Bản án số 257/2025/DS-PT ngày 18/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 257/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 257/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 257/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 257/2025/DS-PT ngày 18/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
Số hiệu: | 257/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 18/07/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | ông P và bà T2 có đơn khởi kiện bổ sung vào ngày 08/5/2024, yêu cầu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 257/2025/DS-PT
Ngày 18 – 7 – 2025
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Điện – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2025/TLPT-DS
ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:178/2025/QĐ-PT ngày
02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Minh P, sinh năm 1974 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 09607400931; Cấp ngày: 02/7/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1970 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 096170012060; Cấp ngày: 08/7/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh C ..
Nay là: Ấp Gành Hào 2, phường H, tỉnh C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Minh P và bà Lê Thị
T2: Ông Trần Chí Thiện, là Luật sư của Chi nhánh Công ty Luật Trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Công Hùng và Cộng sự tại Cà Mau, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh
Cà Mau (Có mặt).
2
- Bị đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1983;
Căn cước công dân số: 096183016939; Cấp ngày: 18/11/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường H, khóm 7, phường 7, thành phố C .,
tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh C ..
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Trần Thị V: Chi nhánh Công
ty Luật TNHH ANP tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Người được Công ty Luật TNHH ANP cử để đại diện hợp pháp cho bà Trần
Thị V: Ông Trịnh Công T6, sinh năm 2000; Địa chỉ cư trú: Số 232, đường Nguyễn
Thị Minh Khai, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh), (Có mặt trong quá trình xét xử, vắng
mặt khi tuyên án)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị V: Ông Nguyễn
Văn Thân, là Luật sư của Chi nhánh Công ty Luật TNHH ANP tại Thành phố Hồ
Chí Minh, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Ông Trần Văn T3 (vắng mặt);
2. Ông Trần Văn K (Vắng mặt);
3.Ông Trần Văn G (Vắng mặt);
4. Bà Trần Thị T4 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Đường Hải Thượng Lãn Ông, khóm 7, phường 7, thành
phố C, tỉnh C;
Nay là: Đường Hải Thượng Lãn Ông, phường H, tỉnh C.
5. Bà Trần Thị X (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C ;
Nay là: ấp M, xã T, tỉnh C ;
6. Bà Trần Thị T5 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Khu Đô thị Happy Home - số 127 Quản lộ Phụng Hiệp,
phường T, thành phố C, tỉnh C;
Nay là: Khu Đô thị Happy Home - số 127 Quản lộ Phụng Hiệp, phường T,
tỉnh C.
7. Ông Đặng Phi T1, sinh năm 2003;
Căn cước công dân số: 096203014668; Cấp ngày: 30/12/2023; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Số 57, đường Nguyễn Trãi, khóm 1, phường 9, thành phố C,
tỉnh C.
Nay là: Số 57, đường Nguyễn Trãi, khóm 1, phường A, tỉnh C.
3
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Đặng Phi T1: Ông Trần
Chi L, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã H, huyện N, tỉnh C . (nay là Ấp 1,
xã N, tỉnh C), (Có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị V, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 trình bày:
Ngày 22/8/2004, ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 có sang nhượng của vợ
chồng ông Trần Văn Bạc và bà Phạm Thị Giào phần đất ruộng diện tích 04 công,
thuộc thửa số 150, tờ bản đồ số 04, tọa lạc ấp Gành Hào 2, xã Hòa Tân, thành phố
Cà Mau, tỉnh Cà Mau, giá chuyển nhượng 7 lượng 6 chỉ vàng 24K; hợp đồng
chuyển nhượng không ra công chứng, chứng thực; sau khi chuyển nhượng ông P
và bà T2 quản lý phần đất cho đến nay.
Nguyên nhân ông P và bà T2 chưa đứng tên quyền sử dụng đất do ông Bạc
và bà Giào thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng nên không
làm thủ tục sang tên được. Sau khi ông Bạc và bà Giào chết, ông P và bà T2 có yêu
cầu các con của ông Bạc và bà Giào làm thủ tục sang tên, nhưng các con ông Bạc
và bà Giào không thực hiện.
Nay ông P và bà T2 khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/8/2004 giữa ông Trần Văn Bạc và bà Phạm
Thị Giào với ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2, phần đất diện tích 5.250m
2
(chiều ngang 21m, chiều dài 250m), tọa lạc ấp Gành Hào 2, xã Hòa Tân, thành
phố Cà Mau; Buộc những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bạc
và bà Giào gồm: Bà Trần Thị V, ông Trần Văn T3, ông Trần Văn K, ông Trần
Văn G, bà Trần Thị T4, bà Trần Thị X, bà Trần Thị T5 tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng ngày 22/8/2004 và làm thủ tục tách thửa đối với phần đất đã
chuyển nhượng.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông P và bà T2 có đơn khởi
kiện bổ sung vào ngày 08/5/2024, yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Đặng Phi T1 và bà Trần Thị V, khởi kiện bà Trần Thị V là
bị đơn và đưa các người con ông Bạc và bà Giào với tư cách người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Theo bà Trần Thị V trình bày:
Bà V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P và bà T2. Bà V yêu cầu
Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định.
Bà V không đồng ý yêu cầu của ông T1, bà V cho rằng giao dịch giữa ông
T1 với bà là giao dịch vay tài sản, hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng để che
đậy cho hợp đồng vay. Bà V xác định bà vay số tiền 100.000.000 đồng của ông
Đặng Phi T1, nhưng mọi giao dịch thông qua ông Cần; bà V thừa nhận có ký
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T1; đối với hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất, bà V không thừa nhận có ký hợp đồng thuê. Bà V đồng ý trả
tiền vay 100.000.000 đồng và tiền lãi 3.500.000 đồng/tháng cho ông T1.
- Theo bà Trần Thị X trình bày:
4
Bà là con ruột của ông Trần Văn Bạc và bà Phạm Thị Giào, vào năm 2004
bà có ký tên vào biên bản họp thân tộc về việc sang nhượng phần đất giữa cha, mẹ
bà với ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2, phần đất 04 công. Phần đất này cha bà đã
ủy quyền cho bà Trần Thị V, nên bà không đồng ý ký tên vào biên bản. Bà từ chối
nhận văn bản tố tụng và xin vắng mặt các lần hòa giải và xét xử tại Tòa án.
- Theo ông Trần Chi L là người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Phi T1
trình bày:
Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Trần Thị V với ông Đặng Phi T1 được công chứng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng
công chứng Trần Mai Hương, diện tích 4.724,2 m
2
, tại ấp Gành Hào 2, xã Hòa
Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Buộc ông P và bà T2 giao đất cho ông T1
và hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị V với ông Đặng Phi T1.
Trường hợp không chấp nhận yêu cầu của ông T1, thì ông T1 yêu cầu bà V trả lại
cho ông T1 số tiền chuyển nhượng 350.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại do
không giao tài sản được.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc
thửa đất số 178, tờ bản đồ số 07, diện tích 5.228,7m
2
giữa ông Trần Minh P và bà
Lê Thị T2 với ông Trần Văn Bạc và bà Phạm Thị Giào ngày 22/8/2004.
Nguyên đơn có nghĩa vụ liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ số 07,
diện tích 5.228,7m
2
, tại ấp Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh C . theo quy định.
Phần đất có tứ cận giáp ranh: Phía Đông giáp bà Trần Thị X; Phía Tây giáp
bà Nguyễn Thị Lệ Hoa và ông Trần Minh P; Phía Bắc giáp kênh Miếu Ông Tà;
Phía Nam giáp ông Nguyễn Chí Hiếu.
(Kèm theo bản vẽ ngày 25/7/2023 của Trung tâm kỹ thuật, công nghệ, quan
trác tài nguyên và môi trường).
Do giấy chứng nhận cấp cho bà Trần Thị V nên bà Trần Thị V có trách
nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đứng tên cho cho nguyên đơn.
Đề nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị V để chuyển tên
quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo quy định.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Phi T1 về việc Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị V với ông
Đặng Phi T1 công chứng ngày 09/11/2022, tại Văn phòng Công chứng Trần Mai
Hương và buộc ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 giao đất.
Hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Phi T1 và bà Trần Thị
V ký ngày 09/11/2022.

5
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị V và Đặng
Phi T1 công chứng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng Công chứng Trần Mai Hương
là vô hiệu.
Buộc bà Trần Thị V trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho ông Đặng Phi T1.
Buộc ông Đặng Phi T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng bản gốc cho
bà Trần Thị V.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí
và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 25/3/2025, bà Trần Thị V có đơn kháng cáo, yêu cầu huỷ bản án sơ
thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, do cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá toàn diện
chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bà Trần Thị V giữ nguyên
kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T6 phát biểu: Về tư cách tham gia tố tụng của bà V: Khi Toà án cấp sơ
thẩm thụ lý vụ án xác định ông Bạc và bà Giào là bị đơn, bà V và các người con
còn lại của ông Bạc và bà Giào là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn. Nhưng trong quá trình xét xử cấp sơ thẩm thay đổi tư cách tham gia tố tụng
xác định và Vốn là bị đơn, những người con khác còn lại của ông Bạc và bà Giào
là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác. Toà án cấp sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông P và bà T2 là vượt quá phạm vi khởi
kiện. Về thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng cấp sơ thẩm xác định
thêm tranh chấp quyền sử dụng đất để không xác định thời hiệu khởi kiện là không
đúng. Nếu tranh chấp quyền sử dụng đất thì phải có hoà giải cơ sở, nếu không có
hoà giải cơ sở là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Về đánh giá chứng cứ, không có căn
cứ chứng minh ông P và bà T2 đã giao vàng cho ông Bạc và bà Giào, cũng không
thể hiện có hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp xác định bà V là bị đơn thì yêu
cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
do đã hết thời hiệu khởi kiện.
Luật sư Thiện phát biểu: Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông P và bà T2 với
ông Bạc và bà Giào được thể hiện trên cơ sở biên bản họp thân tộc về việc sáng
bán đất ruộng ngày 22/8/2004, thống nhất cho ông Bạc và bà Giào sang nhượng
cho ông P và bà T2 phần đất 04 công để trả nợ Ngân hàng và bên ngoài, giá
chuyển nhượng 76 chỉ vàng 24K. Mặc dù biên bản họp thân tộc không ghi vị trí đất
nhưng cùng ngày ông Bạc và bà Giào đã cặm ranh, giao đất cho ông P và bà T2 sử
dụng từ năm 2004 đến nay; từ khi giao đất năm 2004 đến khi bà Giào, ông Bạc
chết cũng không tranh chấp, các con ông Bạc và bà Giào cũng không tranh chấp.
Về chứng cứ giao vàng, mặc dù không có biên nhận nhưng trong biên bản họp thân
tộc ông Trần Văn Mười là em của ông Bac phát biểu nếu ông G ngăn không cho
sang đất thì phải đem số vàng giao cho ông P. Như vậy thể hiện ông Bạc và bà
Giào đã có nhận vàng của ông P và bà T2; trong biên bản họp thân tộc cũng có bà
Trần Thị X là con của ông Bạc, bà Giào ký tên. Việc ông P và Tèo chưa được
6
chuyển tên quyền sử dụng đất, do năm 2005 bà Giào chết nên không làm thủ tục
chuyển tên quyền sử dụng đất được; sau đó, do các con của bà Giào ở nhiều nơi
không tập trung về được để ký thủ tục chuyển tên cho ông P và bà T2. Khi bà V
lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà V có nói để cho bà
đứng tên rồi sẽ chuyển lại cho ông P và bà T2, nên ông P mới ký giáp ranh; nhưng
khi được cấp quyền sử dụng đất thì bà V không thực hiện. Về tố tụng, ban đầu ông
P và bà T2 khởi kiện ông Bạc và bà Giào là bị đơn, các con ông Bạc và bà Giào là
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bạc và bà Giào. Trong quá trình
giải quyết vụ án, ông P và bà T2 biết được phần đất chuyển nhượng bà V đã đứng
tên quyền sử dụng đất nên có đơn khởi kiện bổ sung đối với bà V, nên cấp sơ thẩm
xác định lại tư cách bà V là bị đơn, những người con khác còn lại của ông Bạc và
bà Giào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. Về thời hiệu khởi
kiện, hợp đồng chuyển nhượng đang hực hiện nên chưa hết thời hiệu khởi kiện. Do
đó, kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà V, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Ông P, bà T2 không có ý kiến tranh luận.
Ông L phát biểu: Ông T1 yêu cầu nếu hợp đồng vô hiệu thì buộc bà V trả lại
số tiền 350.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại, nhưng cấp sơ thẩm chỉ buộc bà V
trả số tiền 100.000.000 đồng mà không giải quyết bồi thường thiệt hại là chưa
chính xác. Do ông T1 không có kháng cáo nên chỉ nêu để rút kinh nghiệm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bà V xác định đối
với phần quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến tranh chấp giữa ông T1 với
bà V, bà V thống nhất, không có kháng cáo; chỉ kháng cáo phần quyết định của
bản án sơ thẩm liên quan đến tranh chấp giữa ông P và bà T2 với bà V. Do đó, Hội
đồng xét xử chỉ xem xét đối với phần kháng cáo của bà V theo quy định tại Điều
293 của Bộ luật Tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bà Trần Thị V, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Điều 429 của Bộ luật dân sự quy định thời hiệu
khởi kiện về hợp đồng: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh
chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết
quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Như vậy, mặc dù ông P và bà
T2 cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Bạc và bà Giào
từ năm 2004, ông bà quản lý sử dụng đất ổn định, không bị ai xâm phạm và cũng
không có tranh chấp. Đến năm 2022, bà V mới lập thủ tục đăng ký kê khai xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà ông P và bà T2 cho rằng
đã chuyển nhượng cho ông, bà và bà V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 09/3/2022; đến ngày 09/11/2022, bà V lập hợp đồng chuyển nhượng cho
ông T1 đối với phần đất nêu trên. Do đó, quyền và lợi ích hợp pháp của ông P và
bà T2 đối với phần đất cho rằng nhận chuyển nhượng của ông Bạc và bà Giào bị
7
xâm phạm từ thời điểm bà V đăng ký kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và chuyển nhượng cho ông T1. Đến ngày 10/4/2023, ông P và bà T2 khởi
kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp và được Toà án thụ lý giải quyết là vẫn còn thời
hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự.
[3] Đối với việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông P và bà T2: Tại Điều
244 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay
đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ
không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
ban đầu”. Như vậy, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự chỉ quy định đối với
trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên toà; Do đó, trong quá
trình giải quyết vụ án, trước khi mở phiên toà ông P và bà T2 có bổ sung yêu cầu
khởi kiện cũng không được xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
[4] Đối với việc Toà án cấp sơ thẩm có thay đổi tư cách tham gia tố tụng của
bà V, xác định bà V là bị đơn trong vụ án: Tại đơn khởi kiện của ông P và bà T2
ngày 10/4/2023 xác định bị đơn là ông Trần Văn Bạc (đã chết) và bà Phạm Thị
Giào (đã chết); bà V và những người con khác còn lại của ông Bạc và bà Giào là
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Giào, nên Toà án cấp sơ thẩm thụ lý
vụ án xác định tư cách tham gia tố tụng của bà V theo đơn khởi kiện của ông P và
bà T2. Do trong quá trình giải quyết vụ án do phát sinh tình tiết phần đất mà ông P
và bà T2 cho rằng chuyển nhượng của ông Bạc và bà Giào đã được bà V đăng ký
kê khai và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà V đứng tên, nên ông
P và bà T2 có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đối với bà V. Do đó, Toà án
cấp sơ thẩm thay đổi tư cách tham gia tố tụng của bà V, xác định bà V là bị đơn,
những người con khác còn lại của ông Bạc và bà Giào là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là có cơ sở.
[5] Về nội dung tranh chấp: Theo đo đạc phần đất tranh chấp có kích thước:
Chiều ngang cạnh 21m và cạnh 21,05m; chiều dài cạnh 248,07m và cạnh 250m;
diện tích 5.228,7m
2
, tọa lạc ấp Gành Hào 2, xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh
Cà Mau. Ông P và bà T2 cho rằng phần đất nêu trên ông bà nhận chuyển nhượng
của ông Bạc và bà Giào theo biên bản họp thân tộc về việc sang nhượng đất ruộng
ngày 22/8/2004, với giá bằng 07 lượng 06 chỉ vàng 24K; ông bà đã giao đủ số
vàng cho ông Bạc và bà Giào, ông Bạc và bà Giào đã giao đất, cặm ranh cho ông
bà quản lý sử dụng từ năm 2004 đến nay. Bà V không thừa nhận có việc ông Bạc
và bà Giào sang nhượng đất cho ông P và bà T2, mà cho rằng phần đất nêu trên
ông Bạc và bà Giào cho ông P và bà T2 mượn để làm đường xổ nước nuôi tôm.
Tuy nhiên, bà V không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh phần đất tranh
chấp là cho ông P và bà T2 mượn. Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bà V
cũng thừa nhận việc cho rằng phần đất cho ông P và bà T2 mượn để làm đường xổ
nước nuôi tôm như kích thước, diện tích nêu trên là không hợp tình, hợp lý.
[6] Xét trình bày của ông P và bà T2 cho rằng phần đất sang nhượng của ông
Bạc và bà Giào: Tại phiên toà, ông P và bà T2 xác định việc sang nhượng và giao
vàng cho ông Bạc và bà Giào không lập thành văn bản riêng mà được thực hiện
bằng Biên bản họp thân tộc về việc sang nhượng đất ruộng ngày 22/8/2004 (gọi tắt
là biên bản họp thân tộc ngày 22/8/2004). Qua xem xét nội dung biên bản họp thân
8
tộc ngày 22/8/2004, thấy rằng: Do phần đất của ông Bạc và bà Giào sang nhượng
cho ông P và bà T2, nhưng ông Trần Văn G (là con trai út của ông Bạc và bà Giào)
làm đơn yêu cầu không cho ông Bạc và bà Giào sang nhượng cho ông P và bà T2,
nên tổ chức họp thân tộc để thống nhất cho ông Bạc và bà Giào sang nhượng. Cuộc
họp có chính quyền địa phương, thân tộc của ông Bạc, thân tộc của bà Giào, ông G
và bà X (là con ruột ông Bạc, bà Giào), ông Lý (con rễ ông Bạc, bà Giào), và
những người dân ở địa phương tham dự. Cũng trong cuộc họp, ông Trần Văn Mười
(là em ruột ông Bạc) phát biểu: Ông Bạc và bà Giào sang bán đất là hợp lý, nếu
ông G không cho sang thì phải đem số vàng đưa cho ông P. Qua trao đổi của thân
tộc, ông G thống nhất cho ông Bạc và bà Giào sang phần đất 04 công tầm 03 thước
cho ông P và bà T2. Đối chiếu với ý kiến phát biểu của ông Út tại cuộc họp có cơ
sở xác định ông Bạc và bà Giào đã có nhận của ông P và bà T2 số vàng sang
nhượng đất, mặc dù không nêu cụ thể về số lượng.
[7] Đồng thời, qua xác minh đối với ông Võ Văn Hừng, ông Nguyễn Thành
Lũy, ông Phạm Văn Bảnh, ông Nguyễn Trọng Phương, là những người tham dự
cuộc họp thân tộc ngày 22/8/2004 đều xác định có việc ông Bạc và bà Giào sang
nhượng đất cho ông P và bà T2 và đã giao đất cho ông P và bà T2 quản lý sử dụng
từ khi họp thân tộc năm 2004. Xét lời trình bày của những người này phù hợp với
trình bày của ông P và bà T2. Đối với lời trình bày của bà Trần Thị X (là con ruột
của ông Bạc và bà Giào) cũng xác định vào năm 2004 bà có ký tên vào biên bản
họp thân tộc về việc sang nhượng phần đất giữa cha mẹ bà với ông P, bà T2, phần
đất 04 công.
[8] Như vậy, phần đất đã được giao cho ông P và bà T2 sử dụng từ năm
2004; nhưng từ năm 2004 đến khi bà Giào chết (năm 2005), ông Bạc chết (năm
2013) cũng không thể hiện có việc ông Bạc và bà Giào đòi ông P và bà T2 trả vàng
sang nhượng đất và từ sau khi ông Bạc chết đến khi ông P và bà T2 khởi kiện thì
các con ông Bạc và bà Giào cũng không có ai đòi ông P và bà T2. Do đó, có cơ sở
xác định ông P và bà T2 đã trả xong số vàng sang nhượng đất cho ông Bạc và bà
Giào. Có cơ sơ xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P và bà
T2 với ông Bạc và bà Giào là có thực tế xảy ra. Mặc dù, hợp đồng chuyển nhượng
chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật về mặt hình thức, nhưng hợp đồng đã được
các bên thực hiện, ông P và bà T2 đã thanh toán xong số vàng sang nhượng đất cho
ông Bạc và bà Giào; ông Bạc và bà Giào đã giao đất cho ông P và bà T2 quản lý sử
dụng từ năm 2004, nên hợp đồng chuyển nhượng có đủ điều kiện để công nhận
hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 129 của Bộ luật dân sự. Do đó, Toà án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P và bà T2, công nhận hợp đồng
chuyển nhượng là có căn cứ.
[9] Tuy nhiên, xét về quan hệ pháp luật tranh chấp xét thấy: Yêu cầu khởi
kiện của ông P, bà T2 và yêu cầu độc lập của ông T1 đối với bà V thực chất là khởi
kiện yêu cầu giải quyết về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất là chưa chính xác. Do đó, cấp
phúc thẩm có điều chỉnh xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng
9
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, đồng thời có điều chỉnh lại cách tuyên đối với
quyết định của bản án sơ thẩm.
[10]Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà Trần
Thị V, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[12] Án phí dân sự phúc thẩm bà V phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được
chuyển thu.
[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra
xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị V.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm
2025 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa
ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 với ông Trần Văn Bạc và bà Phạm Thị Giào
theo Biên bản họp thân tộc về việc sang bán đất ruộng lập ngày 22/8/2004 đối với
diện tích đất theo đo đạc thực tế 5.228,7m
2
thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ số 7
(bản đồ chỉnh lý năm 2009), đất toạ lạc tại ấp Gành Hào 2, xã Hoà Tân, thành phố
Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ông P và bà T2 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
thực hiện thủ tục đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định pháp luật.
(Kèm theo bản vẽ ngày 25/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ -
Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Phi T1 về việc yêu cầu công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị V với ông Đặng Phi
T1 công chứng ngày 09/11/2022, tại Văn phòng Công chứng Trần Mai Hương và
buộc ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 giao đất cho ông T1.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị V
với ông Đặng Phi T1 công chứng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng Công chứng
Trần Mai Hương là vô hiệu.
Hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Phi T1 và bà Trần Thị
V ký ngày 09/11/2022.
10
Buộc bà Trần Thị V trả lại cho ông Đặng Phi T1 số tiền 100.000.000 đồng.
Buộc ông Đặng Phi T1 trả lại cho bà Trần Thị V bản gốc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị V, cấp ngày 03/11/2022 được điều chỉnh
đứng tên ông Đặng Phi T1 ngày 15/12/2023.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Thị V hoàn trả lại cho ông Trần Minh P
và bà Lê Thị T2 số tiền 5.696.000 đồng và hoàn trả lại cho ông Đặng Phi T1 số
tiền 4.500.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu thêm khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Minh P và bà Lê Thị T2 không phải chịu
án phí. Ông P và bà T2 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003165 ngày
07/4/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008590 ngày 08/5/2024 được
nhận lại. Ông Đặng Phi T1 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 13/9/2024, ông T1 đã dự
nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009272 được đối trừ chuyển thu án phí. Bà
Trần Thị V phải chịu 5.300.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng. Ngày
31/3/2025, bà V đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010587 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
(Toà án nhân dân khu vực 1- Cà Mau);
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau
(Phòng THADS khu vực 1- Cà Mau);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 04/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm