Bản án số 257/2025/DS-PT ngày 18/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 257/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 257/2025/DS-PT ngày 18/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 257/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông P và bà T2 có đơn khởi kiện bổ sung vào ngày 08/5/2024, yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 257/2025/DS-PT
Ngày 18 7 2025
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Điện Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 141/2025/TLPT-DS
ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s:178/2025/QĐ-PT ngày
02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Minh P, sinh năm 1974 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 09607400931; Cấp ngày: 02/7/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Thị T2, sinh năm 1970 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 096170012060; Cấp ngày: 08/7/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh C ..
Nay là: p Gành Hào 2, phường H, tỉnh C.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Trần Minh P Thị
T2: Ông Trần Chí Thiện, Luật của Chi nhánh Công ty Luật Trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Công Hùng Cộng stại Mau, thuộc Đoàn Luật tỉnh
Cà Mau (Có mặt).
2
- Bị đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1983;
Căn cước công dân số: 096183016939; Cấp ngày: 18/11/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường H, khóm 7, phường 7, thành phố C .,
tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: p G, xã H, thành phố C, tỉnh C ..
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Trần Thị V: Chi nhánh Công
ty Luật TNHH ANP tại Thành phố H Chí Minh.
Người được Công ty Luật TNHH ANP cử để đại diện hợp pháp cho Trần
Thị V: Ông Trịnh Công T6, sinh m 2000; Địa chỉ trú: Số 232, đường Nguyễn
Thị Minh Khai, phường Thị Sáu, quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh (nay
phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh), (Có mặt trong quá trình xét xử, vắng
mặt khi tuyên án)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Trần Thị V: Ông Nguyễn
Văn Thân, Luật của Chi nhánh Công ty Luật TNHH ANP tại Thành phố Hồ
Chí Minh, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Ông Trần Văn T3 (vắng mặt);
2. Ông Trần Văn K (Vắng mặt);
3.Ông Trần Văn G (Vắng mặt);
4. Bà Trần Thị T4 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ trú: Đường Hải Thượng Lãn Ông, khóm 7, phường 7, thành
phố C, tỉnh C;
Nay là: Đường Hải Thượng Lãn Ông, phường H, tỉnh C.
5.Trần Thị X (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C ;
Nay là: ấp M, xã T, tỉnh C ;
6.Trần Thị T5 (Vắng mặt);
Địa chỉ trú: Khu Đô thị Happy Home - số 127 Quản lộ Phụng Hiệp,
phường T, thành phố C, tỉnh C;
Nay là: Khu Đô thị Happy Home - s127 Quản lộ Phụng Hiệp, phường T,
tỉnh C.
7. Ông Đặng Phi T1, sinh năm 2003;
Căn cước công dân số: 096203014668; Cấp ngày: 30/12/2023; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ trú: Số 57, đường Nguyễn Trãi, khóm 1, phường 9, thành phố C,
tỉnh C.
Nay là: Số 57, đường Nguyễn Trãi, khóm 1, phường A, tỉnh C.
3
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Đặng Phi T1: Ông Trần
Chi L, sinh năm 1975; Địa chỉ trú: Ấp 1, H, huyện N, tỉnh C . (nay là Ấp 1,
xã N, tỉnh C), (Có mặt).
- Người kháng cáo: Trần Thị V, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Trn Minh P và bà Lê Th T2 trình bày:
Ngày 22/8/2004, ông Trn Minh P Th T2 sang nhượng ca v
chng ông Trần Văn Bc Phm Th Giào phần đt rung din tích 04 công,
thuc tha s 150, t bản đồ s 04, ta lc p Gành Hào 2, Hòa Tân, thành ph
Mau, tnh Mau, giá chuyn nhượng 7 ng 6 ch vàng 24K; hợp đồng
chuyển nhượng không ra công chng, chng thc; sau khi chuyển nhượng ông P
và bà T2 qun lý phần đất cho đến nay.
Nguyên nhân ông P và T2 chưa đứng tên quyn s dụng đất do ông Bc
và bà Giào thế chp giy chng nhn quyn s dụng đất cho Ngân hàng nên không
làm th tục sang tên được. Sau khi ông Bc và bà Giào chết, ông P và bà T2 có yêu
cu các con ca ông Bc và Giào làm th tục sang tên, nhưng các con ông Bc
và bà Giào không thc hin.
Nay ông P và bà T2 khởi kiện yêu cầung nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyn sử dụng đất ngày 22/8/2004 giữa ông Trần n Bạc bà Phạm
Th Giào vi ông Trn Minh P Thị T2, phần đất din tích 5.250m
2
(chiu ngang 21m, chiều dài 250m), ta lạc ấp nh o 2, Hòa Tân, thành
ph Cà Mau; Buộc những nời thừa kế quyền và nga v t tụng của ông Bạc
Giào gồm: Bà Trần Thị V, ông Trần Văn T3, ông Trần Văn K, ông Trần
Văn G, bà Trần Thị T4, bà Trần Thị X, bà Trần Thị T5 tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng ngày 22/8/2004 m thủ tục tách thửa đối với phần đất đã
chuyển nợng.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp thm, ông P T2 đơn khởi
kin b sung vào ngày 08/5/2024, yêu cu: Hy hp đồng chuyển nng quyền
sử dụng đất gia ông Đặng Phi T1 bà Trần Th V, khi kiện bà Trần Th V là
bị đơn và đưa c ni con ông Bạc và Giào với tư cách người quyền lợi,
nga vụ ln quan trong vụ án.
- Theo bà Trần Th V tnh y:
V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P và bà T2. Bà V yêu cầu
a án áp dụng thời hiệu khởi kiện và đình chỉ gii quyết vụ án theo quy đnh.
V không đng ý yêu cu của ông T1, V cho rằng giao dịch giữa ông
T1 với bà là giao dịch vay tài sản, hai n lập hợp đồng chuyển nợng đ che
đậy cho hợp đng vay. Bà V xác định vay s tiền 100.000.000 đồng của ông
Đặng Phi T1, nng mọi giao dịch tng qua ông Cần; V tha nhận
hợp đồng chuyển nợng quyền s dụng đất với ông T1; đối với hp đng th
quyền s dụng đất, bà V kng tha nhận ký hợp đồng thuê. V đng ý tr
tin vay 100.000.000 đồng tin i 3.500.000 đồng/tháng cho ông T1.
- Theo bà Trn Th X trình bày:
4
con rut ca ông Trần Văn Bạc Phm Th Giào, vào năm 2004
tên vào biên bn hp thân tc v việc sang nhượng phần đất gia cha, m
bà vi ông Trn Minh P và bà Lê Th T2, phần đất 04 công. Phần đất này cha bà đã
y quyn cho bà Trn Th V, nên bà không đồng ý ký tên vào biên bn. Bà t chi
nhận văn bản t tng và xin vng mt các ln hòa gii và xét x ti Tòa án.
- Theo ông Trn Chi L là người đại din theo y quyn ca ông Đặng Phi T1
trình bày:
Yêu cu công nhn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất gia
Trn Th V vi ông Đặng Phi T1 đưc công chng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng
công chng Trần Mai Hương, diện tích 4.724,2 m
2
, tại ấp Gành o 2, xã Hòa
n, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Buc ông P T2 giao đt cho ông T1
và hy hợp đồng thuê quyn s dụng đt gia bà Trn Th V vi ông Đặng Phi T1.
Trường hp không chp nhn yêu cu ca ông T1, thì ông T1 yêu cu V tr li
cho ông T1 s tin chuyển nhượng 350.000.000 đng bồi thường thit hi do
không giao tài sản được.
Tại bản án dân sự thẩm số:69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
- Chp nhn toàn b yêu cu khi kin của nguyên đơn:
Công nhn hiu lc ca hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất thuc
thửa đất s 178, t bản đồ s 07, din tích 5.228,7m
2
gia ông Trn Minh P
Lê Th T2 vi ông Trần Văn Bạc và bà Phm Th Giào ngày 22/8/2004.
Nguyên đơn nghĩa v liên h quan nhà nước thm quyền để đưc
cp giy chng nhn quyn s dụng đất đối vi thửa đất s 178, t bản đồ s 07,
din tích 5.228,7m
2
, ti p p G, xã H, thành phố C, tỉnh C . theo quy định.
Phần đất có tứ cận giáp ranh: Phía Đông giáp bà Trần Thị X; Phía Tây giáp
Nguyễn Thị Lệ Hoa ông Trần Minh P; Phía Bắc giáp kênh Miếu Ông ;
Phía Nam giáp ông Nguyễn Chí Hiếu.
(Kèm theo bn v ngày 25/7/2023 ca Trung tâm k thut, công ngh, quan
trác tài nguyên và môi trường).
Do giy chng nhn cp cho bà Trn Th V nên bà Trn Th V trách
nhim làm th tc chuyn quyn s dụng đất đng tên cho cho nguyên đơn.
Đề ngh quan thẩm quyn cp giy chng nhn quyn s dụng đất
điu chnh Giy chng nhn quyn s dụng đt ca Trn Th V đ chuyn tên
quyn s dụng đất cho nguyên đơn theo quy định.
- Không chp nhn yêu cu khi kin ca ông Đặng Phi T1 v vic Công
nhn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt gia bà Trn Th V vi ông
Đặng Phi T1 công chng ngày 09/11/2022, tại Văn phòng Công chứng Trn Mai
Hương và buộc ông Trn Minh P và bà Lê Th T2 giao đất.
Hy hợp đồng thuê quyn s dụng đt gia ông Đặng Phi T1 và bà Trn Th
V ký ngày 09/11/2022.
5
Hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt gia Trn Th V Đặng
Phi T1 công chng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng Công chứng Trần Mai Hương
là vô hiu.
Buc bà Trn Th V tr li s tiền 100.000.000 đồng cho ông Đng Phi T1.
Buc ông Đặng Phi T1 tr li giy chng nhn quyn s dng bn gc cho
Trn Th V.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí
và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 25/3/2025, Trn Th V đơn kháng cáo, yêu cầu hu bản án
thẩmđình chỉ giải quyết vụ án, do cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá toàn diện
chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của Trn Th V giữ nguyên
kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T6 phát biểu: Về cách tham gia tố tụng của V: Khi Toà án cấp sơ
thẩm thụ vụ án xác định ông Bạc Giào bị đơn, bà V các người con
còn lại của ông Bạc Giào người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn. Nhưng trong quá trình xét xử cấp thẩm thay đổi cách tham gia tố tụng
xác định Vốn bị đơn, những người con khác còn lại của ông Bạc Giào
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chính xác. Toà án cấp sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông P bà T2 là vượt quá phạm vi khởi
kiện. Về thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng cấp thẩm xác định
thêm tranh chấp quyền sử dụng đất để không xác định thời hiệu khởi kiện là không
đúng. Nếu tranh chấp quyền s dụng đất thì phải hoà giải sở, nếu không
hoà giải cơ sở là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Về đánh giá chứng cứ, không căn
cứ chứng minh ông P T2 đã giao vàng cho ông Bạc Giào, cũng không
thể hiện hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp xác định bà V bị đơn thì yêu
cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, hu bản án thẩm đình chgiải quyết vụ án
do đã hết thời hiệu khởi kiện.
Luật Thiện phát biểu: Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông P T2 với
ông Bạc Giào được thể hiện trên sở biên bản họp thân tộc vviệc sáng
bán đất ruộng ngày 22/8/2004, thống nhất cho ông Bạc Giào sang nhượng
cho ông P T2 phần đất 04 công để trả nợ Ngân hàng bên ngoài, giá
chuyển nhượng 76 chỉ vàng 24K. Mặc dù biên bản họp thân tộc không ghi vị trí đất
nhưng cùng ngày ông Bạc Giào đã cặm ranh, giao đất cho ông P và bà T2 sử
dụng từ m 2004 đến nay; tkhi giao đất năm 2004 đến khi Giào, ông Bạc
chết cũng không tranh chấp, các con ông Bạc Giào cũng không tranh chấp.
Về chứng cứ giao vàng, mặc dù không có biên nhận nhưng trong biên bản họp thân
tộc ông Trần Văn Mười em của ông Bac phát biểu nếu ông G ngăn không cho
sang đất thì phải đem số vàng giao cho ông P. Như vậy thể hiện ông Bạc
Giào đã nhận vàng của ông P T2; trong biên bản họp thân tộc cũng
Trần Thị X con của ông Bạc, Giào tên. Việc ông P Tèo chưa được
6
chuyển tên quyền sử dụng đất, do năm 2005 Giào chết nên không làm thủ tục
chuyển tên quyền sử dụng đất được; sau đó, do các con của Giào nhiều nơi
không tập trung về được để thủ tục chuyển tên cho ông P và T2. Khi V
lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì V nói để cho
đứng tên rồi sẽ chuyển lại cho ông P bà T2, n ông P mới ký giáp ranh; nhưng
khi được cấp quyền sử dụng đất thì V không thực hiện. Về tố tụng, ban đầu ông
P T2 khởi kiện ông Bạc Giào bị đơn, các con ông Bạc Giào
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bạc Giào. Trong quá trình
giải quyết vụ án, ông P T2 biết được phần đất chuyển nhượng bà V đã đứng
tên quyền sử dụng đất nên có đơn khởi kiện bổ sung đối với V, nên cấp sơ thẩm
xác định lại cách bà V bị đơn, những người con khác còn lại của ông Bạc
Giào người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp. Về thời hiệu khởi
kiện, hợp đồng chuyển nhượng đang hực hiện nên chưa hết thời hiệu khởi kiện. Do
đó, kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của V, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Ông P, bà T2 không có ý kiến tranh luận.
Ông L phát biểu: Ông T1 yêu cầu nếu hợp đồng vô hiệu thì buộc V trả lại
số tiền 350.000.000 đng và bồi thường thiệt hại, nhưng cấp sơ thẩm chỉ buộc bà V
trả số tiền 100.000.000 đồng mà không giải quyết bồi thường thiệt hại chưa
chính xác. Do ông T1 không có kháng cáo nên chỉ nêu để rút kinh nghiệm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Ttụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo ca bà Trn Th V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của V xác định đối
với phần quyết định của bản án thẩm liên quan đến tranh chấp giữa ông T1 với
V, V thống nhất, không kháng cáo; chỉ kháng cáo phần quyết định của
bản án sơ thẩm liên quan đến tranh chấp giữa ông P và bà T2 với V. Do đó, Hội
đồng xét xử chỉ xem xét đối với phần kháng cáo của V theo quy định tại Điều
293 của Bộ luật Tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm.
Xét kháng cáo của Trn Th V, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Điều 429 của Bộ luật dân sự quy định thời hiệu
khởi kiện về hợp đồng: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh
chấp hợp đồng 03 m, kể từ ngày người quyền yêu cầu biết hoặc phải biết
quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Như vậy, mặc ông P
T2 cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Bạc bà Giào
từ m 2004, ông quản sử dụng đất ổn định, không bị ai xâm phạm cũng
không có tranh chấp. Đến năm 2022, bà V mới lập thủ tục đăng ký kê khai xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ông P và T2 cho rằng
đã chuyển nhượng cho ông, V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 09/3/2022; đến ngày 09/11/2022, V lập hợp đồng chuyển nhượng cho
ông T1 đối với phần đất nêu trên. Do đó, quyền lợi ích hợp pháp của ông P
T2 đối với phần đất cho rằng nhận chuyển nhượng của ông Bạc Giào bị
7
xâm phạm từ thời điểm V đăng kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và chuyển nhượng cho ông T1. Đến ngày 10/4/2023, ông P và bà T2 khởi
kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp và được Toà án thụ lý giải quyết vẫn còn thời
hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự.
[3] Đối với việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông P T2: Tại Điều
244 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Hội đồng xét xchấp nhận việc thay
đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ
không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
ban đầu”. Như vậy, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự chỉ quy định đối với
trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên toà; Do đó, trong quá
trình giải quyết vụ án, trước khi mở phiên toà ông P T2 bổ sung yêu cầu
khởi kiện cũng không được xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
[4] Đối với việc Toà án cấp sơ thẩm có thay đổi tư cách tham gia tố tụng của
V, xác định V bị đơn trong vụ án: Tại đơn khởi kiện của ông P T2
ngày 10/4/2023 xác định bị đơn ông Trần Văn Bạc (đã chết) Phạm Thị
Giào (đã chết); V những người con khác còn lại của ông Bạc Giào
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Giào, nên Toà án cấp sơ thẩm thụ
vụ án xác định cách tham gia tố tụng của V theo đơn khởi kiện của ông P
bà T2. Do trong quá trình giải quyết vụ án do phát sinh tình tiết phần đất mà ông P
T2 cho rằng chuyển nhượng của ông Bạc và Giào đã được V đăng
khai đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho V đứng tên, nên ông
P và bà T2 có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đối với bà V. Do đó, Toà án
cấp thẩm thay đổi cách tham gia tố tụng của V, xác định V bị đơn,
những người con khác còn lại của ông Bạc và bà Giào là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là có cơ sở.
[5] Về nội dung tranh chấp: Theo đo đạc phần đất tranh chấp kích thước:
Chiu ngang cnh 21m cnh 21,05m; chiu dài cnh 248,07m cnh 250m;
din tích 5.228,7m
2
, ta lạc ấp nh o 2, a Tân, tnh ph Cà Mau, tnh
Mau. Ông P T2 cho rng phần đất nêu trên ông nhn chuyển nhượng
ca ông Bc Giào theo biên bn hp thân tc v việc sang nhượng đất rung
ngày 22/8/2004, vi giá bng 07 ng 06 ch vàng 24K; ông đã giao đ s
vàng cho ông Bc Giào, ông Bạc Giào đã giao đt, cm ranh cho ông
qun s dng t năm 2004 đến nay. V không tha nhn vic ông Bc
Giào sang nhượng đất cho ông P T2, cho rng phần đất nêu trên
ông Bc Giào cho ông P T2 ợn để làm đường x c nuôi tôm.
Tuy nhiên, V không đưa ra được tài liu chng c chng minh phần đất tranh
chp là cho ông P và bà T2 n. Tại phiên toà, người đại din hp pháp ca V
cũng tha nhn vic cho rng phần đất cho ông P T2 ợn để làm đường x
ớc nuôi tôm như kích thưc, din tích nêu trên là không hp tình, hp lý.
[6] Xét trình bày ca ông P bà T2 cho rng phần đất sang nhượng ca ông
Bc bà Giào: Ti phiên toà, ông P T2 xác đnh việc sang nhượng giao
vàng cho ông Bc Giào không lập thành văn bản riêng đưc thc hin
bng Biên bn hp thân tc v việc sang nhượng đất rung ngày 22/8/2004 (gi tt
là biên bn hp thân tc ngày 22/8/2004). Qua xem xét ni dung biên bn hp thân
8
tc ngày 22/8/2004, thy rng: Do phần đất ca ông Bc Giào sang nhượng
cho ông P và bà T2, nhưng ông Trần Văn G (là con trai út ca ông Bc và bà Giào)
làm đơn yêu cầu không cho ông Bạc Giào sang nhưng cho ông P T2,
nên t chc hp thân tộc để thng nht cho ông Bạc và bà Giào sang nhượng. Cuc
hp có chính quyền địa phương, thân tc ca ông Bc, thân tc ca bà Giào, ông G
X (là con rut ông Bc, Giào), ông (con r ông Bc, Giào),
những người dân địa phương tham d. Cũng trong cuộc hp, ông Trần Văn Mười
(là em rut ông Bc) phát biu: Ông Bạc Giào sang bán đt hp lý, nếu
ông G không cho sang thì phải đem số vàng đưa cho ông P. Qua trao đổi ca thân
tc, ông G thng nht cho ông Bc và bà Giào sang phần đất 04 công tầm 03 thước
cho ông P T2. Đối chiếu vi ý kiến phát biu ca ông Út ti cuc họp
s xác định ông Bạc Giào đã nhn ca ông P bà T2 s vàng sang
nhượng đất, mc dù không nêu c th v s ng.
[7] Đồng thi, qua xác minh đi vi ông Văn Hừng, ông Nguyn Thành
Lũy, ông Phạm Văn Bnh, ông Nguyn Trọng Phương, những người tham d
cuc hp thân tộc ngày 22/8/2004 đều xác định vic ông Bc Giào sang
nhượng đt cho ông P và bà T2 đã giao đt cho ông PT2 qun lý s dng
t khi hp thân tc năm 2004. Xét li trình bày ca những người này php vi
trình bày ca ông P bà T2. Đối vi li trình bày ca Trn Th X (là con rut
ca ông Bạc Giào) cũng xác định vào năm 2004 bà tên vào biên bn
hp thân tc v việc sang nhưng phần đt gia cha m vi ông P, T2, phn
đất 04 công.
[8] Như vậy, phn đất đã được giao cho ông P T2 s dng t năm
2004; nhưng từ năm 2004 đến khi bà Giào chết (năm 2005), ông Bạc chết (năm
2013) cũng không th hin có vic ông Bạc và bà Giào đòi ông P và bà T2 tr vàng
sang nhượng đất t sau khi ông Bc chết đến khi ông P T2 khi kin thì
các con ông Bạc Giào cũng không có ai đòi ông P T2. Do đó, cơ sở
xác đnh ông P T2 đã trả xong s vàng sang nhượng đt cho ông Bc bà
Giào. Có xác định vic chuyển nhượng quyn s dụng đất gia ông P
T2 vi ông Bc bà Giào thc tế xy ra. Mc dù, hợp đồng chuyển nhượng
chưa tuân thủ đúng quy định pháp lut v mt hình thc, nhưng hợp đồng đã được
các bên thc hin, ông P và bà T2 đã thanh toán xong s vàng sang nhượng đất cho
ông Bc và bà Giào; ông Bạc và bà Giào đã giao đất cho ông P và bà T2 qun lý s
dng t năm 2004, nên hợp đồng chuyển nhượng đủ điu kiện để công nhn
hợp đồng theo quy đnh ti khoản 1 Điều 129 ca B lut dân sự. Do đó, Toà án
cấp sơ thẩm chp nhn yêu cu khi kin ca ông P và bà T2, công nhn hợp đng
chuyển nhượng là có căn cứ.
[9] Tuy nhiên, xét v quan h pháp lut tranh chp xét thy: Yêu cu khi
kin ca ông P, bà T2 và yêu cầu đc lp ca ông T1 đối vi bà V thc cht là khi
kin yêu cu gii quyết v tranh chp hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất;
Toà án cấp thẩm xác định quan h pháp lut tranh chp hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất quyn s dụng đất chưa chính xác. Do đó, cp
phúc thẩm điu chỉnh xác đnh li quan h pháp lut Tranh chp hợp đồng
9
chuyển nhượng quyn s dụng đất”, đồng thời điều chnh lại cách tuyên đối vi
quyết đnh ca bn án thm.
[10]Đối vi đề ngh của đại din Vin kim sát phù hp vi nhận định ca
Hội đồng xét x nên được chp nhn.
[11] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo Trn
Th V, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[12] Án phí n sự phúc thẩm V phi chu 300.000 đồng, đã dự nộp được
chuyn thu.
[13] c quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị n không đặt ra
xemt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật T tụng n sự; Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của Trn Th V.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 m
2025 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chp nhn yêu cu khi kin ca ông Trn Minh P và bà Lê Th T2.
Công nhn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dng đất được xác lp gia
ông Trn Minh P bà Th T2 vi ông Trần Văn Bạc và Phm Th Giào
theo Biên bn hp thân tc v việc sang bán đất rung lập ngày 22/8/2004 đi vi
diện tích đất theo đo đạc thc tế 5.228,7m
2
thuc thửa đất s 178, t bản đồ s 7
(bản đồ chỉnh lý năm 2009), đt to lc ti p Gành Hào 2, Hoà Tân, thành ph
Cà Mau, tnh Cà Mau.
Ông P T2 quyn liên h với quan nhà nước thm quyền đ
thc hin th tục đăng khai cp Giy chng nhn quyn s dụng đt theo
quy định pháp lut.
(Kèm theo bn v ngày 25/7/2023 ca Trung tâm K thut - Công ngh -
Quan trc Tài nguyên và Môi trường tnh Mau).
- Không chp nhn yêu cu ca ông Đặng Phi T1 v vic yêu cu công nhn
hợp đng chuyển nhượng quyn s dụng đất gia Trn Th V vi ông Đặng Phi
T1 công chng ngày 09/11/2022, tại Văn phòng Công chứng Trần Mai Hương
buc ông Trn Minh P và bà Lê Th T2 giao đất cho ông T1.
Tuyên b Hợp đng chuyển nhượng quyn s dụng đất gia Trn Th V
vi ông Đặng Phi T1 công chng ngày 09/11/2022 tại Văn phòng Công chứng
Trần Mai Hương là vô hiệu.
Hy hợp đồng thuê quyn s dụng đt gia ông Đặng Phi T1 và bà Trn Th
V ký ngày 09/11/2022.
10
Buc bà Trn Th V tr li cho ông Đặng Phi T1 s tiền 100.000.000 đồng.
Buc ông Đặng Phi T1 tr li cho Trn Th V bn gc giy chng nhn
quyn s dng đất đứng tên Trn Th V, cấp ngày 03/11/2022 được điều chnh
đứng tên ông Đặng Phi T1 ngày 15/12/2023.
- V chi phí t tng: Buc Trn Th V hoàn tr li cho ông Trn Minh P
Th T2 s tiền 5.696.000 đồng hoàn tr li cho ông Đặng Phi T1 s
tin 4.500.000 đồng.
K t ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong các khon tin nêu trên thì hàng tháng bên phi thi hành án còn
phi chu thêm khon lãi ca s tin còn phi thi hành án theo mc lãi sut quy
định ti khoản 2 Điu 468 ca B lut dân s.
- Án phí dân s sơ thẩm: Ông Trn Minh P và bà Lê Th T2 không phi chu
án phí. Ông P T2 đã dự np 300.000 đng theo biên lai thu s 0003165 ngày
07/4/2023 300.000 đồng theo biên lai thu s 0008590 ngày 08/5/2024 đưc
nhn li. Ông Đặng Phi T1 phi chu 300.000 đồng. Ngày 13/9/2024, ông T1 đã dự
nộp 300.000 đồng theo biên lai thu s 0009272 được đối tr chuyn thu án phí.
Trn Th V phi chu 5.300.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Trn Th V phi chịu 300.000 đồng. Ngày
31/3/2025, bà V đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010587 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ny hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
(Toà án nhân dân khu vực 1- Cà Mau);
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau
(Phòng THADS khu vực 1- Cà Mau);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 257/2025/DS-PT Bản án số 257/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 257/2025/DS-PT Bản án số 257/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất