Bản án số 23/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 23/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 23/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Phạm Thị G kiện Vũ Thị T1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 23/2026/DS-PT
Ngày 13 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư phiên tòa: Nguyễn ThMỹ Linh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 555/2025/TLPT-DS ngày 20
tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đng vay tài sn”;
Do Bản án dân sự thẩm số: 288/2025/DS-ST ngày 18-9-2025 của Tòa
án nhân dân vực 1 - Đồng Nai bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 602/2025/QĐ-PT
ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị G, sinh năm 1943; Căn cước công dân số:
03614300573X; nơi trú: SF, Tổ C, Khu phố A, phường A, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của G (văn bản ủy quyền ngày
09/6/2025): Ông Trương Minh T, sinh năm 1974; Căn cước công dân số:
07507400888X; địa chỉ: Số F, Đường I, Khu phố A, phường B, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai (nay phường T, tỉnh Đồng Nai); số điện thoại: 0906 810 222;
2
có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Thị T1, sinh năm 1961; Căn cước công dân số:
00116103300X; địa chỉ: Số C, Tổ B, Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của T1 (văn bản ủy quyền ngày
12/7/2025): Nguyễn Thị D, sinh năm 1997; Căn cước công dân số:
04019701085X; nơi đăng thường trú: Xóm D, T, huyện T, tỉnh Nghệ An
(nay là xã X, tỉnh Nghệ An); nơi cư trú: Tổ G, Khu phố C, phường T, tỉnh Đồng
Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Vũ Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Phạm Thị G có yêu cầu khởi kiện như sau:
G T1 quan hệ hàng xóm, bạn với nhau. Bắt đầu từ năm
2015, G cho T1 vay nhiều lần; nhng lần trước đây, G cho T1
vay tiền đều viết giấy vay T1 đã trả hết số tiền vay. Đối với giấy vay tiền
năm 2022 bà T1 vay 500.000.000 đồng để sửa nhà và đã trả hết số tiền này.
Sau đó, bà T1 tiếp tục vay tổng số tiền 1.950.000.000 đồng theo giấy nhận
nợ ngày 15-4-2024. Do bà T1 gặp khó khăn, nên G không lấy tiền lãi của
T1 chỉ lấy tiền gốc. Kể từ ngày vay 15-4-2024 đến nay, T1 đã trả được
cho bà G 08 tháng nợ gốc với số tiền 24.000.000 đồng. Trong đó có 05 tháng trả
tiền mặt cho bà G, 03 tháng chuyển qua tài khoản của bà N với số tiền 9.000.000
đồng, như sao kê tài khoản bà T1 cung cấp cho Tòa án.
Nay bà G khởi kiện yêu cầu T1 trả số tiền 1.926.000.000 đồng
không yêu cầu tính lãi.
2. Bị đơn bà Vũ Thị T1 trình bày:
T1 vay tiền của G nhiều lần với tổng số tiền 500.000.000 đồng. Do
T1 không tiền trả cho G nên ngày 15-4-2024, G gọi T1 đến nhà
yêu cầu T1 viết giấy nhận nợ. Theo đó, T1 tự viết giấy nhận nợ ngày
15-4-2024 với tổng số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng cộng lãi thành số tiền
1.950.000.000 đồng.
Quá trình vay T1 đã trả cho G được 11 tháng 33.000.000 đồng;
trong đó, 08 tháng trả bằng tiền mặt nhưng không giấy tbiên nhận trả tiền,
3
còn 03 tháng bà T1 trả cho bà G bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản của
N với số tiền 9.000.000 đồng nsao tài khoản T1 cung cấp cho Tòa
án. Do T1 gặp khó khăn nên khoảng tháng 3-2025, T1 không tiền trả
cho bà G.
Nay G khởi kiện yêu cầu T1 trả số tiền số tiền 1.926.000.000 đồng
thì bà T1 không đồng ý. Bà T1 đồng ý trả số tiền nợ gốc là 467.000.000 đồng.
Tại cấp thẩm người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Theo
giấy vay tiền không thỏa thuận thời hạn trả, nguyên đơn chưa thông báo về việc
trả tiền nên chưa đủ điều kiện khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án, lời khai của
nguyên đơn sự mâu thuẫn. Thực tế, bà T1 vay tiền của bà G với số tiền
500.000.000 đồng và cộng lãi thành số tiền 1.950.000.000 đồng. Do đó, T1
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.
Yêu cầu Tòa án tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
công nhận giấy nhận nợ ngày 15-4-2024 hiệu. T1 đồng ý trả cho bà G số
tiền 467.000.000 đồng.
3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự thẩm số: 288/2025/DS-ST ngày 18-9-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, đã quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị G.
- Buộc bà Vũ Thị T1 trả cho bà Phạm Thị G số tiền 1.926.000.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm thi hành án, án phí
và quyền kháng cáo.
4. Kháng cáo:
Thị T1 đề nghị sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà chỉ đồng ý trả cho G số tiền
467.000.000 đồng.
5. Phần phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
5.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc cấp tống
đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự chuyển hồ cho Viện kiểm sát
cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa thực hiện đúng các quy
4
định của Bộ lut T tng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, tư, khách quan
và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ vụ
án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định
tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5.2. Quan điểm đối với kháng cáo:
Kiểm sát viên đã đánh giá về vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn
cung cấp thêm một số tài liệu chứng cứ mới, đủ cơ sở xác định cấp thẩm giải
quyết căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung và kháng cáo:
Trên cơ sở hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bên và kết quả tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy:
Tại Tòa án cấp thẩm, đại diện T1 thừa nhận 02 bên mối quan hệ
quen biết, G nhiều lần cho T1 vay tiền; tất cả các lần vay tiền, đều có giấy
T1 đã trả cho G đầy đủ. Đối với giấy vay số tiền 1.950.000.000 đồng
ngày 15-4-2024, T1 tự viết tên. trình bày số tiền này bao gồm cả
tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi. Quá trình vay, bà đã trả được 11 tháng với
tổng số tiền 33.000.000 đồng; trong đó, 08 tháng trả bằng tiền mặt không tài
liệu thể hiện và 3 tháng chuyển khoản có sao kê ngân hàng kèm theo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện T1 vẫn giữ nguyên lời trình bày.
Việc bà T1 cho rằng số tiền 1.950.000.000 đồng là do cộng tiền lãi từ khoản vay
500.000.000 đồng, nhưng T1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh cho lời trình bày trên; ngoài ra, đại diện bà T1 cho rằng mức lãi suất của số
tiền 500.000.000 đồng 20%, tính từ ngày 19-12-2022 25-12-2022; tuy
nhiên, Hội đồng xét xử đã tính toán, kết quả số tiền không khớp còn cao hơn
nhiều. Trong khi đó, giấy nhận nợ không thể hiện việc cộng lãi, mức lãi suất,
thời gian tính lãi cũng không có thỏa thuận nào về việc nhập lãi vào tiền gốc;
giấy nhận nợ này do T1 tự viết và tên, đây tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra, tại phiên tòa
phúc thẩm, nguyên đơn còn xuất trình rất nhiều giấy vay tiền (09 giấy), nhận nợ
tương tự như giấy vay nợ nêu trên với rất nhiều khoản tiền thời gian khác
5
nhau đều không ghi lãi suất như giấy nhận nợ đang khởi kiện trong vụ án
này. Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích, nguyên đơn xác nhận ngoài khoản
nợ kiện đòi trong vụ án này, bị đơn không còn nnguyên đơn khoản tiền nào
khác.
Đối với số tiền nguyên đơn xác định bị đơn đã trả được 24.000.000 đồng,
còn bị đơn cho rằng đã trả 33.000.000 đồng nhưng không tài liệu chng cứ
chứng minh. Do đó, không có căn cứ xác định bị đơn đã trả cho nguyên đơn
33.000.000 đồng.
Ngoài ra, T1 đề nghị xác định Giấy nhận nợ ngày 15-4-2024
hiệu. Xét thấy, G T1 đều là người đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
T1 tự nguyện viết tên vào giấy nhận nợ không bị ai lừa dối, ép buộc;
đây là giao dịch dân sự không thuộc điều cấm của luật, phù hợp với quy định tại
các Điều 117, 118, 122 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; do đó, không
căn cứ xác định Giấy nhận nợ ngày 15-4-2024 giữa G và bà T1 là vô hiệu.
Từ những phân tích nêu trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của
Vũ Thị T1.
[2] Án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bluật Ttụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án; Vũ Thị T1 người cao tuổi đơn xin miễn án phí; do đó, T1
được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[3] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị T1.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 288/2025/DS-ST ngày 18-9-2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
Áp dụng các Điều 278, 463, 466 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; quy
định về án phí nêu trên (mục [3]).
1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
6
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị G về
việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Giấy nhận nợ ngày 15-4-2024 đối với
bị đơn bà Vũ Thị T1.
Buộc Thị T1 phải trả cho Phạm Thị G số tiền 1.926.000.000
đồng (một tỷ chín trăm hai mươi sáu triệu đồng).
2. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ và thi hành án:
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a,
7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020
2022).
3. Án phí:
Thị T1 được miễn án phí dân sự thẩm và án phí dân sự phúc
thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân khu vực 1;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1;
- Lưu: Hồ sơ vụ án và VP(14).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký và đóng dấu
Nguyễn Văn Thành
Tải về
Bản án số 23/2026/DS-PT Bản án số 23/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 23/2026/DS-PT Bản án số 23/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất