Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 24/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 24/2026/HNGĐ-PT
Ngày 24 6 2026
“V/v ly hôn, chia tài sản chung
khi ly hôn”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Đoan Trang
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư phiên toà: Ông Hoàng n Hải - Thư Tán nhân n tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh PThọ tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ xét xử phúc thm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:
10/2026/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 03 m 2026 về việc “Ly hôn, chia i sn
chung khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thm số: 11/2026/HNGĐ-ST ngày 04
tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s: 18/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số nhà F+
F đường T, tổ dân phố V, phưng V, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Quang H: Ông
Nguyễn Văn H1- Luật sư Công ty L2 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Số D
N, phưng V, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Hồ Bảo N, sinh m 1999; Nơi ĐKHKTT: Số nhà F+64 đường
T, tổ dân phố V, phường V, tỉnh PThọ; Nơi hin nay: Số nhà F, đường N,
phường V, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hồ Bảo N: Triệu Th
Bích L - Luật sư Công ty L3 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P Ông Bùi Quốc H2
Luật sư thuộc ng ty L4 Đoàn Luật sư tỉnh P, (vắng mặt khi tuyên án).
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan u cầu độc lập: Ngân hàng
TMCP N4; địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Dương D– Chức vụ: Ptrưởng png
khách hàng bán lẻ Ngân hàng TMCP N4 Chi nhánh V2; địa chỉ: Số C, đường
M, phưng V, tỉnh Phú Thọ, theo văn bản ủy quyền ngày 08/01/2026, (có mặt).
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4.1. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1972, (có mặt);
4.2. Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1979, (mặt);
Cùng địa chỉ: Số nhà F+ F đường T, tổ dân phố V, phường V, tỉnh Phú Thọ.
4.3. Ông Hồ Tá L1, sinh năm 1970, (vắng mặt);
4.4. Vũ Thị N1, sinh năm 1975, (vắng mặt ngày tuyên án);
Cùng địa chỉ: Số nhà F, đường N, phường V, tỉnh Phú Thọ.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Quang H, bị đơn chị Hồ Bảo
N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H3,Vũ Thị N1
và ông Hồ Tá L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 m 2025, đơn khởi kiện bổ sung
ngày 15 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên
tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Quang H người bảo vệ quyền và lợi ích của anh
H trình bày:
Về tình cảm: Anh kết hôn với chị Hồ Bảo N ngày 14/01/2021 trên sở tự nguyn,
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân n phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
(nay là phường V, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn chị N về làm u và sống chung
cùng gia đình anh đường L, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là
phường V, tỉnh Phú Thọ). Đến m 2023 tvchồng anh cùng bm anh chuyển
qua số nhà F+64 đường T, tổ n phV, phường V, tỉnh Phú Thọ . Quá trình
chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2023
vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vchồng có sự khác
biệt giữa quan đim sống ch nh xử với gia đình, hội cũng như trong
việc kinh doanh chung. Vì vậy, vợ chồng đã sống ly thân từ trước tết âm lịchm
2025 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đíchn
nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị N.
Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo H5, sinh
ngày 08/12/2021 cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 14/12/2023. Hiện cháu H5
đang với anh còn cháu K đang với chị N. Ly hôn anh đề nghị được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu H5 cháu K. Trường hợp chị N không
đồng ý để anh nuôi chai con tanh nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cháu H5 n để chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu K. Anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh và chị N tài sản chungthửa đất số 1099, tờ bản
đồ số 29, diện tích 155,6 m
2
tại địa chỉ: Số F + F đường T, tổ dân phố V, phường
K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là số F + 64 đường T, tổ dân phố V, phường
V, tỉnh PThọ). Thửa đất được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh V (cũ) cấp
giy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
3
với đất sDB 433736 ngày 05/02/2021 mang n anh Nguyễn Quang H, chị Hồ
Bảo N.
Trên đất có tài sản gồm: 01 nhà 04 tầng 01 tum được xây dựng trên toàn bộ
thửa đất tại Số F + 64 đường T, tổ dân phố V, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Về nguồn gốc hình thành tài sản chung: Thửa đất s1099 nguồn gốc
ban đầu là của bố m chị N là ông Hồ Tá L1, Vũ Thị N1 mua. Sau khi anh chị
kết hôn tbố mẹ anh (ông Nguyễn n H3, Nguyễn Ngọc H4) bố mchị
N (ông Hồ L1, Thị N1) thống nhất mỗi gia đình đóng góp mỗi bên 1/2
tổng số tiền mà ông L1, N1 bỏ ra để mua thửa đất này, tương ứng số tin mỗi
bên góp 6.605.000.000 đồng và ông H3, H4 đã trả đủ cho ông Lân N2 số
tin trên. Trước khi tặng cho anh chị N thì thửa đất đứng tên ông L1, N2.
Ngày 25/01/2021 ông L1, bà N2 m hợp đồng tặng cho vợ chồng anh. Đến ngày
05/02/2025 anh và chị N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng n
Nguyễn Quang H Hồ Bảo N.
m 2024 do hai n gia đình thông gia phát sinh nhiều mâu thuẫn nên hai
bên gia đình gồm ông H3, H4, anh ông Hồ L1, Vũ Thị N1, chị Hồ
Bảo N đã thng nhất lập Văn bản thỏa thuận cam kết” ngày 08/7/2024 trước
sự chứng kiến của n phòng T1 (Vi bằng số 504/2024/VB-TPLVP ngày
08/7/2024). Theo văn bản thỏa thuận thì ông H3, H4 đã trả cho ông L1,N1
tổng số tiền là 12.500.000.000 đồng. Trong số tin 12.500.000.000 đồng
6.605.000.000 đồng là giá trị ½ thửa đất ông L1,N1 đóng góp tặng cho anh
chị N. Do vậy, anh khẳng định nguồn gốc hình thành thửa đất số 1099 hoàn toàn
là do bố mẹ anh là ông H3, H4 bỏ toàn bộ tiền ra mua.
Đối với 01 căn nhà 04 tầng, 01 tum xây dựng trên thửa đất s1099 anh
khẳng định do ông H3, H4 người đứng ra xây dng căn nhà này. Mc đích
xây dng căn nhà trên để cho vợ chồng anh đồng thời ông H3, H4 cũng
sang đó để gia đình cùng mở cửa ng kinh doanh vàng, bạc. Việc xây dựng
căn nhà từ khâu thuê thợ, xây dựng nhà, mua bán vật tư đều do ông H3, H4 là
người đứng ra làm việc từ đầu cho đến khi hn thiện căn nhà. Nguồn gốc tin để
xây dng căn nhà trên chủ yếu tiền ca ông H3, H4, n cạnh đó mchị N
là bà Thị N1 có đóng góp cho 500.000.000 đồng là tin lắp thang máy của căn
nhà. Anh và chị N không đóng góp trong việc xây dựng căn nhà trên.
Do vậy, anh khẳng định i sản gồm thửa đất 1099 và n nhà 04 tầng 01
tum xây dựng trên đất là tài sản chung của anh, ông H3bà H4 còn chị N không
còn liên quan đến khối tài sản này. Do vậy, anh đề nghị chia tài sản trên như sau:
- Chia thửa đất 1099 và 01 căn nhà 04 tầng, 01 tum xây dựng trên thửa đất
làm 03 phần bằng nhau cho anh ông H3, H4 mỗi người một phần. Anh đề
nghị được nhận toàn bộ diện tích đất và nhà. Anh sẽ thanh toán phần giá trị chênh
lệch cho ông H3 và bà H4.
Trường hợp ông L1, N1 đồng ý trả lại cho ông H3, H4 s tiền
12.500.000.000 đồng như văn bản hai n đã thỏa thuận vào ngày 08/7/2024 thì
anh đề nghị Tòa án chia i sản trên m 4 phần bằng nhau, trong đó chị N được
4
chia 1/4 tổng i sn (thửa đất 1099 + 01 căn nhà trên đất). Anh đề nghị được nhn
toàn bộ diện tích đất nhà. Anh sẽ thanh toán phần giá trị chênh lệch cho ông
H3,H4 và chị N.
Tại phiên tòa anh đề nghị Tòa án xác định và công nhn toàn bộ tài sản gồm
thửa đất 1099 i sn y dựng trên đất tài sản chung ca ông Nguyễn Văn
H3Nguyễn Ngọc H4. Anh chị N không tài sản chung để yêu cầu phân
chia.
Về công sức: Giữa anh chị N có đóng góp cùng ông H3, H4 để s
dụng làm vốn kinh doanh vàng, bạc, trang sức có giá trị khác với số tin
1.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, stiền y sau khi vợ chồng anh và hai n gia
đình xích mích tông H3, H4 người đã trả số tiền 3.500.000.000 đồng
cho gia đình ông L1, N1. Do vậy, về công sức đóng góp của chị N đã được
thanh toán xong nên giữa anh và chị N không có công sức đóng góp đối với khối
tài sản chung.
Về khoản nợ: m 2023 anh và chị N người đứng n ký Hợp đồng tín
dụng số 23BL/CN-ĐB/NHHM 1217 ngày 17/11/2023 vi Ngân hàng TMCP N4
Chi nhánh V2 được Ngân hàng giải ngân số tin là 7.000.000.000 đồng. Mặc
dù, anh và chị N là ngưi đng n khoản vay nhưng thực tế ông Nguyễn n H3,
Nguyễn Ngọc H4 người trực tiếp sử dụng toàn bộ stiền vay Ngân hàng
trên để kinh doanh cửa hàng vàng, bạc của gia đình. Anh và chị N không được sử
dụng khoản tin vay này. Để đảm bảo cho khoản vay trên vợ chồng anh là người
đứng ra ký kết Hợp đồng thế chấp số: 22BL/BĐS/610 ngày 30/08/2022 với Nn
hàng. Tài sn bảo đảmtoàn bộ quyền sử dụng đất và i sản gắn liền với đất của
thửa đất s1099, tờ bản đồ số 29, theo Giy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lin với đất số DB 433736 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V (cũ) cấp ngày 05/02/2021 cho anh và chị N. Đối với khoản nợ
Ngân hàng thì quan điểm của anh là: Yêu cầu ông H3,H4 có nghĩa vụ trả toàn
bộ khoản nợ tn. Trường hợp, ông H3 H4 không trả khoản ncho Ngân
hàng vn yêu cầu anh, chị N phải trả t anh đề nghị anh và chị N mỗi người
phải trả ½ khoản nợ. Anh không yêu cầu ông H3, H4 trả lại cho anh chị khoản
tin vay ngân hàng trong vụ án này.
Bị đơn chị Hồ Bảo N người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
Triệu Thị Bích L trình bày:
Về hôn nhân: Chị xác nhận về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, quá trình
chung sống, thời gian mâu thuẫn và nguyên nhâu mâu thuẫn như anh H trình bày
là đúng. Ngoài nguyên nhân trên thì còn có nguyên nhân khác là anh H mặc dù là
người là chồng, người cha nhưng trong cuộc sống bản thân anh H không có chính
kiến, không có tiếng nói bảo vệ chị trước áp lực của mẹ chồng. Nay chị cũng xác
định tình cảm vợ chng không còn, anh H có đơn xin ly hôn, chị đồng ý.
Về con chung: Chị xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo
H5, sinh ngày 08/12/2021 và Nguyễn Gia K sinh ngày 14/12/2023. Hin cháu H5
đang ở với anh H, cháu K đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp cm
5
sóc, nuôi dưỡng giáo dục ccháu H, cháu K. Chị không yêu cầu anh H phải
cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Trước khi chị anh H kết hôn năm 2020 thì khoảng năm
2018, 2019 bố mđẻ của chị là ông Hồ Tá L1 và bà Vũ Thị N1 mua được hai
thửa đất giáp nhau gộp lại thành thửa đất 1099 tờ bản đồ số 29 diện tích là
155,6m
2
; địa chỉ tại số F+F đường T, TDP V, phưng V, tỉnh PThọ. Lúc đầu
ông L1, N1 mua để cho chị nhưng sau khi kết hôn tbố mchồng ông
H3,H4 nói cho ông bà góp 1/2 giá gốc ông L1, N1 mua ban đầu để hai gia
đình cho vợ chồng chị được bố mchị đồng ý. Sau đó ông L1, N1 đã làm
hợp đồng tặng cho chị anh H thửa đất trên. Thửa đất được Sở Tài nguyên
môi trường tỉnh V (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn lin với đất số DB 433736 ngày 05/02/2021. Do vậy, ch
xác định thửa đất số 62+64 đường T, TDP V, phường V, tỉnh Phú Thọ tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân của chị và anh H.
Về số tiền mừng cưới tiền N1 cho: Năm 2020 sau khi cưới nhau chị
được 700.000.000đ tiền mừng cưới và anh H được 400.000.000đ tiền mừng cưới
nhưng sau đó anh H lấy 180.000.000đ mua đất ở Lập T và 200.000.000đ đưa cho
ông H3 để làm ăn. Số tiền còn li khoảng hơn 700.000.000đ (tn bộ tin ca chị)
chị đưa cho N1 làm vn kinh doanh, đầu tư giúp chị. Kết quả sau khoảng n
1 năm thì bà N1 trả cho chị là 2.000.000.000 đồng (số tiền này anh H cầm về) và
cho thêm chị 2.000.000.000 đồng (đưa cho H4). Tổng là 4.000.000.000 đồng.
H4 sử dụng luôn 500.000.000 đồng (trong số tiền 4.000.000.000 đồng) để làm
cầu thang máy của căn nhà số F+64 đường T. Số tiền còn lại của chị và anh H là
3.500.000.000 đồng. Sau đó chị và anh H sử dụng số tiền 3.500.000.000 đồng để
đầu tư bất động sản là 2.500.000.000 đồng, còn 1.000.000.000 đồng chị tự đầu tư
và 2 năm sau thì lợi nhuận thu được là 5.400.000.000 đồng. Do vậy, chị xác định
số 5.400.000.000 đồng là i sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Số
tin y hiện đã đóng góp vào việc y n nhà số F+64 đóng góp vào việc
đầu tư kinh doanh cửa hàng vàng của gia đình nhà chồng.
Về số tiền xây nhà trên đất: Để được vị trí đất nhà như cũng như cửa hàng
vàng bạc tại địa chỉ 62+64 đường T hin nay là công sức đóng góp của chị và gia
đình nhà chị là chính. Đất là do bố mẹ chị mua từ trước sau đó ông H3, bà H4 mi
xin góp ½ giá trị stiền gốc ban đầu còn ông H3, H4 không đóng góp
ngoài việc phụ giúp chị và anh H về việc kinh doanh, trông nom thợ xây nhà.
- Vnguồn tiền xây nhà: m 2021 N1 đứng ra vay hộ cho khoảng
gần 20 người vay tiền với số tiền khoảng 20.000.000.000 đồng, số tiền lời t
khoản cho vay là hơn 6.000.000.000 đồng được chuyển toàn bộ vào tài khoản của
H4. Đến cuối năm 2022 N1 tính toán mcửa hàng ng bạc cho vợ chồng
chị thì N1 hỏi H4 phần tiền lãi thì H4 bảo số tiền sinh lời hơn
6.000.000.000 đồng đã đầuhết vào xây nhà tại số F+64 đường T.
Như vậy, ngun gốc hình thành i sản đất, nhà tại số F+64 T là công sức
đóng góp của chị chính, anh H chỉ một phần công sức đóng góp trong việc
6
hình tnh tài sản chung của hai vợ chồng.
Về mở cửa hàng V3: m 2023 bắt đầu mở cửa hàng vàng bạc Bảo H5, chị
anh H có tổng số tiền khoảng 14.900.000.000 đồng trong đó vốn tự có là
5.400.000.000 đồng là tin bà N1 cho tiền làm ăn sinh li với ông K1 cùng với
đó là 9.500.000.000 đồng tiền vay vốn tại Ngân hàng bằng việc thế chấp a đỏ
nhà đất tại số F+64 đường T và bìa đỏ tại Cảng cạn của bà N1. Chị và anh H đầu
khoảng 500.000.000 đồng tiền bạc còn lại hơn 14.000.000.000 đồng mua ng.
Giá vàng tại thời điểm đó dao động khoảng 5.400.000 đồng đến 5.600.000 đồng/1
chỉ, quầy hàng có khoảng 2610 chỉ vàng ta và do cửa hàng không có nhẫn tròn v
và vỉ thần tài để bày bán nên N1 cho 10 chỉ. Tổng số vàng tại cửa hàng là 2620
chỉ vàng ta. Việc làm ăn kinh doanh rất tốt do N1 hướng dẫn cách m
thường xuyên giới thiệu khách xuống cửa hàng để giao dịch. m 2024 chị
dồn tiền rút sổ thế chấp tại Cảng cạn vi stin vay là 2.500.000.000 đồng trả cho
N1 nên số vàng còn trong cửa hàng là 2450 chỉ.
Sau đó, xảy ra mâu thuẫn trong việc làm ăn nên ông H3, H4 bảo n
toàn bộ svàng của vợ chồng chị để trả ngân hàng trả tiền đất ông L1, N1
cho. Mục đích chỉ hình thức để ông H3 sang qun việc vợ H4 thường
xuyên chi tiêu nhân không kiểm soát được. Sau đó, chị n phần lớn số vàng
của cửa hàng được khoảng 18.000.000.000 đồng còn li 1 túi nhẫn nam ng
tai vàng tây, 01 hộp vàng ta giá trị khoảng 700.000.000 đồng 1.000.000.000
đồng tiền bạc. Như vậy, tổng cửa hàng vàng khoảng gần 20.000.000.000 đồng.
Mục đích ban đầu bán để trả tiền vay ngân ng thu hồi lại vốn không cho
H4 liên quan đến kinh tế. Sau đó ông H3 bảo chịanh H chuyển trả tiền đất
tiền N1 cho lúc ban đầu, chị anh H đng ý nhưng ông H3 bảo tiền của
chị và anh H nhưng bố m đứng ra chuyển trả cho bà N1 để lấy cớ cho H4 biết
là đã chuyển trả stiền bà N1 cho vợ chồng chị và ông H3 nói toàn bộ i sn
nhà đất tại 62+64 Tôn Đức T vẫn của chị và anh H. Vì tin tưởng nên chị đồng
ý và thuyết phục bà N1 nhận số tiền 12.500.000.000 đồng, số tin còn lại khoảng
gần 8 tỷ ông H3,H4 không trả ngân hàng để rút bìa đỏ ra mà lại mua vàng bày
ra bán và ép buộc chị phải rời khỏi ngôi nhà số F+64.
Chị khẳng định stiền 12.500.000.000 đồng trả cho N1, ông L1 được
lập theo n bản thỏa thuận và cam kết, Vi bằng số 504 cùng ngày 08/7/2024
tin của chị anh H m ăn có, không phải tiền của ông bà Hương H6. Văn
bản thỏa thuận cam kết, Vi bằng s504 lập cùng ngày 08/7/2024 không
đúng sự thật khách quan. Tài sản là nhà đất tại số F+64 Tôn Đức T vẫn là của chị
anh H. Thực tế chanh H vn là người đứng tên trên Giấy chứng nhn quyền
sử dụng đất và ông bà Hương H6 cũng đã hoàn thành việc cho chị và anh H nhà,
đất trên.
Do vậy, chị khẳng định nhà đất nêu trên tài sn chung của chị và H. Ly
hôn chị yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất tại thửa đất số 1099 tờ bản đồ số
29 địa chỉ tại số F+F đường T, TDP V, phường V, tỉnh Phú Thọ. Chị đề nghị
nhận nhà đất và trả tiền chênh lệch cho anh H.
7
Về công nợ: Chị và anh H ký hợp đồng tín dụng vay Nn hàng TMCP N4
Chi nhánh V2 số tiền 7.000.000.000 đồng và thế chấp thửa đất số 1099 tờ bản
đồ s29. Số tiền vay ban đầu chuyển vào tài khoản của H6 để sdụng vào
việc đầu kinh doanh cửa hàng xây nhà 04 tầng tại sF+64. Trước khi lập
Văn bản thỏa thuận và cam kết, Vi bằng số 504 cùng ngày 08/7/2024 chị và anh
H đã n toàn bộ số vàng được 18 tỷ để trả N1 12.500.000.000 đồng n hơn
7.000.000.000 đồng bà H6 cầm để trả Ngân hàng nhưng bà H6 không trả mà tiếp
tục i đầu tư vào vàng. Do đó, ông H3, H6 phải trách nhiệm trả nợ cho
Ngân hàng. Trường hợp Ngân hàng yêu cầu chị và anh H phảinghĩa vụ trả nợ
thì quan điểm của chị là chị và anh H mỗi người chịu ½ khoản nợ và chị yêu cầu
ông H3, H6 phải trả li cho chị số tiền 3.500.000.000 đồng.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt cấp thẩm, chị N thay đổi quan điểm, u
cầu chia i sản chung như sau: Chị đề nghgiao cho anh H, ông H3 và H6
người được sở hữu toàn bộ tài sản nhà đất tại số F+64 đường T, TDP V, phường
V, tỉnh Phú Thọ thanh toán chênh lệch tài sản cho chị theo quy định của pháp
luật tương ứng với 1/4 giá trị đất 4.881.000.000 đồng; xác định giá tr1/4 đối
với 15,8m
2
đất thừa ra so với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất trong trường hợp đđiu kiện để công nhận quyền sdụng đất tương
ứng 355.500.000 đồng để chia cho chị; đối với nhà 4 tầng, 1 tum xây dựng trên
đất đề nghị xác định toàn bộ ng sức y dựng nhà của ông L1, N1. Do
vậy, yêu cầu anh H, ông H3, bà H6 thanh toán trả tin cnh lệch nhà cho ông L1,
N1 là 2.381.763.000 đồng. Ngoài ra, yêu cầu ông H3, H6 phải trả lại cho
ông L1, N1 số tiền 6.000.000.000 đng là tiền khách vay trả cho ông L1,
N1 qua i khoản của H6. Tuy nhiên, do N1 đồng ý cho anh H 1/2 số tiền
6.000.000.000 đồng n chị u cầu ông H3, H6 trả số tin 3.000.000.000
đồng. Về khoản nợ ngân hàng tanh H, ông H3, H6 được giao đất n
trách nhiệm trả ncho Ngân hàng và anh H quyền khởi kiện yêu cầu ông H3,
H6 trsố tiền chị anh H vay của ngân ng nhưng do ông H3, H6 s
dụng và đề nghị Tòa án đối trừ stin nợ ngân hàng đối với stin ông H3,
H6 được hưởng tại nhà, đất trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Ngân hàng
TMCP N4 Chi nhánh V2 do ông Ngô Dương D là người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Ngày 17/11/2023 Ngân hàng TMCP N4 đã hợp đồng cho vay theo hạn
mức số 23BL/CN-ĐB/NHHM 1217 ngày 17/11/2023 với anh Nguyễn Quang H,
chị Hồ Bảo N; hn mức cho vay là 7.000.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức
là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng; thời hạn cho vay của mỗi khoản nợ tối đa
06 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay được ghi trên từng
giy nhn nợ. Mục đích vay là bổ sung vốn lưu động kinh doanh xe ô tô cũ. Ngân
hàng đã giải ngân cho anh H và chị N số tiền vay bằngc giấy nhận nợ với tổng
số tiền là 7.000.000.000 đồng.
8
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gn liền
với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà i sản
khác gắn liền vi đất số DB 433736 do Sở i nguyên và Môi trường tỉnh V (cũ)
cấp ngày 05/02/2021 cho ông Nguyễn Quang H Hồ Bảo N. Thửa đất số
1099, tờ bản đồ số 29; địa chỉ: TDP T, Phường K, Thành phố V, Vĩnh Phúc (cũ);
din tích 155,6 m
2
; hình thức sdụng: Sử dụng riêng; mục đích sử dụng: Đất
tại đô thị 105m
2
, đất trồngy lâu năm 50,6m
2
; thời hn sử dụng: Đất ở tại đô thị:
Lâu dài; đất trồng y lâu năm: Sdụng đến ngày 15/10/2043; nguồn gốc sdụng:
Nhận tặng cho đất được ng nhận QSD đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất
105m
2
; nhận tặng cho đất được ng nhận QSD đất như giao đất kng thu tiền
sử dụng đất 50,6m
2
.
Quá trình thực hiện hợp đồng anh Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N đã
trả được số tiền nợ gốc cho Ngân hàng là 131.168.350 đồng, sau đó anh H và ch
N vi phạm nghĩa vụ trả nNgân hàng. vậy, Ngân hàng đã chuyển khoản vay
thành khoản nợ quá hạn từ ngày 29/04/2025.
Ngày 06/05/2025, Ngân hàng đã gửi thông báo nợ quá hn đến cho anh
Nguyễn Quang H và chị Hồ Bảo N, yêu cầu anh H và chị N trả toàn bộ khoản nợ
cho Ngân hàng, trường hợp anh Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N không thực
hin hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng tngân hàng s
xử phát mại tài sn để thu nợ theo quy định của pháp luật. Đến nay, anh H
chị N đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng cho
vay theo hạn mức số 23BL/CN-ĐB/NHHM 1217 ngày 17/11/2023.
Căn cứ các nội dung nêu trên, V4 Chi nhánh V2 đề nghị Tòa án nhân dân
Khu vực 9 Phú Thọ giải quyết:
- Tuyên buộc anh Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N thanh toán toàn b
các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, các phí, chi phí phát sinh đến hết
ngày 04/02/2026 theo hợp đồng tín dụng đã nêu trên, cùng các khoản lãi, p
phát sinh sau ngày 02/02/2025 cho đến khi trả nợ hết gốc, lãi tiền vay các khoản
phí, chi phí khác theo quy định với tổng số tiền 7.276.577.650 đồng; trong đó
nợ gốc là 6.868.530.694 đồng; nợ lãi trong hn là 268.317.572 đồng và lãi phạt là
139.729.384 đồng.
Kể từ sau ngày xét xử thẩm (05/02/2026) cho đến khi trả nợ xong, anh
Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N còn phải tiếp tục chịu khoản tin lãi của số
tin nợ gốc chưa thanh toán của Hợp đồng cho vay theo hạn mức s23BL/CN-
ĐB/NHHM 1217 ngày 17/11/2023 các giấy nhận nợ m them hợp đồng với
mức lãi suất là 7,5%/năm. Đồng thời phải chịu khoản tiền lãi suất chậm trả bằng
10%/năm tính trên snợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến
khi trả hết nợ.
Trường hợp anh Nguyễn Quang H và chị Hồ Bảo N không thực hiện hoặc
thực hin không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật t Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự
xử lý tài sản bảo đảm của anh Nguyễn Quang H và chị Hồ Bảo N theo Hợp đồng
9
thế chấp quyền sdụng đất số 22BL/BĐS/610 ngày 30/08/2022 giữa chị Hồ
Bảo N, anh Nguyễn Quang H và ngân hàng để thu hồi nợ theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp số tiền thu từ việc xử i sản bảo đảm nêu trên không đủ tr
nợ cho ngân ng, thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi nh án n sự xác
minh các i sản khác của anh H, chị N để buộc anh H, chị N tiếp tục phải trả n
cho ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Quá trình gii quyết vụ án và tại phiên tòa, để đảm bảo cho việc thu hồi vốn
của ngân hàng cũng như việc xử lý tài sản bảo đảm được thuận lợi ngân hàng đề
nghị Tòa án giao cho ai quản , sử dụng nhà đất đang thế chấp tại Ngân hàng thì
buộc người đó có trách nhiệm trả toàn bộ khoản vay cho ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 trình bày:
Ông và H6 bố mẹ đẻ của anh H. Anh H chị N kết n hợp pháp
vào ngày 14/01/2021. Quá trình chung sống thì anh H và chị N phát sinh u
thun 2024. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát tviệc N1 thường xuyên đến
nhà xúc phạm chửi bới gia đình nhà ông dẫn đến mâu thuẫn giữa hai n gia đình
anh H, chị N. Anh H chị N cũng xác định vviệc ly hôn. Quan điểm ca
ông về việc anh H xin ly n chị N thì ông đề nghị gii quyết theo quy định của
pháp luật.
Về con chung: Anh H và chị N có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo
H5, sinh ngày 08/12/2021 cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 14/12/2023. Hiện
cháu H5 đang ở cùng anh H vợ chồng ông còn cháu K đang cùng chị N. Về
yêu cầu phân chia nuôi con chung tông đề nghị giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Đối với tài sn thửa đất s1099, tờ bản đồ số 29, diện tích 155,6
căn nhà 04 tầng tại số F + 64 đường T, TDP V, phường V, tỉnh Phú Thọ ông trình
bày:
Cuối năm 2020, vợ chồng ông và bố mẹ chị N là ông L1,N1 thống nhất
góp mỗi n 1/2 tin mua thửa đất này cho anh H và chị N. Do thửa đất này được
ông L1, bà N1 mua từ trước nên thửa đất đứng tên ông L1, bà N1. Sau khi hai bên
thống nhất việc mua chung thửa đất thì vợ chồng ông chuyn trả cho ông L1,
N1 1/2 giá trthửa đất tương đương 6.605.000.000 đồng. Sau khi vợ chồng ông
chuyển đsố tiền trên thì ông L1, bà N1 làm thủ tục sang tên cho anh H và chị N.
Ông H6 xác định góp 1/2 số tiền (tương đương giá trị 1/2 thửa đất) là để
cho anh H, chị N được quyn sở hữu, sử dụng thửa đất trên. Thực tế, anh H và chị
N đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định. Thời điểm thửa đất sang tên anh H, chị N t trên đất chỉ n
li một số bức tường cũ, đổ nát, khônggiá trị sử dụng. c đó, anh H và chị N
vẫn ở cùng vợ chồng ông ở căn nhà trên đường L.
Ngày 28/8/2021, vợ chồng ông bắt đầu bỏ tiền đầu tư xây dựng căn nhà 04
tầng trên thửa đất 1099. Mục đích ban đầu là chỉ xây ngôi nhà 02 tầng để cho anh
H, chị N làm nơi sinh sống kinh doanh. Tuy nhiên, sau khi xây tầng hai của
10
căn nhà thì chị N phát bệnh mất trí nhớ nên gia đình có họp bàn li chị N có đề
nghị vchng ông sang cùng và cùng phát triển việc kinh doanh của cả gia đình.
Đến tháng 6/2023 việc xây dựng hoàn thành việc kinh doanh bắt đầu đi vào
hoạt động. Tổng chi pxây dựng căn nhà 13.000.000.000 đồng. Số tiền xây
dựng căn nhà trên là do vợ chồng ông chi trả toàn bộ. Ngoài ra, ông Hồ Tá L1
Thị N1 hỗ trợ cho vay 2.000.000.000 đồng, ngay sau đó gia đình ông đã
hoàn trả 1.500.000.000 đồng qua chị N, n 500.000.000 đồng vchng ông chưa
trả mà tiếp tục n để làm cầu thang máy của căn nhà. Việc vợ chồng ông xây
dựng căn nhà tại thời điểm thửa đất đứng tên anh H, chị N thì giữa ông, bà H6
anh H, chị N chỉ thống nhất miệng là vợ chồng ông xây dựng căn nhà trên để gia
đình ng, H6 anh H, chị N) cùng kinh doanh; sau này thì vợ chồng ông
cũng sẽ cho anh H, chị N toàn bộ căn nhà này còn các bên không có thỏa thuận gì
khác bằng văn bản.
Tuy nhiên, năm 2024 do hai n gia đình thông gia có phát sinh nhiu mâu
thun n ngày 08/7/2024 vchồng ông cùng ông Hồ L1, Thị N1, anh
Nguyễn Quang H và chị Hồ Bảo N đã lập “Văn bản thỏa thuận và cam kết” trước
sự chứng kiến của n phòng T1 (Vi bằng số 504/2024/VB-TPLVP). Theo n
bản thỏa thuận và cam kết ngày 08/7/2024 xác định vợ chng ông trả cho ông L1,
N1 tổng số tiền là 12.500.000.000 đồng. Số tiền là 12.500.000.000 đồng gồm:
giá trị 1/2 thửa đất mà N1, ông L1 đã đóng góp trước tương đương
6.605.000.000 đồng, 500.000.000 đồng tiền mượn để gia đình ông làm tháng
máy; 1.500.000.000 đồng trả cho N1, ông L1 (trả qua chị N); 700.000.000 đồng
là tiền phong bì mừng cưới của N. Số tiền còn lại gồm khoản tiền lãi N1 u
cầu và cộng các khoản phát sinh lợi nhuận từ kinh doanh chia cho chị N. Sau khi
vợ chồng ông trả cho vợ chồng N1, L1 số tin trên thì các bên cam kết toàn bộ
tài sản nhà, đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của 4 người gồm ông, bà H6 và anh
H, chị N. Ngoài ra giữa ông, H6 anh H, chị N không văn bản nào thỏa
thun liên quan đến quyền sở hữu sdụng nhà và đất trên. Tuy nhiên, tại phiên
tòa ông trình y, mặc dù n bản thỏa thuận cam kết ngày 08/7/2024 ghi
toàn bộ tài sản nhà, đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của 4 người gồm ông, bà H6
và anh H, chị N nhưng một phần do hiu biết pháp luật hn chế bản chất thực
tế do chị N đã được thanh toán đầy đng sức đóng góp vào khối i sản chung
nên chị N không n liên quan cũng như không có công sức đóng góp gì vào khối
tài sản chung của gia đình ông nữa. Do vậy, ông khẳng định khối tài sản chung là
thửa đất 1099, nhà xây dựng trên đất là tài sản chung ca ông, bà H6 và anh H.
Đối vi khoản vay Ngân hàng: m 2021, anh H và chị N ký Hợp đồng tín
dụng với Ngân hàng để vay 7.000.000.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay anh
H chị N đã thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại số F + 64 đường T. Mặc dù,
anh H chị N người đứng ra vay nhưng ông H6 người trực tiếp s
dụng vn vay vào hoạt động kinh doanh của gia đình. Về khoản vay ngân hàng
quá trình giải quyết vụ án ông trình bày ông H6 là người sdụng khoản tiền
anh H, chị N vay ngân hàng strách nhim trả ngân ng nhưng tại phiên
11
tòa ông đề nghị trường hợp gia đình N1 trả li số tiền 12.500.000.000 đồng
hoặc chị N đồng ý ký thủ tục giao trả toàn bộ tài sản nhà, đất thì ông và bà H6 sẽ
có trách nhiệm trả Nn hàng khoản nợ trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc H4 trình bày:
đồng ý vi ý kiến trình bày cũng như quan điểm của ông H3. Bà bổ sung về phần
tài sản chung: Bà khẳng định thửa đất 1099, nhà xây dựng trên đất là tài sản chung
của H4 ông H3. Về khoản vay Ngân ng không đồng ý trả đề ngh
gii quyết theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị N1 trình bày: Anh H và
chị N kết hôn hợp pháp vào ngày 14/01/2021. Quá trình chung sống thì anh H
chị N có phát sinh mâu thuẫn 2024. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc hai
gia đình thông gia có những mâu thuẫn không thể hàn gắn. Anh H và chị N cũng
xác định về việc ly hôn. Quan điểm của về việc anh H xin ly hôn chị N thì
đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh H chị N hai con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo
H5, sinh ngày 08/12/2021 cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 14/12/2023. Hiện
cháu H5 đang ở cùng anh H còn cháu K đang ở cùng chị N và gia đình bà. Về yêu
cầu phân chia nuôi con chung tông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Đối với tài sn thửa đất s1099, tờ bản đồ số 29, diện tích 155,6
căn nhà 04 tầng tại số F+64 đường T, TDP V, phường V, tỉnh Phú Thọ trình
bày:
Khoảng năm 2018, 2019 vợ chồng mua hai thửa đất (mt thửa mua
của chị N người Hà Nội và một thửa mua của hộ V1), cả hai thửa đất đều được
cấp đứng tên giy chứng nhận mang tên vợ chng bà. Đến năm 2021 vợ chồng
làm hợp đồng tặng cho vợ chng anh H, chị N. Thời điểm vợ chồng mua đất
thì trên đất i sản 01 n nhà cấp 4. Ngày 05/02/2021 anh H, chị N được
cấp giy chứng nhận quyền sử dụng đất mang n Nguyễn Quang H Hồ Bảo
N.
Sau khi anh H, chị N được tặng cho thửa đất thì anh H, chị N tiến hành xây
dựng ngôi nhà 04 tầng hiện nay. Về nguồn tiền để xây dựng nhàngun gốc là
của bà cho anh H, chị N khoảng 7.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, việc bà cho anh
H, chị N tiền thì do là mẹ con vi nhau nên giữa bà và anh H, chị N không có văn
bản ghi nhận việc cho tiền tn. Quá trình xây dựng căn nhà trên ông H3,
H4 là người nhn đứng ra thuê thợ thi công, trông nomng trình còn nguồn tiền
để xây nhà của anh H, chị N khoảng 7.000.000.000 đồng là tiền của cho
anh H, chị N như bà trình bày ở trên.
Về số tin 6.605.000.000 đồng mà H4 chuyển khoản cho bà vào ngày
22/01/2021 thì đây là stiền bà H4, ông H3 xin góp (thanh tn) 1/2 số tiền gốc
mà vợ chồng bà mua thửa đất 1099, sau nàyvà ông L1 đã tặng cho anh H, ch
N.
Đối với n bản thỏa thuận cam kết” ngày 08/7/2024 trước schứng
12
kiến của Văn phòng T1 (Vi bằng số 504/2024/VB-TPLVP). Về ni dung văn bản
thỏa thuận xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa hai gia đình, bản chất của văn bản
thỏa thuận là anh H, chị N trả cho vchng số tiền 12.500.000.000 đồng. Trong
đó 9.000.000.000 đồng tiền kinh doanh của anh H, chị N bán vàng trả cho bà
(do trước đây bà là người sử dụng tiền của bà để mua vàng, bạc cho anh H, chị N
kinh doanh) 3.500.000.000 đồng tiền cho chị N 1/2 stiền vợ chồng bà
cho anh H, chị N vay để xây dựng căn nhà 4 tầng hiện nay và sử dụng 1 phần vốn
vào việc kinh doanh. Bà khẳng định chữ ký, chữ viết của bà và ông L1 trong n
bản thỏa thuận và cam kết cũng như Vi bằng số 504 đúng là chữ ký, chữ viết của
bà và ông L1. Số tiền 12.500.000.000 đồng là tiền của anh H, chị N không phải là
tin của ông H3, H4.
Đối vi thửa đất 1099 ông bà tặng cho anh H, chị N thì từ khi nhận chuyển
nhượng của chị N và hộ bà V1 thì vợ chng ông bà vẫn sử dụng ổn định và không
có tranh chấp với các hliền kề, sau đó ông bà m thủ tục tặng cho anh H chị N
đúng theo quy định của pháp luật. vậy, đề nghị Tòa án chia tài sản chung
cho anh H, chị N theo kỷ phần mỗi người được 1/2 tổng giá trị tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ L1 đã được Tòa án thông
báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải
quyết vụ án nên không ý kiến và quan điểm trình bày.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 11/2026/HNGĐ-ST ngày 04
tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ) đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, c Điều 147, 157, 158, 165, 166, 217, 218, khoản 3 Điều 228, các Điều 235
Bộ luật tố tụng dân sự; c Điều 208, 212, 213, 219, 280, 357, 466, 469 470
của Bộ luật dân sự; các Điều 33, 37, 55, 59, 60, 62, 81, 82 83 của Luật n
nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyn Quang H:
[1.1] Về hôn nhân: ng nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang
H và chị Hồ Bảo N.
[1.2] Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Quang H trực tiếp chăm sóc,
giáo dục con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo H5, sinh ngày 08/12/2021; giao
chị N trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung cháu Nguyễn Gia K sinh ngày
14/12/2023 (hiện cháu H5 đang ở với anh H; cháu K đang ở vi chị N). Anh H
chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc thăm nom con chung không ai
được cản trở.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
[2.2]. Phân chia tài sản chung như sau:
Chia cho anh Nguyễn Quang H được sở hữu, sử dụng các tài sản: Thửa đất
số 1099, tờ bản đồ số 29 tại đa chỉ: Tổ dân phố T, phưng V, tỉnh Phú Thọ và tài
sản ngôi nhà 04 tầng 01 tum y dựng trên đất (có đồ kèm theo). Thửa đất
13
được Sở i nguyên môi trường tỉnh V (cũ) cấp giy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 433736 ngày
05/02/2021 mang tên anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N.
Anh Nguyễn Quang H có nghĩa vụ thanh toán giá trị i sản chung cho ông
Nguyễn n H3 stiền 4.378.940.000 đng, cho Nguyễn Ngọc H4 số tiền
4.378.94.000 đồng và thanh toán cho chị Hồ Bảo N stiền sau khi đối trừ khoản
tin trả nợ ngân hàng là 740.651.000 đồng.
Kể tngày ông Nguyễn n H3, Nguyễn Ngọc H4, chị Hồ Bảo N
đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Quang H không tự nguyện thi hành án
thìn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy
định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Anh Nguyễn Quang H được tiếp tục quản lý, sdụng phần diện tích đất
tăng thêm 15,8m
2
theo chỉ giới 3,4,11,10,3 (có đồ kèm theo). Anh H quyền
liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đề nghị làm thủ tục để được công nhận quyền
sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
[2] Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
là Ngân hàng Thương mại cổ phần N4.
[2.1] Buộc anh Nguyễn Quang H chịu trách nhiệm trả nợ Ngân hàng thương
mi cổ phần N4 tổng s tin tính đến ngày 04/02/2025 tổng s tin
7.276.577.650 đồng; trong đó nợ gốc: 6.868.530.694 đồng; n lãi trong hạn:
268.317.572 đồng và lãi phạt 139.729.384 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm (ngày 05/02/2026) cho đến
khi thi hành án xong, anh Nguyễn Quang H n phải tiếp tục chịu khoản tiền i
của stiền nợ gốc chưa thanh toán với mc lãi suất 7,5%/m chịu khoản
tin lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số nợ lãi chậm trả.
Trường hợp anh Nguyễn Quang H không trả được toàn bộ số nợ trên thì
Ngân hàng Thương mi cổ phần N4 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý
tài sản thế chấp quyền sdụng đất i sản gắn lin tn đất, cụ thể: i sản thế
chấp quyền sử dụng thửa đất số 1099, tbản đồ số 29, diện tích 155,6 m
2
tại
địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh P Thọ ngôi nhà 04 tầng 01 tum xây
dựng tn đất, cụ thể các chiều cạnh nhà đất được gii hạn bởi các điểm: 2, 3, 4,
5, 6, 7, 9, 2 (sơ đồ kèm theo). Thửa đất được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh
V (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà i sản
khác gn lin vi đất s DB 433736 ngày 05/02/2021 mang n anh Nguyễn
Quang H, chị Hồ Bảo N.
Trong trường hợp phải phát mại i sản thế chấp mà chưa bquan nhà
nước thẩm quyền buộc tháo dỡ phần diện tích nhà do vi phạm thì Nn hàng
được quyền yêu cầu xử buộc tháo dỡ toàn bộ diện tích xây trên diện tích đất
xây ln hành lang giao thông là 12,3m
2
theo quy định của pháp luật và Ngân hàng
không phải hn trả phần giá trtài sản xây lấn chiếm cho anh H (Trừ trường hp
có thỏa thuận khác).
14
Nếu việc phát mại i sản thế chấp không đủ trả nợ, thì anh Nguyễn Quang
H tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng thương mại cphần N4 cho đến khi thanh toán
xong toàn bộ khoản nợ.
Sau khi anh Nguyễn Quang H thanh toa
́
n xong khoa
̉
n nơ
̣
cho Nn hàng
Thương mi cổ phần N4 tNgân hàng co
́
tra
́
ch nhiê
̣
m tra
̉
lại giấ y chư
́
ng nhâ
̣
n
quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Quang H.
[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.400.000đ; anh H tự nguyn chịu toàn
bộ số tiền trên. Xác nhận anh H đã nộp đủ.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Án ply hôn thẩm: Anh Nguyn Quang H phải chịu 150.000 đồng
nhưng được trừ vào số tin 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án p đã np
theo biên lai thu số 0006486 ngày 12 tháng 3 năm 2025, của Chi cục Thi hành án
dân sthành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thi nh án n stỉnh P);
anh H được hoàn lại 150.000 đồng.
[4.2]. Án phí chia tài sản chung nghĩa vụ trả nợ chung:
Anh Nguyễn Quang H phải chịu 112.378.000 đồng án phí chia tài sản chung
57.638.000 đồng án pvề nghĩa vụ trả nợ chung. Tổng số tiền án phí dân sự
thẩm anh H phải chịu là 170.016.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền
66.500.000 đồng tạm ng án p n sự thm đã nộp theo biên lai thu số
0006568 ngày 06 tháng 5 m 2025 của Chi cục Thi hành án n sthành phố
Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh P); anh H n phải nộp
103.516.000 đồng.
Ch Hồ Bảo N phải chịu 112.378.000 đồng án pchia i sản chung và
57.638.000 đồng án phí về nghĩa vụ trả nợ chung. Tổng số tiền án phí dân sự
thm chị N phải chịu là 170.016.000 đồng.
Ông Nguyễn n H3 Nguyễn Ngọc H4 mỗi người phải chịu án phí
chia tài sản chung là 112.378.000 đồng.
[4.3]. Hoàn trả li Ngân hàng Thương mi cổ phn N4 57.442.000 đồng tạm
ứng án phí n sự thẩm đã nộp theo biên lai thu s0006634 ngày 13 tháng 6
năm 2025 của Chi cục Thi hành án n sự thành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc
(nay là Thi hành án dân sự tỉnh P).
Ngoài ra, Bản án n tuyên về nghĩa vụ thi hành án quyền kháng cáo
cho các đương sự.
Ngày 10/02/2026, nguyên đơn anh Nguyễn Quang H người quyền
li, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn n H3 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thm sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo hướng không chấp nhận chia tài
sản cho bị đơn là chị Hồ Bảo N.
Ngày 13/02/2026, bị đơn là chị Hồ Bảo N và người có quyền li, nga v
liên quan Vũ Thị N1, ông Hồ L1 đơn kháng o đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án thm. Trong đó chị N đề nghị sửa theo ng cho ch
được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con và xác định thửa
15
đất số 1099, tờ bản đồ 29, trên đất có ngôi nhà 4 tầng, 01 tum là tài sản chung vợ
chồng của chị cùng anh H, chia cho chị được ng ½ tài sản trên; bà N1 và ông
L1 cũng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định thửa đất s1099, tờ bản đồ 29,
trên đất ngôi nhà 4 tầng 01 tum là tài sản chung vợ chồng của chị N cùng anh
H, chia cho chị N được ng ½ tài sản trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là ông Nguyễn Văn H3 giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị đơn và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị N1 thay đổi nội dung kháng cáo, đề
nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư tòa án đã thực hin
đúng nhim vụ, quyền hạn được quy định tại Bộ luật Tố tụng n sự; đương s
đã chấp hành đúng nghĩa vụ và được thực hiện đầy đủ quyền hạn của mình được
quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối gii quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xphúc thẩm áp dụng
đim b khoản 1 Điều 289; khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự; Đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
ông Hồ L1.
Căn cứ khoản 1 Điu 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên
Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 11/2026/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 02 m
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà n cvào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bđơn, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H3, bà Vũ Thị N1 trong hạn luật định nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ L1 đơn
kháng cáo, mặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vn vắng mặt
không có do nên đây được coi thuộc trường hợp người kháng o từ bỏ việc
kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng n sự, cần đình chỉ xét x
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Tá L1.
Về quan hệ pháp lut và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân n khu vực
9 Phú Thọ đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quan hệ pháp luật
tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn là anh Nguyễn Quang H được Tòa án triu tập hợp lệ
hai lần, có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2
Điều 296 Bộ luật Tố tụng n sự xét xử vắng mặt theo quy định.
16
Về yêu cầu định giá li i sản đất nhà: Tại phiên tòa phúc thẩm, b
đơn đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành định giá li thửa đất số 1099, tờ bản đồ 29
tại số F+64 đường T, tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ)
với do giá trthửa đất nhà được định giá không phợp vi giá thị trường
giai đoạn hiện nay. Hội đồng xét xử xét thy: Tại cấp sơ thẩm, Hội đồng định giá
đã tiến hành định giá i sản trên theo đúng trình tự, thủ tục, không có sự vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại buổi định giá, các đương sự đều không ý kiến
về kết quả định giá. Tại phiên tòa hôm nay, bđơn không cung cấp được tài
liu, chứng cchứng minh giao dịch thực tế của đất và nhà khu vực xung quanh
giá tr cao n nhiều lần so với kết quả định giá c đương sự khác đều
không đồng ý định giá lại. Do vậy, yêu cầu của bị đơn là không có căn cứ, không
được chấp nhận.
[2] Xét kng cáo ca nguyên đơn anh Nguyễn Quang H, bđơn chị Hồ
Bảo N người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3,
Thị N1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Anh Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N kết hôn ngày 14/01/2021 trên cơ
sở tự nguyện, đăng kết n tại y ban nhân dân phường K, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc (nay là png V, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn chị N về m
dâu và sống chung cùng gia đình anh H. Quá trình chung sng thời gian đầu tình
cảm vchồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2023 vchồng phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sự khác biệt về quan điểm sng, cách
hành xử với gia đình, xã hội cũng như trong việc kinh doanh chung. vậy, v
chồng đã sống ly thân từ trước tết âm lịch năm 2025. Nay anh H xin ly hôn, ch
N cũng xác định tình cảm vợ chồng không n, mục đích hôn nhân không đạt
được, đồng ý thuận tình ly hôn nên Tòa án cấp sơ thmn cứ vào tình trạng hôn
nhân nguyện vọng của hai n đương sự công nhận sự thuận tình ly hôn cho
anh H và chị N là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Về con chung: Anh H và chị N 02 con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo
H5, sinh ngày 08/12/2021 cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 14/12/2023. Hiện
cháu H5 đang ở với anh H còn cháu K đang ở với chị N. Ly hôn, cả anh H và chị
N đều đề nghị được trực tiếp cm sóc, nuôi dưỡng giáo dục chai cu H5
K, không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị N không đồng ý
để anh H nuôi cả hai con thì anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cháu H5 còn để chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưng, giáo
dục cháu K. Hiện tại cả anh H và chị N đều hoàn cảnh tương đồng về kinh tế
sự trợ giúp của hai n gia đình như nhau n Tòa án cấp sơ thẩm đã n c
vào điều kiện thực tế và nguyện vọng của cả hai để giao cho anh H được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo H5, còn giao cho chị N được trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K (ca đ36 tháng tuổi) phù
hợp, có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Do vậy yêu cầu kháng cáo của bị đơn
về việc xin được nuôi cả hai con là không có căn cứ, không được chấp nhận.
17
[2.3] Về tài sản chung:
Quá trình giải quyết vụ án, anh H cho rằng, giữa anh và chị N không có tài
sản chung vợ chồng chỉ có khoản nợ chung số tin 7.000.000.000 đồng nợ
Ngân hàng Thương mại c phần N4 theo Hợp đng tín dụng số 23BL/CN-
ĐB/NHHM 1217 ngày 117/11/2023. n chị N cho rằng, quá trình chung sống,
chị và anh H có tài sản chung là thửa đất số 1099, tờ bản đồ 29 tại số F+64 đường
T, tổ n phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), diện tích 155,6m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và din tích thực tế 183,7m
2
(trong đó
12,3m
2
nhà đất thuộc hành lang giao thông 15,8m
2
nhà đất tn phần
din tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất), chị đề nghị được
chia tài sản chung vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào c tài liệu
chứng cứ do các đương sự cung cấp kết quả xác minh tại chính quyền địa
phương xác định:
Thửa đất số 1099, tờ bản đồ 29 tại sF+64 đường T ngun gốc do v
chồng ông Hồ L1 Vũ Thị N1 (bố mcủa chị N) nhận chuyển nhượng
trước thi kỳ hôn nhân của các con. Sau khi anh H và chị N kết hôn, ông Nguyễn
Văn H3 và bà Nguyễn Ngọc H4 (bố mẹ của anh H) đã chuyển trả cho ông L1, bà
N1 số tiền 6.605.000.000 đồng tương đương 1/2 giá trị đất ban đầu để cùng cho
hai con. Sự việc này đã được các bên thừa nhận ghi nhận tại Văn bản thỏa
thun cam kết” ngày 08/7/2024 tại mục 1.1 trang 1/3. Ngày 25/01/2021 ông
L1, bà N1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho anh H chị N. Đến ngày
05/02/2021, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh V (cũ) đã cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đứng n anh Nguyễn Quang H và chị HBo N. Do đó, quyền
sử dụng đất hợp pháp được xác định i sản chung vchồng của anh H, chị N
theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình.
m 2022, ông H3, H4 đứng ra thuê thiết kế, kết các hợp đồng thi
công thanh toán tiền xây dựng n nhà 4 tầng 01 tum trên diện tích đất i
sản chung của anh H, chị N. Mặc chị N N1 đều khẳng định nguồn tiền
xây nhà phần lớn là của N1 và chị N nhưng ngoài li khai, cả N1 chị N
không bất cứ tài liệu nào chứng minh về việc đóng góp số tiền cụ thể bao nhiêu
để xây nhà. Tuy nhiên, phía ông H3 cũng thừa nhận, khi xây nhà, mặc dù phần
ln tiền của ông nhưng ông L1 N1 cũng đóng góp và hỗ trợ một
phần. Sviệc này cũng được các n ghi nhn tại Văn bản thỏa thuận cam
kết” ngày 08/7/2024 tại mục 1.2 trang 2/3. Bản thân ông H3 khi xây dựng ngôi
nhà tn đất cũng xác định trước là để cả gia đình ông bà cùng vợ chồng H, N sinh
sống, sau sẽ cho lại vợ chồng H, N. Do vậy, cần xác định i sản tn đất ngôi
nhà 4 tầng, 01 tum là của ông H3, bà H4 xây dựng, có công sức đóng góp của ông
L1, N1.
Tuy nhiên, qtrình chung sống, giữa hai bên gia đình anh H, chị N, phát
sinh mâu thuẫn gay gắt nên ngày 08/7/2024, giữa hai n gia đình bao gồm ông
H3,H4, ông L1, bà N1, cùng anh H, chị N đã lập “Văn bản thỏa thuận và cam
kết” ni dung: “…Ông Hồ L1 và bà Thị N1 đồng ý nhận lại stiền đã
18
đóng góp liên quan đến mảnh đất n nhà nêu trên trao trả toàn bộ những
tài sản liên quan cho gia đình ông Nguyễn Văn H3 Nguyễn Ngọc H4.
N1 yêu cầu phải trả tổng số tin là 9.000.000.000 đồng. Ông H3, bà H4 đồng ý và
nhất trí thanh toán số tiền này. Ngoài ra ông H3, bà H4 đồng ý thanh toán cho ông
L1, N1 số tiền 3.500.000.000 đồng …bao gồm tiền ông L1, bà N1 cho con gái
chị Ngọc C cả các khoản sinh lời.”
Như vậy, ngoài số tiền 6.605.000.000 đồng ông H3, H4 đã thanh toán
cho ông L1,N1 để cùng đóng góp vào số tin mua đất cho hai con thì ông H3,
H4 còn trả thêm tổng số tiền 12.500.000.000 đồng cho ông L1, bà N1 để thanh
toán toàn bộ công sức, tài sản mà ông L1, bà N1 đã đóng góp trong quá trình xây
nhà, cùng các khoản trước đây ông đã đầu kinh doanh, sinh lời cho chị N.
Đổi lại, kể từ ngày kết văn thỏa thuận, toàn bộ i sản nhà đất…thuộc
toàn quyền sở hữu, sử dụng của gia đình ông H3,H4, cùng các con là H, N.
Bằng sthỏa thuận mới này, các bên đã chính thức xác định lại quyền sở
hữu, sử dụng đối vi tài sản là thửa đất số 1099, tờ bản đồ 29 tại số F+64 đường
T, tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), diện tích 155,6m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và din tích thực tế là 183,7m
2
, trên đất
có ngôi nhà 4 tầng 01 tum. Theo đó, quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng
của H, N và ngôi nhà trên đất đã thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của 4 thành
viên hộ gia đình gồm ông H3,H4, anh H và chị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị N và N1 cho rằng văn bản thỏa thuận
cam kết không đúng bản chất, không đúng ý ccủa hai người. Ngày 08/7/2024,
chị N anh H đang đi du lịch H, không mặt tại n phòng T1 để n
bản thỏa thuận và lập vi bằng. Ba ngày sau anh H chị N mới đến văn phòng để
thực hiện việc ký Văn bản thỏa thuận; đng thời đề nghị được giám định ba bức
ảnh mà chị N cho rằng anh H và chị đã chụp tại H ngày 8/7/2024 để chứng minh
cho việc n bản thỏa thuận Vi bằng phản ánh không đúng bản chất sự việc.
Chị N và bà N1 đề nghị hủy văn bản thỏa thuận và Vi bằng lập ngày 8/7/2024.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù chị N và bà N1 cho rằng chị N và anh H
không tham gia n bản thỏa thuận đúng ngày 8/7/2024 Vi bằng kng
phản ánh đúng bản chất sviệc, ghi nhận sviệc khách quan nhưng cả bà N1
chị N đều thừa nhận chữ ký trong Văn bản thỏa thuận và Vi bằng đúng là của hai
người, hai người đều tự nguyện khi ký vào văn bản, không sự ép buộc. Chị N
cho rằng tin ng ông H3 nên đã Văn bản thỏa thun khi chưa đọc và không
nắm nội dung n bản. Nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị N tốt nghiệp
Đại học Luật Nội, người trưởng thành, trình độ hiểu biết pháp luật, tự
nhận thức được tính hợp pháp và phải chịu trách nhiệm về chữ của mình. Vì
vậy, chị N anh H không n bản thỏa thuận và Vi bằng đúng ngày
8/7/2024 tcũng không m thay đổi bản chất nội dung của V thỏa thuận ý
chí tnguyện của chị N khi đồng ý ký vào Văn bản. Do vy, Hội đồng xét xthấy
rằng việc giám định ba bức ảnh để xác định thời điểm n bản thỏa thuận là
không cần thiết. Văn bản thỏa thuận cam kết vẫn giá trị chứng cchứng
19
minh là sự thỏa thuận lại về quyền sở hữu và sử dụng đi với i sản chung là thửa
đất số 1099, tờ bản đồ 29 tại số F+64 đường T ngôi nhà trên đất.
Về din tích thửa đất được xác định tài sản chung của 4 thành viên gia
đình, theo quan điểm của chị N: Sau khi trđi 12,3m
2
đất thuộc hành lang giao
thông thì diện tích đất được tính là i sản chung là 171,4m
2
(bao gồm 155,6m
2
đã
được cấp Giấy chứng nhn quyền sdụng đt và 15,8m
2
là phn diện tích đất tăng
thêm chưa được cấp giấy chứng nhận). Tuy nhiên, qtrình xác minh tại chính
quyền địa phương xác định, mặc dù phần diện tích đất tăng thêm 15,8m
2
đã được
các bên sử dụng n định, không tranh chấp với các hộ liền kề, phù hợp quy
hoạch đđiều kiện cấp Giấy chứng nhn quyền sdụng đất nhưng chính quyền
địa phương không xác định việc tăng diện tích là do sai số trong qtrình đo đạc.
Mặt khác, Chi nhánh n phòng Đ cũng c định: Nguồn gốc thửa đất 1099, tờ
bản đồ số 29, diện tích 155,6m
2
được hợp thành bởi hai thửa 759 và 1049, tờ bản
đồ số 29 thông qua giao dịch chuyển nhưng quyền sử dụng đất giữa vợ chng
N1, ông L1 vi các chủ đất cũ là bà Phan Thị N3 và hộ bà Dương Thị Thanh V1.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông L1, N1 m thủ tục sang n, cấp giy chứng
nhận quyền sdụng đất thì đã tiến nh kiểm tra, đo đạc lại trên thực địa và xác
định tổng diện tích của hai thửa đất ông L1, N1 nhận chuyển nhượng
hợp thửa thành thửa 1099 chỉ có diện tích 155,6m
2
. Do vậy, mặc dù diện tích đất
thừa đã được các thành viên gia đình chị N3, anh H qun lý, sử dụng từ thời điểm
chuyển nhượng nhưng nguồn gốc đất có được không phải đất ông cha từ xa xưa
mà từ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên khi nhn chuyển nhượng,
ông L1, bà N1 đã được đo đạc và xác định diện tích trên thực địa theo Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất thì phần diện tích đất tăng thêm 15,8m
2
chưa đủ n c
để xác định là tài sản chung của 4 thành viên.
Tại cấp phúc thẩm, các đương sđều có quan điểm, ngoài diện tích đất và
ngôi nhà trên đất là tài sản chung để chia thì còn 01 thang máy, 01 quầy tủ đựng
vàng cũng được xem là i sản chung. Vì vậy Tòa án cấp thẩm đã xác định thửa
đất số 1099, tờ bản đồ 29 tại số F+64 đường T, diện tích 155,6m
2
, trị giá
14.004.000.000 đồng ngôi nhà 4 tầng 1 tum, trị giá 2.381.763.000 đồng; 01
thang máy trị giá 480.000.000 đồng; 01 quầy tđựng vàng, trgiá 650.000.000
đồng tài sản chung của ông H3, H4, anh H, chị N3 để chia thành 4 phần, mi
người được hưởng 17.515.763.000 đồng/4 = 4.378.940.750 đồng (làm tròn thành
4.378.940.000 đồng) là có căn cứ, đúng quy định pháp lut, phù hợp thực tế ng
sức bảo đảm quyền lợi của c bên. Điều đó đồng nghĩa vi việc yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vviệc chia
tài sản chung đều không có căn cứ, không được chấp nhận.
[2.4] Về công nợ: Quá trình chung sống, anh H chị N3 Hợp đồng
tín dụng số 23BL/CN-ĐB/NHHM 1217 ngày 117/11/2023 với Ngân hàng
Thương mại cổ phần N4 để vay số tin 7.000.000.000 đồng, mục đích để bổ sung
vốn lưu động kinh doanh xe ô cũ. Ngân hàng đã gii ngân cho anh H, chị N3
số tiền trên bằng 6 giy nhn nợ, cụ thể:; giấy nhận nợ số 14 ngày 31/10/2024, số
20
tin 1.000.000.000 đồng; giấy nhận nợ số 11 ngày 01/11/2024, số tin
1.000.000.000 đồng; giấy nhận nợ s12 ngày 05/11/2024, stiền 1.500.000.000
đồng; Giấy nhn nợ số 13 ngày 06/11/2024, số tiền 1.300.000.000 đồng; giấy nhận
nợ s14 ngày 07/11/2024, stiền 1.300.000.000 đồng; giấy nhận nợ số 15
ngày 08/11/2024, số tiền 900.000.000 đồng. Tất cả các Giấy nhận nợ đều thỏa
thun lãi suất cố định 5%/năm đối với khoản vay trong hạn; 150% lãi suất cho
vay trong hạn đối với lãi suất áp dụng đối với nợ gốc bị quá hạn và 10%/năm
đối với lãi suất áp dụng đi với lãi chm trả. Thi hạn duy trì hn mức vay là 12
tháng kể từ ngày ký hợp đồng; thời hạn cho vay của mi khoản nợ tối đa 06
tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay và được ghi trên từng giấy
nhận nợ.
Đảm bảo cho khoản vay trên, anh Nguyn Quang H chị Hồ Bảo N đã
Hợp đồng thế chấp số 22BL/BDDS/610 ngày 30/8/2022 với Ngân hàng TMCP
N4. Theo đó tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay quyền sử dng thửa
đất số 1099, tờ bản đồ số 29; địa chỉ: TDP T, Phường K, Thành phố V, Vĩnh Phúc
(cũ); diện tích 155,6 m
2
i sản gắn lin với đất đã được cấp Giấy chứng nhn
quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sDB
433736 do Sở Tài nguyên i trường tỉnh V (cũ) cấp ngày 05/02/2021 cho
anh H, chị N.
Quá trình thực hiện hợp đồng anh H chị N đã trả được số tiền nợ gốc
cho Ngân hàng là 131.168.350 đồng, sau đó anh H và chị N vi phạm nghĩa vụ trả
nợ. vậy, Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày
29/04/2025. Đến nay, Ngân hàng TMCP N4 đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa
án giải quyết, buộc anh H, chị N phi trả cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ gốc,
nợ lãi trong hạn, lãi qhạn, các phí, chi pphát sinh đến hết ngày 04/02/2026
theo hợp đồng tín dụng đã ký vi tổng số tiền là 7.276.577.650 đồng; trong đó nợ
gốc 6.868.530.694 đồng; nợ lãi trong hạn 268.317.572 đồng lãi qhạn
là 139.729.384 đồng tiếp tục chịu lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm đối vi
số tin nợ gốc theo mức lãi suất 7,5% và đối với khoản tiền lãi suất chm trả bằng
10%/năm cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp anh H chị N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án quyết định của Tòa án hiệu lực pháp lut
thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án n sự xử lý tài sản bảo đảm
của anh Nguyễn Quang H chị Hồ Bảo N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số 22BL/BĐS/610 ngày 30/08/2022 để thu hồi nợ theo quy định của
pháp luật.
Về nguyên tắc, khoản nợ trên nghĩa vụ chung của vợ chồng n anh H,
chị N phải trách nhiệm liên đới trả ncho Ngân ng. Tuy nhiên để đảm bảo
cho việc thu hồi vốn cũng như việc xử tài sản bảo đảm được thuận lợi, Ngân
hàng đồng ý để anh H, chị N chia i sản chung ngôi nhà đang thế chấp tại Nn
hàng, đồng thời đề nghị Tòa án giao cho ai quản lý, sdụng nhà đất thì buộc
người đó trách nhim trả toàn bộ khoản vay cho ngân hàng. Anh H, chị N đồng
21
ý với ý kiến trên nên khi chia i sản chung Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho anh
H được quyền quản , sử dụng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 1099, tờ bản
đồ 29 tại số F+64 đường T, diện tích 155,6m
2
ngôi nhà 04 tầng, 01 tum trên
đất, anh H phải có trách nhiệm thanh tn tiền cho ông H3, H4, chị N, đồng
thi buộc anh H phải trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ Ngân hàng của hai v
chồng là phù hợp.
Mặc dù anh H, chị N, ông H3 và H4 đều thừa nhận anh H, chị N người
vay, còn ngưi sử dụng stiền vay ông H3, H4 nhưng tại cấp thm anh
H, chị N không yêu cầu độc lập đối với ông H3, H4; đồng thời Ngân hàng
cũng yêu cầu anh H, chị N là người ký hợp đồng tín dụng phải nghĩa vụ đối
với khoản nợ trên, đề nghị giao cho một người có nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ vào
thỏa thuận ca c n vlãi suất trong c Hợp đồng tín dụng phù hợp với luật
các tổ chức tín dụng, Tòa án cấp sơ thm buộc anh H phải trả cho Ngân hàng tổng
số tiền là 7.276.577.650 đồng; trong đó ngốc 6.868.530.694 đồng; nlãi trong
hạn là 268.317.572 đồng lãi quá hn là 139.729.384 đồng là có căn cứ. Trường
hợp anh H không tự nguyn thanh toán khoản tin trên thì Ngân hàng được quyền
xử i sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp hai n đã ký kết. Tuy nhiên,
đối vi khoản tiền lãi kể từ ngày xét xử sơ thẩm, mặc Tòa án cấp sơ thẩm đã
áp dụng đúng mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng nhưng việc không chốt số
tin lãi suất chậm trả phải chịu mức lãi suất 10%/năm cụ thể là bao nhiêu tại thời
đim xét xử sơ thẩmkhông đúng nguyên tắc, cần xác định số tin lãi suất chm
trả cụ thể là 408.046.956 đồng phải chịu lãi suất 10%/năm. Do vậy cần điều chỉnh
cách tuyên đối với phần này để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Sau khi trừ đi nghĩa vụ phải thực hin khoản nợ chung của vợ chồng
(trong đó phần nghĩa vụ của chị N 7.276.577.650 đồng /2 = 3.638.288.825
đồng), anh H n phải trả cho chị N stiền 740.651.175 đồng (làm tròn thành
740.651.000 đồng); đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm đã nh quyền khởi kiện cho
anh H, chị N đối với ông H3, H4 trong một vụ án n sự khác là n cứ, phù
hợp quy định pháp luật.
[3] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy nội
dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người quyền li, nghĩa vụ liên quan
là không có căn cứ, không được chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh PThọ tại phiên tòa
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bđơn, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là ông H3, N1, ông L1, giữ nguyên án sơ thẩm căn cứ, cần
chấp nhận.
[4] Về chi p tố tụng: Anh Nguyễn Quang H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí t
tụng là 6.400.000 đồng. Xác nhận anh H đã nộp đủ.
[5] Về án p
[5.1] Án phí sơ thẩm:
Về án phí ly hôn sơ thm: Các đương sự thuận tình ly hôn; anh H tự nguyện
chịu toàn bộ án p ly hôn sơ thẩm nên Tòa án cấp thẩm buộc anh H phi chịu
22
150.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp căn cứ,
đúng quy định pháp luật. Anh H được trả lại 150.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn
thm.
Về án phí phân chia i sản chung: Anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N, ông
Nguyễn n H3, bà Nguyễn Ngọc H4 phải chịu án phí tương ng với phần tài sản
được chia. Cụ thể anh H, chị N, ông H3, H4 mi người được chia
4.378.940.000 đồng nên anh H, chị N, ông H3, H4 mi người phải chịu án phí
đối với số tiền 112.000.000 đồng + ( 0,1% x 378.940.000 đồng) = 112.378.940
đồng (làm tròn thành 112.378.000 đồng).
Về án phí đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng được chấp nhận nên anh H chị N phải chịu mỗi người 1/2 án phí đối với
số tiền 7.276.577.650 đồng. Do vậy, án panh H, chị N phải chịu là 112.000.000đ
+ (3.276.577.650 đồng x 0,1%) = 115.276.578 đồng. Anh H và chị N mỗi ngưi
phải chịu 57.638.289 đồng (làm tn 57.638.000 đồng). Ngân hàng Thương mại
cổ phn N4 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn li tiền tạm ứng án
phí đã nộp.
[5.2] Án pphúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị N1, ông Nguyễn Văn H3 không được chấp nhận
nên c đương sự trên mỗi người phải chịu 300.000 đồng án p n sự phúc thẩm.
Ông Hồ Tá L1 bị đình chỉ yêu cầu kháng cáo do được triu tập hợp lệ hai lần vn
vắng mt không do nên vẫn phải chịu án pn sự phúc thẩm 300.000
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điu 289; khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng ca người có quyền li,
nghĩa vụ liên quan, ông Hồ Tá L1.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhn kháng cáo của nguyên đơn, anh Nguyễn Quang H, bị đơn
chị Hồ Bảo N, ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N1, ông Nguyễn
Văn H3. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2026/HNGĐ-ST
ngày 04 tháng 2 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm a khoản 1 Điều
39, c Điều 147, 157, 158, 165, 166, 217, 218, khoản 3 Điều 228, các Điều 235
Bộ luật tố tụng dân sự; c Điều 208, 212, 213, 219, 280, 357, 466, 469 470
của Bộ luật dân sự; các Điều 33, 37, 55, 59, 60, 62, 81, 82 83 của Luật n
nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang H:
1.1. Về quan hhôn nhân: Công nhn sthuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn
Quang H và chị Hồ Bảo N.
23
1.2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Quang H trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cu Nguyễn Ngọc Bảo H5, sinh ngày 08/12/2021; chị N được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K sinh ngày 14/12/2023. Anh H chị
N không phải cấp dưỡng nuôi con chung; người không trực tiếp nuôi con có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
1.3. Về chia tài sản chung:
- Xác định thửa đất số 1099, tờ bản đồ số 29, diện tích 155,6m
2
tại địa chỉ:
Tổ dân phố T, phưng V, tỉnh PThọ, trên đất có ngôi nhà 04 tầng 01 tum đưc
Sở Tài nguyên môi trường tỉnh V (cũ) cấp giy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và i sản khác gn lin vi đất số DB 433736 ngày
05/02/2021 mang tên anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N (đồ m theo);
01 cầu thang y và 01 quầy tủ đựng vàng, tổng tài sản trgiá 17.515.763.000
đồng là tài sản chung của anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N, ông Nguyễn Văn
H3 và bà Nguyễn Ngọc H4.
- Chia tài sản chung: Chia cho anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N, ông
Nguyễn n H3, Nguyn Ngọc H4, mỗi ngưi được hưởng trị giá tài sản
4.378.940.750 đồng (làm tròn thành 4.378.940.000 đồng).
Giao cho anh H được qun lý, sử dụng các tài sản gồm: Thửa đất s1099,
tờ bản đồ số 29, diện tích 155,6m
2
tại địa chỉ: Tổ n phố T, png V, tỉnh P
Thọ, trên đất có ngôi nhà 04 tầng 01 tum được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh
V (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà i sản
khác gn lin vi đất s DB 433736 ngày 05/02/2021 mang n anh Nguyễn
Quang H, chị Hồ Bảo N (có đồ m theo); 01 cầu thang máy 01 quầy t
đựng vàng.
Anh Nguyễn Quang H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn H3, bà
Nguyễn Ngọc H4 mi người 4.378.940.000 đồng; thanh toán cho chị Hồ Bảo N
số tiền 740.651.000 đồng sau khi đã đối trừ khoản tiền trả nợ ngân hàng.
Kể tngày ông Nguyễn n H3, Nguyễn Ngọc H4, chị Hồ Bảo N
đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Quang H không tự nguyện thi hành án
thìn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy
định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Anh Nguyễn Quang H được tiếp tục quản lý, sdụng phần diện tích đất
tăng thêm 15,8m
2
theo chỉ giới 3,4,11,10,3 (có sơ đồ kèm theo). Anh H quyền
liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đề nghị làm thủ tục để được công nhận quyền
sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
2. Chấp nhn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là
Ngân hàng Thương mại cổ phần N4.
2.1. Buộc anh Nguyễn Quang H chịu trách nhiệm trả nợ Ngân hàng tơng
mi cổ phần N4 tổng số tiền tính đến ngày 04/02/2025 7.276.577.650 đồng;
trong đó nợ gốc: 6.868.530.694 đồng; nợ lãi trong hạn: 268.317.572 đồng lãi
quá hạn là 139.729.384 đồng.
24
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm (ngày 05/02/2026) cho đến
khi thi hành án xong, anh Nguyễn Quang H n phải tiếp tục chịu khoản tiền i
của stiền nợ gốc 6.868.530.694 đồng với mức lãi suất 7,5%/năm và chịu
khoản tiền lãi suất chậm trả 408.046.956 với mức lãi suất 10%/năm.
2.2. Trường hợp anh Nguyễn Quang H không trả được toàn bộ snợ trên
thì Ngân hàng Thương mi cổ phần N4 quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử
i sản thế chấp là quyền sdụng thửa đất số 1099, tờ bản đồ số 29, diện tích
155,6 m
2
tại địa chỉ: Tổ n phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ ngôi nhà 04 tầng
01 tum xây dựng trên đất, được giới hạn bởi các đim: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 2 (có sơ
đồ kèm theo). Thửa đất được Sở i nguyên môi trường tỉnh V (cũ) cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn lin với
đất sDB 433736 ngày 05/02/2021 mang tên anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo
N.
3. Về chi p xem xét, thẩm định tại chỗ định giá i sản:; anh H tự
nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá i sn
6.400.000đ.c nhn anh H đã nộp đủ.
4. Về án phí:
4.1. Án phí sơ thẩm.
- Án ply n thẩm: Anh Nguyễn Quang H phải chịu 150.000 đồng
nhưng được trừ vào số tin 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án p đã np
theo biên lai thu số 0006486 ngày 12 tháng 3 năm 2025, của Chi cục Thi hành án
dân sthành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thi nh án n stỉnh P);
anh H được hoàn lại 150.000 đồng.
- Án pphân chia i sản chung: Anh Nguyễn Quang H, chị Hồ Bảo N,
ông Nguyễn n H3, Nguyn Ngọc H4 phải chịu mỗi người 112.378.000 đồng.
- Án pđối với yêu cầu độc lập của Ngân ng: Anh H, chị N mỗi người
phải chịu 57.638.000 đồng.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N4 57.442.000 đồng tạm ng
án pn sự sơ thẩm đã nộp theo bn lai thu s0006634 ngày 13 tng 6 m
2025 của Chi cục Thi hành án n sự thành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (nay
là Thi hành án dân sự tỉnh P).
Tổng stiền án phí n sự thẩm anh H phải chịu 170.016.000 đồng,
nhưng được trừ vào số tiền 66.500.000 đồng tạm ứng án pn ssơ thẩm đã
nộp theo biên lai thu số 0006568 ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành
án n sthành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thi hành án dân stỉnh P);
anh H n phải nộp 103.516.000 đồng.
Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm chị N phải chịu là 170.016.000 đồng.
4.2. Án pphúc thẩm: Ông HTá L1, Thị N1, ông Nguyễn n H3,
anh Nguyễn Văn H7, chị Hồ Bảo N mi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân
sự phúc thm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp lần lượt theo các
biên lai số 0001550; 0001551 cùng ngày 05/3/2026 các biên lai số 0001512;
25
0001511 cùng ngày 04/3/2026; biên lai số 0001468 ngày 02/3/2026. Xác nhận
các đương sự đã nộp đủ.
5. Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điu 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩmhiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Thị Đoan Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất