu sử dụng trên thửa
đất 989, 990 nêu trên như: lắp đặt một căn nhà cây có diện tích 6m x 4m (giá trị nhà
và chi phí nhân công lặp đặt là 110.000.000đồng), thuê người cải tạo đất, làm
đường nước và trồng 9 cây sầu riêng trên đất chi phí là 10.000.000 đồng. Chị H đã
mua một phần đường đi để đi vào đất, cải tạo đường đi này là 30.000.000đồng.
Tổng số tiền mà chị H tiến hành cải tạo đất, làm đường nước, trồng cây và chi phí
lắp đặt nhà, tiền mua lối đi cải tạọ lối đi tổng cộng là 150.000.000 đồng. Chị H mua
phần đường đi làm lối đi vào đất trên có diện tích là 3 x 0.5m
2
thuộc một phần thửa
470 tờ 6 tại xã T của chủ đất là bà Lê Thị Bé B; phần đất này giáp thửa đất 989 +
990, tờ bản đồ số 01 mà chị H mua của vợ chồng bà O1-ông C.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng, vợ chồng bà O, ông C có trách nhiệm hoàn thiện
các thủ tục và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị H trước ngày 26/07/2024.
Nếu không thực hiện đúng hạn, họ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường theo các
điều khoản đã thống nhất trong hợp đồng. Tuy nhiên, vào ngày 26/07/2024, bà O và
ông C không đến Văn phòng Công chứng như đã hẹn và từ chối thực hiện việc
chuyển nhượng; hành động này cho thấy sự lẫn tránh trách nhiệm. Nay chị H yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị Hoàng O và ông Trần Văn C hoàn trả lại
tiền đã đặt cọc số tiền là 350.000.000đồng và bồi thường số tiền tương ứng số tiền
đặt cọc là 350.000.000 đồng, tổng số tiền là 700.000.000 đồng; yêu cầu bà Phan Thị
Hoàng O và ông Trần Văn C hoàn trả lại cho chị H số tiền là 50.000.000 đồng theo
văn bản giao nhận thêm tiền đặt cọc; yêu cầu bà Phan Thị Hoàng O và ông Trần
Văn C trả lại số tiền chuyển nhượng ngày 04/5/2023 là 12.500.000 đồng; yêu cầu bà
Phan Thị Hoàng O và ông Trần Văn C phải bồi hoàn cho chị H giá trị căn nhà, giá
trị cây trồng, chi phí lắp đặt nhà, tiền thuê nhân công trồng cây, tiền cải tạo đất, chi
phí lắp đặt đường nước, trên đất thửa 989, 990 tổng cộng 140.000.000 đồng. Tổng
số tiền chị H yêu cầu là 902.500.000 đồng nhưng nay chị H xác định chỉ yêu cầu số
tiền 900.000.000 đồng.
Theo chị H lần giao tiền đầu tiên là 250.000.000 đồng, không phải 200.000
đồng như phía nguyên đơn trình bày. Hôm đó, có hợp đồng vay tiền là 250.000.000
đồng, để trả tiền Ngân hàng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lần 2 là
40.000.000 đồng chuyển khoản cho chị T3 vào ngày 21/6/2023 và 10.000.000 tiền
mặt vào ngày 28/8/2023 tổng cộng là 50.000.000 đồng. Ngày 26/7/2023, tại văn
5
phòng C2 nhận 100.000.000 đồng (gồm 80.000.000 đồng tiền mặt và 20.000.000
đồng chuyển khoản); ngày 04/5/2024 có giao thêm 12.500.000 đồng tiền chuyển
nhượng. Tổng cộng bà O nhận của chị H và anh L là 412.500.000 đồng.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu L trình bày: Anh L1 muốn mua đất để cất nhà đưa con
cái đến đây để sinh sống. Vì vậy qua giới thiệu vợ chồng anh L1, chị H gặp bà O,
ông C nhận chuyển nhượng 1 phần đất 300m
2
trong đó có tối thiểu 50m
2
là thổ cư
(phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ố 300359, số
44020701273QSDĐ/10678QĐ-UB). Vợ chồng bà O, ông C đồng ý và cam kết thửa
đất này không bị tranh chấp hay kê biên. Tuy nhiên, thửa đất đang được thế chấp tại
Ngân hàng A1 số tiền 200.000.000 đồng. Để thực hiện giao dịch anh L1 và chị H
đưa cho ông C, bà O 250.000.000 đồng nhằm rút sổ từ ngân hàng để xóa thế chấp.
Ngày 20/6/2023, tại văn phòng công chứng Lê Hùng D1 tại địa chỉ tại ấp D, ấp A,
xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) anh L1 và chị H đưa cho
ông C, bà O 250.000.000 đồng, sau đó ông C, bà O thông báo cho ông rằng diện
tích 300m
2
không đủ điều kiện tách thửa, vì vị trí đất thổ cư đã định vị không thể di
chuyển. Vì vậy ông C, bà O yêu cầu anh L1 đưa thêm 100.000.000 đồng để tiến
hành đo đạc tách thửa, anh L1 và chị H đồng ý. Ngày 26/7/2023, chị H và vợ chồng
ông C, bà O ký hợp đồng đặt cọc phần đất có diện tích 733,3m
2
thuộc 1 phần thửa
989+990 với giá 879.000.000 đồng, số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng.
Khoản 6 tháng sau vợ chồng ông C, bà O yêu cầu anh L1 giao thêm
50.000.000 đồng để cần tiền chi phí đi lại và tách thửa, anh L1 giao thêm
50.000.000 đồng. Tổng số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng. Sau đó, được sự cho
phép của ông C, bà O, anh L1 và chị H về cải tạo trên đất, lắp ghép 1 số công trình
phục vụ nhu cầu trên đất. Tuy nhiên, trong lúc cải tạo thì Ủy ban nhân dân xã T
(nay là xã P) thông báo là phần đất của anh L1 và chị H đã bị kê biên bán đấu giá.
Khi biết sự việc, anh L1 đã yêu cầu vợ chồng ông C, bà O giải quyết vấn đề thi
hành án. Ông C, bà O luôn khẳng định cho rằng kê biên sai vị trí. Sau đó, ông C, bà
O lại yêu cầu anh L1 trả hết nợ cho thi hành án. Hành động che giấu việc thi hành
án của vợ chồng C, bà O đã gây khó khăn cho anh L1 và chị H rất nhiều. Do đó,
anh L1 yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của chị H, buộc C, bà O trả lại
cho chị H các khoản đã nêu trên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2025 và
Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 29/2025/QĐ - SCBSQĐ ngày 06
tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C, bà Phan Thị
Hoàng O.
Hủy hợp đồng đặt cọc vào ngày 26/7/2023 giữa ông Trần Văn C, bà Phan Thị
Hoàng O và chị Nguyễn Thị Thu H đối với 01 phần thửa 898+990, tờ bản đồ số 01,
địa chỉ xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, diện tích 733,3m
2
(Nay là thửa 528, tờ bản đồ
số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Buộc chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Hữu L có trách nhiệm hoàn trả
thửa 528 tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long cho Trần Văn C và bà
Nguyễn Thị O2.
6
Ông Trần Văn C và bà Phạm Thị Hoàng O3 được quyền quản lý, sử dụng toàn
bộ cây trồng và công trình trên thửa 528 tờ bản đồ số 06, tọa lạc i xã T, tỉnh Vĩnh
Long.
Không chấp nhận yêu cầu không trả lại số tiền cọc 400.000.000 đồng cho chị
Nguyễn Thị Thu H.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị Thu H.
Buộc ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O phải trả cho chị Nguyễn Thị Thu
H và anh Nguyễn Hữu L số tiền tổng cộng 550.149.000đồng (trong đó gồm: Tiền
đặt cọc 350.000.000đồng; tiền nhận chuyển nhượng 12.500.000đồng; tiền nhận
ngoài cọc 50.000.000 đồng; tiền đầu tư trên thửa 528 là 137.649.000đông).
Không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của chị Nguyễn Thị Thu H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của
pháp luật.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn
C kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết hủy
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O, ông C.
Ngày 06 tháng 10 năm 2025, bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H kháng cáo bản án
sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu phạt cọc của chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần
Văn C, chị Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O không rút yêu cầu
khởi kiện, giữa nguyên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; bà Đỗ Thị P là người
đại diện hợp pháp của bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
của bị đơn chị H. Giữa nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C, chị
Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O với bị đơn anh Nguyễn Hữu L,
bà Đỗ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau: Theo thỏa thuận thì bà
Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thu H đồng ý hủy hợp đồng
đặt cọc ngày 26/7/2023 đối với 01 phần thửa đất 898+990, tờ bản đồ số 01, tọa lạc
xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, diện tích 733,3m
2
(nay là thửa 528, tờ bản đồ số 06,
tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long); chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L có trách
nhiệm trả lại thửa đất 528, tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long cho Trần
Văn C, bà Phan Thị Hoàng O; ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O có nghĩa vụ
trả cho chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L số tiền 512.500.000 đồng (trong
đó gồm: Tiền đặt cọc 350.000.000 đồng, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất 12.500.000 đồng; tiền nhận ngoài cọc 50.000.000 đồng; tiền giá trị cây trồng và
tài sản xây dựng trên thửa đất 528 là 100.000.000 đồng); ông Trần Văn C, bà Phan
Thị Hoàng O được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng và công trình trên thửa 528, tờ
bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long; Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn C, bà
Phan Thị Hoàng O tự nguyện chịu 6.262.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu H, anh
Nguyễn Hữu L tự nguyện chịu 6.262.000 đồng, do ông C, bà O nộp tạm ứng trước
7
số tiền 12.524.000 đồng nên chị H, anh L nộp lại số tiền 6.262.000 đồng trả lại cho
ông C, bà O; Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Hoàng O phải chịu số tiền
12.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 600.000 đồng tiền tạm
ứng án phí theo biên lai số 0006386 và biên lai số 0006387 cùng ngày 17/12/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 5 – Vĩnh Long), bà Phan Thị Hoàng O nộp tiếp số tiền án
phí còn lại 11.650.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch nhưng được trừ vào 19.500.000
đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006530 ngày 11/02/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 5 – Vĩnh Long), chị H được nhận lại 19.200.000 đồng tiền tạm ứng án
phí; Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn C.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị kiểm sát viên cho rằng: Giữa nguyên đơn bà Phan Thị
Hoàng O, ông Trần Văn C, chị Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O
với bị đơn anh Nguyễn Hữu L, bà Đỗ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị đơn
chị Nguyễn Thị Thu H thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nội dung
thỏa thuận của đương sự hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp
luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự
thỏa thuận này của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về vắng mặt đương sự: Anh Nguyễn Tưới A, chị Nguyễn Thị Thanh T1 là
người đại diện hợp pháp của của nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O vắng mặt nhưng
có đơn xin vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật
sư Nguyễn Văn T2 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, luật sư Huỳnh Văn
V vắng mặt; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần
Văn C, chị Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O yêu cầu Tòa án xét xử
vắng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Phiên tòa hôm nay là
phiên tòa mở lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, giữa nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O,
ông Trần Văn C, chị Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O với bị đơn
anh Nguyễn Hữu L, bà Đỗ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị đơn chị Nguyễn
Thị Thu H thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án: Theo thỏa thuận thì
bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thu H đồng ý hủy hợp
đồng đặt cọc ngày 26/7/2023 đối với 01 phần thửa đất 898+990, tờ bản đồ số 01, tọa
lạc xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, diện tích 733,3m
2
(nay là thửa 528, tờ bản đồ số
8
06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long); chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L có
trách nhiệm trả lại thửa đất 528, tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long cho
Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O; ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O có
nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L số tiền 512.500.000
đồng (trong đó gồm: Tiền đặt cọc 350.000.000đồng, tiền nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất 12.500.000 đồng; tiền nhận ngoài cọc 50.000.000 đồng; tiền giá
trị cây trồng và tài sản xây dựng trên thửa đất 528 là 100.000.000 đồng); ông Trần
Văn C và bà Phan Thị Hoàng O được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng và công trình
trên thửa 528 tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long; Về chi phí tố tụng:
Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O tự nguyện chịu 6.262.000 đồng; chị
Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L tự nguyện chịu 6.262.000 đồng, do ông C,
bà O nộp tạm ứng trước số tiền 12.524.000 đồng nên chị H, anh L nộp lại số tiền
6.262.000 đồng trả lại cho ông C, bà O; Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị
Hoàng O phải chịu số tiền 12.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ
vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006386 và biên lai số
0006387 cùng ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành,
tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Vĩnh Long), bà Phan
Thị Hoàng O phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại 11.650.000 đồng; chị Nguyễn Thị
Thu H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có
giá ngạch nhưng được trừ vào 19.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu
số 0006530 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành,
tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Vĩnh Long), chị H được
nhận lại 19.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí; Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
cho ông Trần Văn C. Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện,
không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được chấp
nhận.
[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O, chị
Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Phan
Thị Hoàng O 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0003096
ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Hoàn trả cho chị Nguyễn
Thị Thu H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0004227
ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2025
và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 29/2025/QĐ - SCBSQĐ ngày
06 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long.
9
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần
Văn C, chị Huỳnh Thị D là người đại diện hợp pháp của bà O với bị đơn anh
Nguyễn Hữu L, bà Đỗ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị đơn chị Nguyễn Thị
Thu H:
Hủy hợp đồng đặt cọc vào ngày 26/7/2023 giữa ông Trần Văn C, bà Phan Thị
Hoàng O và Nguyễn Thị Thu H đối với 01 phần thửa 898+990, tờ bản đồ số 01, tọa
lạc xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, diện tích 733,3m
2
(nay là thửa 528, tờ bản đồ số
06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L có trách nhiệm trả lại thửa đất
528, tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long cho ông Trần Văn C, bà Phan Thị
Hoàng O quản lý, sử dụng (có Họa đồ hiện trạng kèm theo).
Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị
Thu H, anh Nguyễn Hữu L số tiền 512.500.000 đồng (trong đó gồm: Tiền đặt cọc
350.000.000 đồng, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 12.500.000đồng;
tiền nhận ngoài cọc 50.000.000 đồng; tiền giá trị cây trồng và tài sản do anh L, chị
Hồng T4 và xây dựng trên thửa đất 528 là 100.000.000 đồng).
Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng
và công trình do anh L, chị Hồng T4 và xây dựng trên thửa 528, tờ bản đồ số 06, tọa
lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên
được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời
gian chưa thi hành án.
2. Về chi phí tố tụng: Số tiền 12.524.000 đồng. Ông Trần Văn C, bà Phan Thị
Hoàng O tự nguyện chịu 6.262.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu
L tự nguyện chịu 6.262.000 đồng. Do ông C, bà O nộp tạm ứng trước số tiền
12.524.000 đồng nên chị H, anh L phải nộp số tiền 6.262.000 đồng trả lại cho ông
C, bà O.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn C.
Bà Phan Thị Hoàng O phải chịu số tiền 12.250.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm nhưng được trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số
0006386 và biên lai số 0006387 cùng ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 –
Vĩnh Long), bà Phan Thị Hoàng O phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại 11.650.000
đồng.
10
Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự không có giá ngạch nhưng được trừ vào 19.500.000 đồng tiền tạm ứng án
phí theo biên lai thu số 0006530 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 –
Vĩnh Long), chị H được nhận lại 19.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O, chị
Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Phan
Thị Hoàng O 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0003096
ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Hoàn trả cho chị Nguyễn
Thị Thu H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0004227
ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm