Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024 của TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 22/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024 của TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Bỉm Sơn (TAND tỉnh Thanh Hóa) |
Số hiệu: | 22/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 26/12/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | * Căn cứ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
THỊ XÃ BỈM SƠN Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
TỈNH THANH HÓA
Bản án số:22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26- 12- 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Thẩm
Ông Vũ Văn Thoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh
Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số:
157/2024TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024, vÒ viÖc “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
24/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1988
Nơi ĐKNKTT: SN 58 đường N, khu phố B, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh
Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Số E V, khu phố A, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Trọng T, sinh năm 1987
Nơi ĐKNKTT: SN 58 đường N, khu phố B, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh
Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại đội 35, phân trại 2, trại giam S, thị trấn T, huyện Y,
tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A
trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Trọng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
được sự đồng ý của hai bên gia đình. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND phường
N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà
thuận với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bất
đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, không tôn trọng nhau, cuộc sống
vợ chồng không hòa thuận, anh T chơi bời và đã bị xét xử về tội “ mua bán trái
phép chất ma tuý” theo bản án số 113/2023/HS-ST ngày 26/5/2023 của Toà án
nhân dân tỉnh Thanh Hoá, hiện nay anh T đang chấp hành án tại đội 35, phân trại 2,
trại giam S, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, thời gian chấp hành án 15 năm tù,
đến nay mới chấp hành được hơn 2 năm tù.
Nay thực sự vợ chồng không còn tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ
nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải
quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Trọng T.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu đầu tên là: Phạm Huyền T1
(nữ), sinh ngày 25/5/2011, cháu thứ hai tên là Phạm Bảo A1 (nữ) sinh ngày
22/8/2015, cháu thứ ba tên là Phạm Anh T2 (nam), sinh ngày 20/4/2017. Nếu ly
hôn chị xin được nuôi 3 cháu T1, Bảo A1 và Anh T2 đến tuổi thành niên và có khả
năng lao động, chị không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải
quyết.
- Về phía bị đơn: Tại bản tự khai ngày 27/11/2024 anh Phạm Trọng T trình
bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Kim A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
được sự đồng ý của hai bên gia đình. Đăng ký kết hôn tại UBND phường N năm
2011. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
không hợp nhau, anh đang chấp hành án 15 năm tù về tội “mua bán trái phép chất
ma tuý” nên không xác định được tương lai của cuộc sống hôn nhân. Vậy nên khi
chị Nguyễn Thị Kim A làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu đầu tên là: Phạm Huyền T1
(nữ), sinh ngày 25/5/2011, cháu thứ hai tên là Phạm Bảo A1 (nữ) sinh ngày

22/8/2015, cháu thứ ba tên là Phạm Anh T2 (nam), sinh ngày 20/4/2017. Nếu ly
hôn anh đồng ý giao 3 con cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
các cháu. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Vì điều kiện hiện anh đang chấp hành án, anh không thể tham gia giải quyết
và xét xử vụ án được nên anh đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt anh
theo nguyện vọng của anh đã nêu trên.
Tại biên bản xác minh ngày 27/11/2024 ông Trần Văn D trưởng khu phố B,
phường N, thị xã B cho biết: Vợ chồng anh Phạm Trọng T và chị Nguyễn Thị Kim
A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND phường N,
thị xã B. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn vì không hợp nhau,
bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh T không tu chí làm ăn dẫn
đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện nay anh T đang chấp hành án
tại trại giam S, Y về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời gian chấp hành án
15 năm tù.
Vợ chồng có 03 con chung, cháu đầu sinh năm 2011, cháu thứ hai sinh năm
2015 và cháu thứ ba sinh năm 2017, các cháu hiện nay đang ở với mẹ. Nay chị
Kim A làm đơn ly hôn, đề nghị Toà án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải
quyết vụ án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án ngày 09/12/2024 Tòa án đã tiến hành mở phiên họp
tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số:157/TB-TA ngày 27/11/2024.
Chị Kim A có mặt, anh T đang chấp hành án và đề nghị Toà án giải quyết vắng
mặt anh. Vì vậy, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Kim A có mặt, anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt, chị Kim A vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh T và chị có nguyện
vọng xin được nuôi các con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân
sự (viết tắt: BLTTDS), Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) tiến hành xét xử vắng
mặt anh Phạm Trọng T.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng
của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án.Việc
chấp hành pháp luật của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1
Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, 278 và Điều 280 BLTTDS;
- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84/ Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 và tiểu mục 1.1 phần 1 mục II danh mục mức án phí lệ phí ban hành
kèm theo;
- Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A
+ Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Phạm
Trọng T.
+ Về con cái: Giao con chung của vợ chồng là các cháu Phạm Huyền T1 (nữ),
sinh ngày 25/5/2011, Phạm Bảo A1 (nữ) sinh ngày 22/8/2015, Phạm Anh T2
(nam), sinh ngày 20/4/2017 cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo
dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp
dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải
quyết nên đề nghị miễn xét.
- Về án phí DSST: Đề nghị buộc chị Nguyễn Thị Kim A phải nộp 300.000đ
án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào ý kiến phát biểu của đương sự và Kiểm sát viên tại
phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Xét về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Kim A khởi kiện yêu cầu
Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh
Phạm Trọng T. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại phường N, thị xã B, vì vậy thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn theo quy định
tại quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39
BLTDS;
[2] Về yêu cầu của đương sự HĐXX thấy:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Phạm Trọng T kết hôn trên
cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã B đây là hôn
nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân vì tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, không
có tiếng nói chung, hơn nữa anh T chơi bời đã bị xét xử về tội “mua bán trái
phép chất ma tuý” đang chấp hành án 15 năm tù, nên mâu thuẫn vợ chồng

ngày càng trầm trọng. Nay chị cương quyết xin ly hôn anh T, anh T xét thấy
anh đang chấp hành án 15 năm tù nên không xác định được tương lai của
cuộc sống hôn nhân nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy, vợ chồng anh
chị mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, anh T đang chấp hành án thời gian
quá lâu, hai vợ chồng ở xa nhau không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ
chồng lạnh nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân
không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của
chị Kim A, xử cho chị Kim A được ly hôn với anh T là phù hợp.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu đầu tên là: Phạm Huyền
T1 (nữ), sinh ngày 25/5/2011, cháu thứ hai tên là Phạm Bảo A1 (nữ) sinh
ngày 22/8/2015, cháu thứ ba tên là Phạm Anh T2 (nam), sinh ngày
20/4/2017. Chị Kim A xin được nuôi dưỡng 3 cháu đến tuổi thành niên và
có khả năng lao động, chị Kim A không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con
chung. Anh T đồng ý giao 3 con cho chị Kim A nuôi dưỡng vì anh cho rằng
anh đang chấp hành án nên không có khả năng chăm sóc các con. HĐXX
thấy, anh T hiện nay đang chấp hành án phạt tù 15 năm, mới chấp hành án
được hơn 2 năm nên không có điều kiện để chăm sóc các cháu, chị Kim A
đang làm việc tại Ngân hàng V công việc ổn định, hơn nữa nguyện vọng
của 3 cháu cũng xin được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Phạm Huyền T1,
Phạm Bảo A1 và Phạm Anh T2 cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, anh T
không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim A phải nộp 300.000đ
án phí ly hôn sơ thẩm.
Bởi những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227,
khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 / Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 và tiểu mục 1.1 phần 1 mục II danh mục mức án phí lệ phí ban hành
kèm theo;
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Phạm
Trọng T.
- Về con cái: Giao con chung của vợ chồng là Phạm Huyền T1 (giới tính:nữ),
sinh ngày 25/5/2011, Phạm Bảo A1 (giới tính: nữ) sinh ngày 22/8/2015 và cháu
Phạm Anh T2 (giới tính: nam), sinh ngày 20/4/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim A
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục các cháu đến tuổi thành niên và có khả
năng lao động. Anh Phạm Trọng T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người
trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn
xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Kim A phải nộp 300.000 đồng án phí ly
hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Kim A đã nộp tại
Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn theo biên lai thu số: 0004653 ngày
22/11/2024. Như vậy, chị Nguyễn Thị Kim A đã nộp đủ án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Nguyễn Thị Kim A, vắng mặt anh Phạm
Trọng T.
Chị Kim A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án sơ thẩm (26/12/2024), anh T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định
của pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND thị xã Bỉm sơn; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
- Đương sự;
- UBND phường Ngọc Trạo
(ĐK ngày 09/5/2011);
- Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
-THA Dân sự thị xã Bỉm Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án. TỐNG THỊ HÀ

Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm