Bản án số 213/2026/DS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/DS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 213/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN SỐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 213/2026/DS-ST Bản án số 213/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/DS-ST Bản án số 213/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 213/2026/DS-ST
Ngày 29 - 9 - 2026.
V/v tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon;
2. Bà Nguyễn Thị Liệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Luân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Chí Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 tháng 9 và ngày 29 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án
dân sự thụ lý số: 147/2026/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2026, về “Tranh chấp
ranh giới quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
443/2026/QĐST-DS ngày 21/8/2026; quyết định hoãn phiên tòa số:
242/2026/QĐST-DS ngày 11/9/2026 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh C, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Trần Hợp H, sinh năm: 1984;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị Mỹ N, sinh năm 1980;
Người đại diện theo ủy quyền cho bà Võ Thị Mỹ N là: Ông Lê Minh C, sinh
năm: 1982; địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Vũ Thị V, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp
(vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản mở phiên
họp - hòa giải, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Minh
C và bà Võ Thị Mỹ N ủy quyền cho ông C trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là
của ông Nguyễn Văn Đ (thường gọi ông 7 Đ1) ở xã B chuyển nhượng cho bà
Nguyễn Kim T1 (mẹ ông C) vào năm 2018 phần đất nền nhà diện tích 216m
2
(mục
đích sử dụng đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 35, tờ bản đồ số 83, tại ấp B, xã
B, tỉnh Đồng Tháp. Khi bà T1 nhận chuyển nhượng đất thửa số 35, thì ông Đ1 đã
xây bó nền xung quanh thửa đất để giữ đất, cát trong nền không bị trôi chảy ra bên
ngoài, cụ thể: Hướng Nam giáp bà Trần Thị N1, thì ông Đ1 xây bó nền tường gạch;
Hướng Bắc giáp tường gạch xây bó nền của anh Nguyễn Văn T (con ông Đ1);
Hướng Đ2 giáp ranh ông Nguyễn Văn B, thì ông Đ1 xây tường gạch bó nền có đà
kiên cố do vị trí này đất bị trũng thấp và giáp đường nước nổi, dây đà một đầu giáp
với tường gạch nền nhà của anh T và một đầu giáp với tường gạch bó nền của ông
H; Hướng Tây giáp đường đất thì không có xây bó nền vì đường đất cao cát không
bị trôi chảy.
Năm 2019 bà Nguyễn Kim T1 tặng cho ông C phần đất trên và làm hồ sơ thủ
tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C, đến ngày 01/10/2019 ông Lê
Minh C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa số 35, tờ bản đồ
số 83, diện tích 216m
2
(mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm) tại ấp B, xã B,
tỉnh Đồng Tháp.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 29/4/2025 thì hiện nay phần đất thửa số 35 của ông
C từ (mốc M8 đến M10) giáp với tường xây gạch bó nền (sau hậu) nhà của vợ
chồng ông H, bà V thuộc thửa số 746 và thửa số 2753, tờ bản đồ số 6. Trong quá
trình sử dụng đất ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông và ông H ổn định, từ năm
2019 đến nay đất của ông còn để trống chưa có xây dựng, vào năm 2023 ông làm
hồ sơ xin cấp đổi lại quyền sử dụng đất thì ông H không chịu ký tên người giáp
ranh và cho rằng phần diện tích 7,5m
2
(mốc M3, M4, M9, M10 về M3) giáp ranh là
thuộc quyền sử dụng đất của ông, nên ông H không thống nhất và hai bên phát sinh
tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đến nay.
Do đó, nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà V
liên đới giao trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 7,5m
2
(nêu trên) cho ông quản lý
sử dụng theo quy định. Theo Sơ đồ đo đạc ngày 29/4/2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đ3 - Đồng Tháp và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/4/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, diện tích 7,5m
2
trong phạm vi các mốc
(mốc M3, M4, M9, M10 về M3) thuộc một phần thửa số 35, tờ bản đồ số 83, diện
tích 216m
2
(đất trồng cây lâu năm), quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 01/10/2019 tên ông Lê Minh C - tại ấp B, xã B, tỉnh Đồng
Tháp.
3
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản mở phiên họp - hòa giải,
trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Hợp H trình bày:
Nguốn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn Đ (thường gọi ông 7 Đ1) ở xã B
chuyển nhượng cho (bà Tư T2) trú tại xã B trước năm 2005 thời gian nào ông
không biết cụ thể, và gia đình bà Tư T2 đã xây bó nền xung quanh kiên cố và cất
nhà ở trên đất.
Đến năm 2005 thì ông nhận chuyển nhượng lại phần đất trên của gia đình bà
(T) thuộc thửa số 746, tờ bản đồ số 6, diện tích 149m
2
(đất ở nông thôn) và thửa số
2753, tờ bản đồ số 6, diện tích 100m
2
(đất trồng cây lâu năm) tại ấp B, xã B, tỉnh
Đồng Tháp đến ngày 23/02/2005 ông Trần Hợp H được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định.
Khi ông nhận chuyển nhượng, thì phần đất này hiện trạng xung quanh của 02
thửa đất, đã được bà Tư T2 xây bó nền có đà kiền và tường gạch xung quanh, trên
đất bà Tư T2 có xây dựng căn nhà cấp 4, mặt tiền (Hướng N) giáp đường nhựa
Quốc lộ C, phía sau hậu (Hướng Bắc) giáp thửa số 35 của ông C. Phần đất của ông
phía sau hậu giáp thửa số 35 của ông C từ mí tường gạch xây bó nền ra khoảng
60cm x 9,36m = 5,616m
2
thì ông để đất trống, mục đích để chống tràn giọt nước
mưa.
Do đó, hiện nay ông không thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh C;
vì phần đất tranh chấp diện tích đo đạc thực tế ngang 0,80m x dài 9,355m = 7,5m
2
(tính tròn số) theo Sơ đồ đo đạc ngày 29/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký
đất đai khu vực XIX - Đồng Tháp và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
29/4/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp trong phạm vi các mốc
(mốc M3, M4, M9, M10 về M3) thuộc quyền sử dụng đất của ông tại thửa số 746
và thửa số 2753, tờ bản đồ số 6, quyền sử dụng đất cấp ngày 23/02/2005 tên Trần
Hợp H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị V trình bày: Bà thống
nhất theo lời trình bày của ông H (chồng bà), bà không thống nhất yêu cầu khởi
kiện của ông Lê Minh C, vì phần diện tích đo đạc thực tế 7,5m
2
(nêu trên) là thuộc
quyền sử dụng đất của vợ chồng bà.
* Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, các đương sự (ông C và ông H)
thống nhất nếu bên nào không được Tòa án chấp nhận yêu cầu, thì bên đó sẽ chịu
chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét
xử tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng
pháp luật.
Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên có ý kiến: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ
được thể hiện trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Lê Minh C đối với ông Trần Hợp H là phù hợp theo quy định tại Điều
4
31 Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024 và Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015
sửa đổi, bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nội dung tranh
chấp giữa các đương sự làm phát sinh “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử
dụng đất”. Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp thụ lý giải quyết là đúng quy
định pháp luật về thẩm quyền được quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
lời khai nhận của các đương sự và trình bày tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở xác
định:
[2.1] Xét thấy, theo đơn khởi kiện của ông Lê Minh C yêu cầu vợ chồng ông
H liên đới giao trả phần đất lấn chiếm ranh giới diện tích đo đạc thực tế 7,5m
2
trong
phạm vi các mốc (mốc M3, M4, M9, M10 về M3) theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất
tranh chấp ngày 29/4/2025 thuộc một phần thửa số 35, tờ bản đồ số 83, quyền sử
dụng đất cấp ngày 01/10/2019 tên Lê Minh C, tại ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp là có
cơ sở chấp nhận.
Bởi vì, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn
phòng Đăng ký đất đai khu vực XIX - Đồng Tháp cung cấp đối với phần đất thuộc
thửa số 35, tờ bản đồ số 83, diện tích 216m
2
(đất trồng cây lâu năm) quyền sử dụng
đất cấp ngày 01/10/2019 tên ông Lê Minh C. Thể hiện tại Phiếu xác nhận kết quả
đo đạc hiện trạng thửa đất và Trích lục bản đồ địa chính, phạm vi diện tích đang
tranh chấp đo đạc thực tế 7,5m
2
trong phạm vi các mốc (mốc M3, M4, M9, M10 về
M3) là thuộc một phần thửa số 35, tờ bản đồ số 83, quyền sử dụng đất cấp ngày
01/10/2019 tên Lê Minh C, phù hợp với kích thước cạnh (1,77m) trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ông C được cấp, thể hiện tại Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất
tranh chấp từ mốc (M3, M4, M5 = 1,77m) là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với thực
tế và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Đối với quyền sử dụng đất của ông Trần Hợp H thuộc thửa số 746 và thửa số
2753, tờ bản đồ số 06, tổng diện tích là 249m
2
; đối chiếu với Sơ đồ đo đạc hiện
trạng đất tranh chấp giữa ông C và ông H do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai
khu vực XIX - Đồng Tháp đo vẽ ngày 29/4/2025 và Biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ ngày 29/4/2025 của Tòa án, thể hiện thửa số 746 và thửa 2753, tờ bản đồ số
06 có tổng diện tích đo đạc thực tế 291,4m
2
trong phạm vi các mốc (M1, M2, M3,
M10 về mốc M1) so với diện tích trên quyền sử dụng đất ông H được cấp tổng diện
tích là 249m
2
, thì hiện nay diện tích đo đạc thực tế đã vượt cao hơn diện tích quyền
5
sử dụng đất của ông H là 42,4m
2
. Do đó, không có căn cứ chấp nhận ý kiến phản
bác của ông H, về việc yêu cầu diện tích 7,5m
2
(đất trồng cây lâu năm) đang tranh
chấp thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Hợp H là phù hợp theo quy định pháp
luật.
Xét thấy, lời khai nại của ông H cho rằng khi ông nhận chuyển nhượng đất
của bà Tư T2, thì phần đất nền phía sau hậu bà Tư T2 có chừa lại phần đất trống, từ
mí tường gạch xây bó nền trở ra 0,6m (0,6m x 9,36m = 5,616m
2
) là không phù hợp
thực tế. Vì trên thực tế thì chủ đất là ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Văn T đã
xây đà kiền bó nền phần thửa số 35 kiên cố, thể hiện đầu đà kiền giáp với tường
gạch bó nền nhà bà Tư T2 và hiện nay vẫn còn, điều này thể hiện ranh giới quyền
sử dụng đất của ông Đ tới mí tường gạch nhà của ông H nên mới được xây bó nền
theo hiện trạng như hiện nay. Đối với việc ông H trình bày trước đây bà Tư T2 xây
bó nền còn chừa lại diện tích phía sau hậu là không phù hợp với lời khai của anh
Nguyễn Văn T (con ông 7 Đ1) xác định khi nhận chuyển nhượng đất thì bà Tư T2
đã xây bó nền hết phạm vi diện tích nhận chuyển nhượng, còn chiều dài thửa đất
của bà T2 thực tế ngắn hơn những người giáp ranh, là do bà T2 nhận chuyển
nhượng chiều dài thửa đất ít hơn người khác theo thỏa thuận.
[2.2] Từ phân tích và nhận định trên, có đủ cơ sở xác định phần đất tranh
chấp diện tích đo đạc thực tế 7,5m
2
theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp
ngày 29/4/2025 trong phạm vi các mốc (mốc M3, M4, M9, M10 về M3) là thuộc
quyền sử dụng đất của ông Lê Minh C.
Do đó, có đủ cơ sở xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Minh
C và ông Trần Hợp H giáp nhau tại thửa số 35, tờ bản đồ số 83 và thửa số 746, thửa
số 2753, tờ bản đồ số 06 là một đường thẳng từ mốc M10 đến M3, chiều dài 9,36m
(theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu
vực XIX - Đồng Tháp và Biên bản xem xét, thẩm định của Tòa án ngày 29/4/2025).
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Minh C và ông Trần Hợp H được
sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên
lấn chiếm ranh giới quyền sử dụng đất phải được tháo dỡ, di dời theo quy định của
pháp luật.
[3] Về chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là
3.507.500đ (Ba triệu năm trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng) do ông C đã nộp tạm
ứng và chi xong.
Do ông H không được chấp nhận yêu cầu, nên ông H phải chịu toàn bộ chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3.507.500đ là phù hợp theo quy định. Do đó, buộc
ông H có trách nhiệm giao nộp số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
3.507.500đ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp để hoàn trả lại
cho ông Lê Minh C theo quy định.
Ông Lê Minh C được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, nên không phải chịu tiền
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; do đó, ông C được nhận lại số tiền đã nộp tạm
6
ứng chi phí xem xét, thẩm định là 3.507.500đ tại Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 11 - Đồng Tháp do ông Trần Hợp H giao nộp.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên: Về nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tiền chi phí tố tụng dân sự
sơ thẩm theo quy định;
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 và Điều 157, 229 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung;
Căn cứ Điều 31 Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024; Điều 175 Bộ luật
dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.
Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh C đối với ông Trần Hợp H và
bà Vũ Thị V, về việc yêu cầu điều chỉnh ranh giới quyền sử dụng đất, cụ thể như
sau:
1. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Minh C và ông Trần Hợp H, bà
Vũ Thị V tại thửa số 35, tờ bản đồ số 83 và thửa số 746, thửa số 2753, tờ bản đồ số
06 là một đường thẳng từ mốc M10 đến M3, nối liền các mốc từ M10 đến mốc M3
(chiều dài 9,36m) làm đường ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông C và ông H, bà
V (theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu
vực XIX - Đồng Tháp và Biên bản xem xét, thẩm định của Tòa án ngày 29/4/2025).
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông C và ông H, bà V được sử dụng theo
chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm
ranh giới quyền sử dụng đất phải được tháo dỡ, di dời theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hợp H phải chịu 3.507.500đ
(Ba triệu năm trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, buộc ông H có nghĩa vụ nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng
Tháp để hoàn trả lại cho ông Lê Minh C theo quy định.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Hợp H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Minh C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, nên được nhận
lại số tiền nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai thu ký hiệu BLTU/26E, số 0002309 ngày 06/02/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Tháp.
7
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Tháp; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND KV11 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu VP và hồ sơ vụ án.
Phạm Thành T
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 213/2026/DS-ST Bản án số 213/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/DS-ST Bản án số 213/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất