Bản án số 151/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 151/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 151/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 151/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 151/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 151/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 895/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng
12 năm 2025 về việc “Tranh chp quyền sử dụng đt”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2026/QĐ-PT ngày 09
tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Tấn T, sinh năm 1974
(có mặt)
Địa chỉ: A, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày
12/6/2025.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị
Diễm C – Công ty L5. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng L, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 (có
mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 03/8/2023
và ngày 09/5/2025.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 151/2026/DS - PT
Ngày 06 - 02 - 2026
V/v “Tranh chp quyền sử
dụng đt”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
1. Bà Phan Thị N, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà N: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 31/7/2024.
2. Anh Phạm Hưng V, sinh năm 1994 (xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
3. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm
Văn H trình bày như sau: Vào ngày 20/7/1994, ông Phạm Văn H có hùng vốn với 05
người khác gồm: Phạm Văn H1, Phạm Thị K, Phạm Thị L1, Phạm Thị D, Phạm Văn
B để mua thửa đất số 723, tờ bản đồ số 01, diện tích 122.560 m
2
(Số hiệu 299 ), đất
nuôi trồng Thủy sản (Trích lục bản đồ ngày 15/06/2011, của Phòng đăng ký quyền
sử dụng đất huyện B) của bà Nguyễn Thị R. Đến năm 1997 thì phần đất này tách ra
làm 6 phần đất và lần lượt được Chính quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 723, tờ bản đồ số
1, diện tích 30.640 m
2
, toạ lạc xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tĩnh Vĩnh
Long) vào ngày 04/02/2004. Đến năm 2006, đo đạc chính quy thì thửa đất 723 có số
liệu mới thuộc thửa số 3, diện tích 32.187,3m
2
, tờ bản đố số 9, toạ lạc xã T, tĩnh V.
Trong quá trình sử dụng đất, ông Phạm Hoàng L đã lần chiếm qua đất của ông H.
Nay ông H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm Hoàng L, bà Nguyễn Thị X
tháo dỡ, di dời các công trình kiến trúc có trên đất trả lại cho ông H phần đất có diện
tích 507,4m
2
(phần ký hiệu 3 -7, diện tích 488,9m
2
, 3-3 diện tích 7,3 m
2
, 3-8 diện
tích: 11,2 m
2
) thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 9 (tư liệu cũ thuộc thửa 723); đối với nhà
Y của ông L lấn chiếm qua đất ông H có diện tích 1,56m
2
(phần 1,56m
2
nằm trong
phần diện tích ký hiệu 3 -7) ông H yêu cầu ông L phải hoàn trả giá trị đất theo giá
Hội đồng định giá đã định; Buộc ông Phạm Hoàng L trả lại cho ông H số tiền nhận
bồi thường công trình đường vào trung tâm xã T năm 2010 là (300 m
2
- 276,2m
2
(thửa
đất 2-3 )) x 60.000đồng = 1.596.000 đồng.
Ông H không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn ông L yêu cầu ông H, bà Phan
Thị N, ông Phạm Hưng V có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L số tiền 894.000 đồng do
gia gia đình ông H đã nhận tiền bồi thường diện tích đất 14,9m²; không đồng ý trả
cho ông L đất diện tích 468,3m² đã lấn chiếm từ thửa đất số 724, tờ bản đồ số 01, diện
tích 31.850m² (theo số liệu chính quy là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 09, diện tích
30.135m²) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
3
Tại đơn phản tố, lời khai của bị đơn ông Phạm Văn L2 và lời khai của bà
Nguyễn Thị X là người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày như sau: Nguồn gốc
đất trước đây là đất đập của gia đình ông L2 do cụ Nguyễn Thị H2 tự khai phá sau đó
cho lại ông L2 quản lý, sử dụng từ năm 1989, đất nuôi trồng thủy sản. Thời điểm này
ông L2 và vợ là bà X quản lý sử dụng đất và chủ sử dụng đất liền kề đối với thửa đất
723, tờ bản đồ số 01 (theo số liệu cũ) là ông Mạc Huy T1 chứ không phải là ông Phạm
Văn H. Quá trình quản lý sử dụng đất từ năm 1989 đến năm 1994, ông L2 và bà X
trực tiếp quản lý sử dụng đất; từ năm 1995 đến năm 2000 cho bà Cảnh V1 thuê đất;
từ năm 2001 đến năm 2003 cho ông Nguyễn Văn C1 thuê đất; từ năm 2004 đến năm
2005, ông Nguyễn Văn C1 cho ông Lê Văn X1 thuê đất; từ năm 2006 đến năm 2008
cho ông Trịnh Lam S thuê đất. Năm 2010, ông L2 có làm đơn tranh chấp gửi đến Tòa
án nhân dân huyện Bình Đại khởi kiện ông H lấn ranh đất của ông L2, tuy nhiên được
Tòa án động viên rút đơn do lúc này ông L2 đang làm việc tại Ủy ban nhân dân xã T.
Năm 2012, gia đình ông L2 xây nhà mới và hàng rào kiên cố như ngày nay. Vào năm
2018, ông L2 có đến Ủy ban nhân dân xã T yêu cầu đổi giấy chứng nhận quyền sử
đất thì biết đất của ông L2 bị giảm 1.715m
2
, ông L2 có hỏi địa chính xã thì được giải
thích do sai số đo đạc nên ông L2 đồng ý đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi ông H thuê đo đạc phục hồi ranh đất theo số liệu chính quy thì ông L2 mới
biết đất giảm do đo đạc đo sai nên giảm diện tích và làm đơn gửi đến Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thời điểm đo đạc chính quy khoảng năm 2005 – 2006, gia đình ông L2 không
có ai ra thực địa thống nhất ranh đất, lúc bấy giờ chỉ có người thuê đất. Thời điểm
này cha ruột ông H là Phạm Văn H1 canh tác đất. Ông L2 nghĩ rằng ông H1 đã chỉ
ranh đất của ông H1 qua ranh đất của ông L2 nên sau này ông H quản lý, sử dụng đất
không biết ranh đất của ông H đến đâu, vì năm 2010, ông L2 làm đơn tranh chấp gửi
đến Tòa án là tranh chấp ranh bờ đập, ông H không phản ánh đến vị trí tranh chấp
này do vị trí bờ đập đến hàng rào ông xây dựng kiên cố khoảng 10 năm và 8-9 mét.
Đến năm 2018, do cần vốn để phát triển kinh tế gia đình nên ông L2 làm thủ tục đổi
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 724, tờ bản đồ số 01, diện
tích 31.850m
2
sang số liệu chính quy là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 09, diện tích
30.135m
2
do sơ ý nên ông L2 không phát hiện diện tích đất gia đình mình quản lý
mất diện tích đất. Nay ông L2 và bà X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông
H. Đồng thời, tại phiên tòa ông L2 yêu cầu ông Phạm Văn H, bà Phan Thị N, ông
Phạm Hưng V có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L2 số tiền 894.000 đồng do gia gia
đình ông H đã nhận tiền bồi thường diện tích đất 14,9m² của gia đình ông L2 và trả
cho ông L2 bằng quyền sử dụng đất diện tích 468,3m² đã lấn chiếm từ thửa đất số
4
724, tờ bản đồ số 01, diện tích 31.850m² (theo số liệu chính quy là thửa đất số 02, tờ
bản đồ số 09, diện tích 30.135m²) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay
là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N, anh Phạm Hưng V:
Thống nhất với ý kiến trình bày của ông Phạm Văn H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H đối
với bị đơn ông Phạm Hoàng L, bà Nguyễn Thị X về việc ông Phạm Hoàng L và bà
Nguyễn Thị X có nghĩa vụ liên đới trả cho ông H phần đất có diện tích 505,84m
2
và
giá trị 1,56m
2
đất nhà yến và yêu cầu ông L, bà X tháo dỡ công trình kến trúc trên đất
trả lại cho nguyên đơn số tiền bồi thường là 1.596.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
Buộc Phạm Văn H, bà Phan Thị N, anh Phạm Hưng V có nghĩa vụ liên đới trả
số tiền cho ông Phạm Hoàng L số tiền 894.000 đồng do gia đình ông H đã nhận tiền
bồi thường diện tích 14,8m
2
của gia đình ông L.
Buộc ông Phạm Văn H, bà Phan Thị N, anh Phạm Hưng V có nghĩa trả lại cho
ông Phạm Hoàng L phần đất diện tích 468,3m
2
đã lấn chiếm thuộc các thửa 3-9, 3-6
tờ bản đồ số 9, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày
15/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 20.
Ông Phạm Hoàng L được quyền sử dụng phần đất thuộc các thửa 3-3, 3-6, 3-
7, 3-9, tờ bản đồ số 9 theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 15/9/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 20. Kiến nghị có quan nhà nước có thẩm
quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và họa đồ cho ông Phạm Hoàng
L theo diện tích nêu các thửa nêu trên theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chậm thi
hành án, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn ông Phạm Văn H kháng cáo bản án sơ
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Phạm Văn H và người đại diện hợp
pháp của ông H là ông Trương tấn T không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Các phần
đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 3 của nguyên đơn ông H, đề nghị Hội đồng xét
5
xử chấp nhận kháng cáo của ông H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông H.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Thửa 723, diện tích 30.640 m
2
,
được cấp quyền sử dụng đất cho gia đình ông Phạm Văn H vào ngày 04/02/2004,
theo tư liệu mới là thửa số 3, diện tích 32.187,3m
2
là tăng hơn so với diện tích được
cấp quyền sử dụng đất. Thử đất 724, diện tích 31.850m² được cấp quyền sử dụng đất
cho gia đình ông Phạm Hoàng L vào ngày 13/11/1996, theo tư liệu mới là thửa số 2,
diện tích 30.135m
2
là giảm hơn so với diện tích được cấp quyền sử dụng đất. Khi đo
đạc lại theo tư liệu mới thửa đất số 2 và thửa số 3 thì phía gia đình ông L không có
ký giáp ranh. Trên phần đất tranh chấp diện tích 507,4m
2
(ký hiệu 3-7, 3-8, 3-3) có
các tài sản của gia đình ông L như cổng rào, đường đanl, một phần nhà Y, cây trồng
nên có cơ sở khẳng định phần đất này là của gia đình ông L; việc nguyên đơn ông H
khởi kiện yêu cầu gia đình ông L trả lại phần đất này là không có cơ sở. Đối với phần
diện tích đất 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-9, 3-6), ban đầu bị đơn ông L không có tranh
chấp phần diện tích đất này, phần diện tích đất này phía nguyên đơn đang sử dụng
nên có cơ sở khẳng định phần diện tích đất này là của gia đình nguyên đơn ông H;
việc bị đơn ông L có yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận phần diện tích đất này cho
ông L là không có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu
cầu kháng cáo của ông H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về vắng mặt đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm
Hưng V vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Thửa 723, diện tích 30.640 m
2
, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã T, huyện B, tỉnh
Bến Tre (nay là xã T, tĩnh Vĩnh Long), hộ ông Phạm Văn H được cấp quyền sử dụng
đất vào ngày 04/02/2004 (theo tư liệu mới là thửa số 3). Thửa đất 723 này giáp ranh
với thửa đất 724, diện tích 31.850m², tờ bản đồ số 1 của hộ ông Phạm Văn L2 được
cấp quyền sử dụng đất vào ngày 13/11/1996.
Theo tư liệu mới (tư liệu chính quy) thì thửa đất 723 của hộ ông H đổi thành
thửa số 3, diện tích 32.187,3m
2
, tờ bản đồ số 9 do ông H kê khai, đăng ký nhưng chưa
được cấp quyền sử dụng đất; thửa 724 của hộ ông L2 đổi thành thửa số 2, diện tích
6
30.135m
2
, tờ bản đồ số 9, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm
Hoàng L vào ngày 16/8/2018.
Theo kết quả thẩm định thì phần diện tích đất tranh chấp gồm: Phần diện tích
507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8), phần diện tích 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-9, 3-6)
thuộc thửa số 3 (theo tư liệu mới) (BL 333 - 336).
[3] Xét về quá trình sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 507,4m
2
(phần ký
hiệu 3-7, 3-3, 3-8): Theo biên bản thẩm định ngày 21/02/2022 thể hiện trên phần đất
tranh chấp tích 507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8) có các công trình của gia đình
ông L như cổng rào xây tường, đường đanl, một phần nhà Y, cây trồng như cây sêri,
mãn cầu, me, xoài, khế, mít, chanh, dừa, đào... (BL 68 - 70). Theo lời khai của ông
Lê Văn X1, ông Phạm Văn C2, ông Nguyễn Văn L3, ông Lê Văn Đ là những người
có đất gần kề với đất ông H, ông L đều cho rằng ranh đất giữa ông H với ông L là
một cái bờ đập, mỗi bên là 1/2 cái bờ đập (BL 131 – 132, 179 -183). Tại giấy xác
nhận ngày 23/12/2009, ông Mạc Huy T1 (là chủ cũ thửa đất 723) cũng xác định ranh
giữa thửa đất 723 với thửa 724 là cái bờ đập (BL 185). Theo lời khai của ông Mạc
Huy L4 (ông L4 là em ruột ông Mạc Huy T1) cũng xác nhận ranh giữa thửa đất 273
với thửa 274 là cái bờ, mỗi bên ½ cái bờ (BL 192).
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa 724 của gia đình ông L diện
tich 31.850m²; thửa 723 của gia đình ông H diện tích 30.640m
2
. Nhưng theo tư liệu
mới đo đạc lại thì 724 thành thửa số 2, diên tích 30.135m
2
, giảm 1.715 m²; thửa 723
thành thửa số 3, diện tích 32.187,3m
2
, tăng 1.547,3m². Theo trích lục bản đồ địa chính
giữa thửa 723 với thửa 724; giữa thửa số 3 với thửa số 2 thể hiện hình thể ranh giới
giữa thửa 723 với thửa 274 so với hình thể ranh giới giữa thửa số 3 với thửa số 2 có
sự thay đổi (BL 195 – 196, 198, 10, 15, 16). Theo hồ sơ đo đac theo tư liệu mới (tư
liệu chính quy) không thể hiện ông Phạm Hoàng L có ký giáp ranh khi đo đạc theo
tư liệu mới này nên có cơ sở xác định ranh theo bản đồ địa chính chính quy là không
chính xác theo ranh giới thực tế mà các bên đã sử dụng từ xưa đến nay (BBL 79 –
117).
Từ những chứng cứ và phân tích trên có cơ sở khẳng định phần diện tích đất
tranh chấp 507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8) là do gia đình ông L sử dụng từ trước
cho đế nay, trong quá trình sử dụng gia đình ông L đã trồng cây và xây dựng các công
trình kiên có trên đất, việc ông H dựa vào bản đồ địa chính số liệu chính quy thể hiện
phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 3 do ông H kê khai, đăng ký (ông H chưa
được cấp quyền sử dụng đất) khởi kiện yêu cầu gia đình ông L trả phần diện tích đất
507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8) là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét quá trình sử dụng phần diện tích 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-9 , 3-6) thuộc
thửa số 3 (theo tư liệu mới), Hội đồng xét xử xét thấy, phần diện tích đất này nằm
7
trong thửa 3 do ông H, kê khai, đăng ký, trên đất không có tài sản gì của ông L; khi
hai bên bắt đầu tranh chấp khi chỉ ranh đo đạc phần đất tranh chấp thì ông L chỉ chỉ
ranh đến phần diện tích đất 507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8), còn phần diện tích
đất 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-9, 3-6) này thì ông L không tranh chấp. Việc này được
chứng minh khi so sánh Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 26/3/2023 với Họa đồ
hiện trạng sử dụng đất ngày 19/5/2025 (BL 59 – 60; 333 – 340). Điều này cho thấy,
ban đầu khi tranh chấp ông L vẫn thừa nhận phần diện tích 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-
9, 3-6) là do gia định ông H sử dụng. Do đó, yêu cầu phản tố của ông L yêu cầu gia
đình ông H trả cho ông L phần diện tích 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-9 , 3-6) là không
có cơ sở chấp nhận.
[5] Đối với số tiền nhà nước bồi thường đất mà các bên đã nhận: Theo họa đồ
hiện trạng sử dụng đất ngày 15/9/2025 (BL 333 -340) thì diện tích đất của phía ông
L bị thiệt hại do giải phóng mặt bằng là 297,2m
2
(phần ký hiệu 2-3 diện tích 273,4m
2
,
3-11 diện tích 23,8m
2
) nhưng theo Giấy thỏa thuận nhận tiền bồi thường ngày
20/9/2010 (BL 53 – 55) thì ông H nhận số tiền bồi thường của 671,9m
2
đất, còn ông
L (đại diện là bà X) nhận số tiền bồi thường của 300m
2
đất (các bên thỏa thuận nhận
tiền trước, khi nào Tòa án xử phần đt bồi thường cho ai diện tích bao nhiêu thì người
đó nhận by nhiêu) là ông L nhận nhiều hơn diện tích ông L bị thiệt hại là 2,8m
2
. Do
đó, việc ông L yêu cầu phản tố buộc ông H trả tiền nhận bồi thường diện tích 14,9m
2
với số tiền 894.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận. Ông L phải có nghĩa vụ trả
cho ông H số tiền nhận bồi thường nhiều hơn diện tích đất 2,8m
2
với số tiền 168.000
đồng (2,8m
2
x 60.000 đồng/m
2
).
[6] Từ những chứ cứ và phân tích trên [2], [3], [4], [5], Hội đồng xét xử xét
thấy, kháng cáo của ông H là có cơ sở chấp nhận một phần.
[7] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn,
như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần.
[8] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét
xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[9] Về chi phí tố tụng: Số tiền 26.594.000 đồng. Buộc ông Phạm Văn H, ông
Phạm Hoàng L mỗi người phải chịu 13.297.000 đồng chi phí tố tụng. Do ông Phạm
Văn H đã nộp tạm ứng số tiền 12.415.000 đồng, ông Phạm Hoàng L đã nộp tạm ứng
số tiền 14.179.000 đồng nên ông H có nghĩa vụ nộp lại số tiền 882.000 đồng để trả
cho ông L.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng
được trừ vào 12.117.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006393 ngày
11/5/2021, biên lai số 0006922 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
8
huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh
Long), biên lai số 0002538 ngày 08/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long,
ông Phạm Văn H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn dư là 1.817.000 đồng.
Buộc ông Phạm Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng
được trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai 0011258 ngày 08/5/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long), ông Phạm Hoàng L được nhận lại số tiền tạm ứng
án phí còn dư là 300.000 đồng.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. H3 trả cho ông H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà
ông H đã nộp theo biên lai số 0003082 ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm văn H.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 175, 182 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Khoản 9, 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100,
Điều 101, Điều 166 của Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 26 của Luật đất đai năm 2024;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H: Yêu cầu
ông Phạm Hoàng L, bà Nguyễn Thị X tháo dỡ, di dời công trình kến trúc có trên đất
trả cho ông Phạm Văn H phần diện tích đất 507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8)
thuộc thửa đất 3, tờ bản đồ số 9, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long và yêu cầu ông Phạm
Hoàng L, bà Nguyễn Thị X trả giá trị phần đất diện tích 1,56m
2
gắn liền nhà Y của
ông L (phần diện tích 1,56m
2
nằm trong phần diện tích ký hiệu 3-7).
2. Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H yêu cầu ông
Phạm Hoàng L, bà Nguyễn Thị X trả số tiền nhận bồi thường đối với phần diện tích
2,8m
2
với số tiền 168.000 đồng.
Buộc ông Phạm Hoàng L, bà Nguyễn Thị X trả số tiền nhận bồi thường nhiều hơn
đối với phần diện tích đất 2,8m
2
với số tiền 168.000 đồng cho ông Phạm Văn H.
9
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Hoàng L yêu cầu ông Phạm Văn
H, bà Phan Thị N, anh Phạm Hưng V trả phần diện tích đất 468,3m
2
(phần ký hiệu 3-
9, 3-6) thuộc thửa đất 3, tờ bản đồ số 9, tọa lạc xã T, tỉnh Vĩnh Long và yêu cầu trả
phần tiền nhận bồi thường phần diện tích đất 14,9m
2
với số tiền 894.000 đồng.
4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Hoàng L yêu cầu công nhận cho ông
Phạm Hoàng L được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích 507,4m
2
(phần ký hiệu
3-7, 3-3, 3-8), loại đất nuôi trồng thủy sản, thuộc thửa đất 3, tờ bản đồ số 9, tọa lạc
xã T, tỉnh Vĩnh Long. Phần diện tích đất 507,4m
2
(phần ký hiệu 3-7, 3-3, 3-8) có vị
trí, tứ cận theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 15/9/2025 kèm theo.
Ông Phạm Hoàng L được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục
cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 507,4m
2
trên theo quyết định của
Bản án này.
5. Về chi phí tố tụng: Số tiền 26.594.000 đồng. Buộc ông Phạm Văn H, ông Phạm
Hoàng L mỗi người phải chịu 13.297.000 đồng chi phí tố tụng. Do ông Phạm Văn H
đã nộp tạm ứng số tiền 12.415.000 đồng, ông Phạm Hoàng L đã nộp tạm ứng số tiền
14.179.000 đồng nên ông H có nghĩa vụ nộp lại số tiền 882.000 đồng để trả cho ông
L.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được
trừ vào 12.117.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006393 ngày 11/5/2021,
biên lai số 0006922 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình
Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long), biên lai
số 0002538 ngày 08/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, ông Phạm Văn
H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn dư là 1.817.000 đồng.
Buộc ông Phạm Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được
trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai 0011258 ngày 08/5/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long), ông Phạm Hoàng L được nhận lại số tiền tạm ứng án
phí còn dư là 300.000 đồng.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. H3 trả cho ông H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông H đã
nộp theo biên lai số 0003082 ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
10
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 8 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm