Bản án số 61/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 61/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 61/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cao Bằng
Số hiệu: 61/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 61/2026/DS-PT Bản án số 61/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 61/2026/DS-PT Bản án số 61/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 61/2026/DS-PT
Ngày: 29/9/2026
V/v Tranh chấp QSD đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thụ
Các thẩm phán: Ông: Vi khánh Dần
Bà: Tô Thị Thùy Ngân
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Trưng – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Cao
Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: bà Mã Thị
Mộng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 60/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng 8
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 83/2026/QĐXXPT-DS ngày 25 tháng 8 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa
ngày 07/9/2026; Quyết định xét xử lần 2 ngày 17/9/2026 của Toà án nhân tỉnh Cao
Bằng giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nông Thị T - sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường
T, tỉnh Cao Bằng; Có mặt .
Bị đơn: Ông Nông Ích N, (đã chết),
Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nông Ích N:
1. Bà Nông Thị N1 (vợ ông N)
2. Bà Nông Thị Thanh H (con)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng (có đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt).
3. Bà Nông Thị T1 (con) - sinh năm 1974. Có mặt
4. Bà Nông Thị Kim L (con) - sinh năm 1972. Có mặt
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nông Thị N1, Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng. (có đơn
xét xử vắng mặt).
2. Bà Lương Thị V - sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh
Cao Bằng. Vắng mặt
3. Ông Lương Minh C - sinh năm: 1991. Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh
Cao Bằng. Vắng mặt
4. Bà Sầm Thị L1, có mặt.
5. Ông Trương Văn D, có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng.
6. Ông Sầm Văn K, vắng mặt
7. Bà Phan Thị M, vắng mặt
Cùng địa chỉ: TDP Đề Thám 1, phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng
8. Trung tâm phát triển quỹ đất và giải phóng mặt bằng - Ủy ban nhân dân
phường T.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ban quản lý dự án đầu tư và xây
dựng phường T. Đại diện theo pháp luật: Ông Bế Anh T2 – Giám đốc. (có đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt).
9. Ủy ban nhân dân phường T; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T3
– Chủ tịch UBND. (có đơn giải quyết vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nông Thị N1: Ông Nông Văn
S - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nông Thị T: Bà Phạm Ngọc
A – Luật sư, Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Lục Hữu P, Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng.
2. Ông Nông Chấn Í; Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng.
3. Ông Nông Văn H1; Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng.
4. Ông Nguyễn Minh C1; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
5. Ông Nguyễn Thanh V1; Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng.
6. Ông Nguyễn Chí N2; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Cao Bằng.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/6/2020, đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2020, bản
tự khai ngày 05/8/2020, nguyên đơn bà Nông Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Lương Thị V, ông Lương Minh Công trình B:
Ông N có quan hệ họ hàng xa với chồng bà – ông Lương Minh C2 (chết năm
2006), chồng bà gọi ông N là cậu.
3
Diện tích đất tranh chấp khoảng 5.000m² (thuộc tổ E cũ phường S, thành phố
C) do chồng bà khai hoang từ năm 1979 – 1980 có các phía tiếp giáp: phía Đông giáp
đất ruộng ông N, đất ông Nông Văn N3; phía Tây giáp đất để mộ, đường lên bãi nghĩa
trang; phía Nam giáp đất ruộng, đất rẫy nhà ông B1, ông Ả (hiện nay hai ông đã
chuyển vào miền N sinh sống); phía Bắc giáp đất ông Trương Văn D. Sau khi khai
phá gia đình bà vẫn quản lý và sử dụng liên tục. Ngoài trồng lúa nương, hoa màu còn
trồng chè, cây thông và đất để mộ. Năm 2000, khi trồng cây thông do gia đình thiếu
nhân lực lao động nên đã thuê ông N trồng giúp. Vì vậy, mới có việc ông N có mặt
trên đất của gia đình bà để trồng cây thông.
Ngày 19/7/2002 chồng bà có đơn đề nghị đến UBND phường S và cơ quan có
thẩm quyền tiến hành đo vẽ, xem xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) ghi rõ thửa đất có các phía tiếp giáp, sơ đồ minh họa rõ ràng và xác
nhận của các hộ đất liền kề gồm ông Nông Ích N, ông Nông Văn N3, ông Trương
Văn D. Đơn này có xác nhận của 02 tổ dân phố và Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND)
phường S ông Nguyễn Minh C1. Trong đơn này, ông N cũng ký xác nhận khẳng định
phần đất này của gia đình bà.
Thời gian xảy ra tranh chấp vào năm 2008, 2009 khi gia đình bà lên chặt, tỉa
cây thông làm củi ông N đã chửi bới, ngăn cản và cho rằng phần đất trồng cây gia
đình bà đang canh tác, sản xuất là của ông N. Từ năm 2008 đến nay, gia đình bà đã
nhiều lần làm đơn gửi các cơ quan chức năng để xin cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên đều
bị ông N gây khó khăn cản trở. Hiện nay trên phần đất này, gia đình bà chôn cất phần
mộ của bố mẹ bà và một ngôi mộ khác.
Ngày 06/4/2015, gia đình bà được Trung tâm phát triển quỹ đất và giải phóng
mặt bằng thành phố mời đến để xác định và thống nhất về diện tích liên quan đến
công tác giải phóng để xây dựng công trình: Đường Q và Quốc lộ C đường tránh
thành phố C, diện tích thu hồi 72,1m² nằm trong phần diện tích 5.000m² đang tranh
chấp. Diện tích bị thu hồi gia đình bà đã được Trung tâm phát triển quỹ đất và giải
phóng mặt bằng thành phố đền bù vào năm 2015.
Ngày 23/8/2019, gia đình bà nhận được Văn bản số: 1564/UBND-TNMT của
UBND thành phố C về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân. Theo nội dung trả lời
của UBND thành phố, hợp đồng PAM của ông N cung cấp là có giá trị; “Vị trí trồng
rừng PAM thuộc lô 14, khoảnh A, tiểu khu B, diện tích trồng rừng là 4.969,45m²”,
căn cứ nội dung này lô 14 có rất nhiều chủ đất đang sử dụng.
Theo Kết quả kiểm kê rừng năm 2015 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết
định số: 349/QĐ-UBND ngày 21/3/2016, vị trí lô 14, khoảnh 1, tiểu khu B được quy
hoạch là đất rừng sản xuất và có mục đích sử dụng đất là mục đích khác không phải
đất để trồng rừng. Dựa vào các lí do trên, có thể khẳng định hợp đồng PAM ông N
cung cấp không trùng khớp với vị trí đất đang tranh chấp, vị trí và chức năng sử dụng
đất thực tế không đúng với bản đồ kiểm kê rừng đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt. Do đó, việc ông N tranh chấp phần đất bà đang quản lý, sử dụng là không có
căn cứ. Bà yêu cầu ông N trả lại phần diện tích 5.000m² địa chỉ tổ C, phường S, thành
phố C thuộc lô 14, khoảnh A, tiểu khu B.
4
Tại bản tự khai ngày 01/8/2020, ngày 01/8/2023, bị đơn ông Nông Ích N,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị N1 trình bày:
Năm 1998, gia đình ông khai phá được mảnh đất đồi diện tích khoảng 3.500m²
(K, thuộc phường S, thành phố C) cụ thể: phía Đông giáp đất bà Sầm Thị L1; phía
Tây giáp đất bà B1 và bãi tha ma (bà B1 đã vào miền N); phía Nam giáp đất ông
Lương Minh C2 (đã chết), vợ là Nông Thị T; phía Bắc giáp bãi tha ma, đất ông Sầm
Đăng L2.
Sau khi khai phá gia đình canh tác trồng cây sắn, tre, trám và sau này trồng
thông. Các hộ có đất liền kề với đất gia đình ông đều biết, nắm chắc và hiểu rõ về
nguồn gốc mảnh đất gia đình trong quá trình sử dụng không xảy ra tranh chấp. Năm
2000, thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, gia đình ông đã trồng
thông theo chương trình PAM (theo hợp đồng số 48/HĐTR ngày 18/6/2000). Cùng
thời điểm đó gia đình ông D bà L1, gia đình ông Nông Văn H1 cũng trồng thông. Đất
gia đình ông và gia đình ông H1 trồng thông có diện tích khoảng 1ha.
Qua xem xét diện tích đất của gia đình ông và gia đình ông H1 không có tranh
chấp, cán bộ phường S ông Phan Đình T4 và ông Lục Hữu P là đại diện phổ cập viên
đã thống nhất cung cấp giống cây thông cho gia đình ông trồng và chăm sóc.
Ngày 20/11/2000, Hội đồng nghiệm thu đã tiến hành lập biên bản nghiệm thu
trồng rừng PAM - 5322 và cấp sổ cấp phát lương thực số 996 ngày 04/10/2000. Gia
đình ông quản lý từ ngày trồng chăm sóc và bảo vệ đến khi cây phát triển thành rừng.
Năm 2001, bố đẻ bà T chết, ông C2 sang gặp trực tiếp ông xin chôn cất bố đẻ bà T
trên thửa đất và ông đồng ý.
Năm 2002, ông C2 làm giấy đề nghị UBND phường S cấp quyền sử dụng đất
và cho các chủ đất tiếp giáp ký xác nhận. Ông C2 đã vẽ sơ đồ lấn vào rừng cây thông
của gia đình ông và viết trong đơn đề nghị không đúng sự thật, âm mưu cướp đất và
rừng thông nên gia đình ông không đồng ý, không ký tiếp giáp. Sau khi ông C2 chết,
bà T cùng em chồng, con trai lên nhà ông mang theo một bình rượu. Lợi dụng ông
uống rượu say, tuổi đã cao, không đủ tỉnh táo, vợ con ông không có nhà, bà T đã đưa
tờ giấy đề nghị bảo ông ký xác nhận nên ông ký. Lợi dụng việc ông ký xác nhận bà T
cùng một số tên đầu gấu đến gia đình ông hăm doạ bắt gia đình ông chặt cây thông
để họ lấy đất theo sơ đồ do ông Chính tự vẽ sau thời điểm giao rừng PAM 5322 nhưng
gia đình ông không nhất trí.
Ngày 16/5/2009, bà T cùng 06 người đến chặt rừng cây của gia đình ông. Ông
đã báo ông V2 (tổ trưởng tổ 5), ông M1 (tổ trưởng tổ F), ông T1 (bí thư chi bộ tổ 6)
và Công an phường S đến can thiệp nhưng họ vẫn không dừng tay, đã chặt rất nhiều
cây dã hương, cây thông của ông. Bà T thuê người dùng cưa phá rừng thông, dựng
lán, chuyển số cây, đốt cháy sạch và tự ý cuốc xới đất trồng một số cây lên trên diện
tích đất rừng thông (đã bị chặt phá) của gia đình ông.
Thời điểm năm 2009, theo yêu cầu của Công an thị xã điều tra vụ việc chặt phá
rừng thông yêu cầu gia đình ông chứng minh quyền sử dụng lô đất và đồi thông nói
trên là của gia đình ông và giữ nguyên hiện trường. Trong quá trình Công an thị xã
điều tra gia đình ông đã cung cấp: Hợp đồng số 48/HĐTRPAM-5322 ngày 18/6/2000;
Biên bản nghiệm thu trồng rừng PAM-5322. Công an thị xã trả lời gia đình ông chưa
5
kết luận được đồi thông bị chặt phá là của ông hay của bà T vì ông và bà T đều tự
nhận đồi đó thuộc quyền sử dụng của mình. Trong khi các cấp chính quyền yêu cầu
giữ nguyên hiện trường trong quá trình điều tra giải quyết vụ việc bà T không thực
hiện mà còn có nhiều hành động phá hoại rừng thông của gia đình ông.
Gia đình ông đã trồng cây và sử dụng đất ổn định trong suốt 11 năm không ai
tranh chấp. Bà T lợi dụng sơ đồ ông C2 tự vẽ, thuê người đến gây sự, xúc phạm danh
dự gia đình, tranh chấp, chặt phá rừng cây của gia đình ông là trái pháp luật. Ông đề
nghị giải quyết dứt điểm vụ chặt phá rừng thông của gia đình ông và xử lý người vi
phạm theo đúng pháp luật và bồi thường thiệt hại thực tế cây đã bị chặt phá và trả lại
đất theo hiện trạng ban đầu.
Tại bản tự khai ngày 20/5/2025, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của ông Nông Ích N - bà Nông Thị Thanh H, Nông Thị T1, Nông Thị Kim L trình
bày:
Các bà là con gái của ông Nông Ích N, là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của ông N sau khi ông N chết. Tại các bản tự khai và lời khai tại các buổi hòa
giải ông N đã khai toàn bộ nội dung liên quan đến vụ việc tranh chấp và nêu yêu cầu
của mình về giải quyết tranh chấp. Các bà giữ nguyên lời khai và yêu cầu trước đây
ông N đã khai, không bổ sung thay đổi gì.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 10/3/2025, ngày 16/12/2025 người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn D và bà Sầm Thị L1 có ý kiến:
Qua xem xét sơ đồ trích đo địa chính thửa đất đang tranh chấp ông bà nhận
thấy diện tích đất 168,1m
2
(3,5m
2
+ 95m
2
+ 69,6m
2
) tại phần phía Đông của sơ đồ là
đất của ông bà đứng tên Trương Văn D. Phần đất này gia đình đã được cấp
GCNQSDĐ; chưa được bồi thường giải phóng mặt bằng hiện nay gia đình vẫn đang
quản lý, sử dụng. Ông bà yêu cầu được trả lại phần diện tích đất này.
Ông bà là hộ sử dụng đất liền kề, là người sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số
7 (bản đồ địa chính 1995). Tại sơ đồ thể hiện phần đất đang tranh chấp có lấn vào
thửa đất 84 diện tích 1,1m
2
. Ông bà xác định không yêu cầu giải quyết diện tích 1,1m
2
và đề nghị giữ nguyên theo hiện trạng quản lý sử dụng đất.
Tại văn bản đề ngày 29/10/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Sầm Văn K, bà Phan Thị M có ý kiến: Bà Nông Thị T là chủ sở hữu mảnh đất tại K
thuộc tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng (thời điểm trước đó thuộc tổ C, phường
S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) là nơi an nghỉ của con gái ông bà Sầm Thị N4 (chết
năm 2016). Do thời điểm con gái ông bà bị tai nạn giao thông, lúc tang gia bối rối
không tìm hiểu kỹ nên đã chôn cất nhầm con gái lên mảnh đất mà bà T là chủ sở hữu.
Sau đó, gia đình đã chủ động đến gặp gỡ gia đình bà T để nói chuyện và xin phép
được chôn cất con gái trên mảnh đất của bà. Bà T nhất trí cho gia đình ông bà chôn
cất phần mộ của con gái Sầm Thị N4 trên mảnh đất của bà và gia đình phải cam kết
di dời ngôi mộ khi gia đình bà T có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích khác; có nguyện
vọng được mua lại phần diện tích ngôi mộ của con gái để con gái được yên nghỉ
(không di dời).
Tại văn bản số: 2009/UBND-QĐMB ngày 15/9/2021 Ủy ban nhân dân thành
phố C có ý kiến: Phần đất diện tích 72,1m² (đang tranh chấp giữa bà Nông Thị T và
6
ông Nông Ích N) nằm trong phạm vi thu hồi đất dự án đường nối Quốc lộ C với Quốc
lộ D (tránh thị xã C), thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 01 (Bản đồ trích đo phục vụ
giải phóng mặt bằng địa phận phường S). Trong quá trình thực hiện thống kê kiểm
đếm đất đai, tài sản vật kiến trúc, cây cối, hoa màu trên đất có xảy ra tranh chấp giữa
gia đình ông (bà) Lương Minh C2 - Nông Thị T và gia đình ông (bà) Nông Ích N -
Nông Thị N1. Do đó, các thành viên Tổ công tác đã thống nhất với các gia đình và
thực hiện kiểm đếm hiện trạng đất đai, hoa màu trên thực địa, ghi nhận vào biên bản
kiểm đếm lập ngày 21/4/2011. Do hai gia đình vẫn chưa giải quyết được việc tranh
chấp, căn cứ vào số liệu trong Biên bản kiểm đếm ngày 24/11/2011, UBND thị xã C
(nay là UBND thành phố C) đã ban hành Quyết định số: 3429/QĐ-UBND về việc phê
duyệt dự toán bồi thường, giải phóng mặt bằng xây dựng công trình: Đường nối QL3
với QL4A (tránh thị xã C) - Đợt 20; Địa phận: Phường T, phường S, thị xã C trong
đó tổng giá trị đã phê duyệt đối với thửa đất đang tranh chấp là 801.768 đồng (cụ thể
bồi thường về đất - 72,1m² đất rừng) có giá trị 726.768 đồng; bồi thường hoa màu (5
cây tre) có giá trị 75.000 đồng.
Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt, UBND thị xã vẫn chưa
thực hiện chi trả khoản tiền bồi thường này do phần đất trên chưa giải quyết xong
tranh chấp, chưa xác định được chủ sử dụng (trong bảng dự toán ghi rõ đất tranh chấp
giữa Lương Minh C2 - Nông Thị T với Nông Ích N -Nông Thị N1).
Ngày 06/4/2015 Trung tâm phát triển quỹ đất và giải phóng mặt bằng thành
phố đã mời gia đình bà Nông Thị T lên làm việc để thống nhất các nội dung liên quan
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng công trình: Đường nối QL3 với
QL4A (tránh thị xã C). Tại buổi làm việc gia đình bà T nhất trí cho đơn vị thi công
tiến hành thi công công trình đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ 01, diện tích 72,1m² và
số tiền bồi thường với thửa đất đó sẽ tiến hành giải quyết sau.
Tại văn bản số: 432/UBND-QĐMB ngày 17/02/2025 Ủy ban nhân dân thành
phố C có ý kiến: Đối với phần diện tích 170,6m² (trong đó 72,1m² đất tranh chấp giữa
gia đình ông (bà) Nông Ích N - Nông Thị N1 và gia đình ông (bà) Lương Minh C2 -
Nông Thị T và 98,5m
2
mang tên ông Trương Văn D - Sầm Thị L1):
Đối với phần diện tích 72,1m² nằm trong phạm vi thu hồi đất dự án Đường N
với Quốc lộ C (tránh thị xã C) thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 01 (Bản đồ trích đo
phục vụ giải phóng mặt bằng địa phận phường S). UBND thành phố đã có công văn
số 2009/UBND-QĐMB ngày 15/9/2021 cho ý kiến đối với phần diện tích này. Đề
nghị Tòa án căn cứ theo nội dung công văn số: 2009/UBND-QĐMB ngày 15/9/2021
để thực hiện các nội dung tiếp theo.
Đối với phần diện tích 98,5m²: Nằm trong phạm vi thu hồi đất dự án Đường
nối Quốc lộ D với Quốc lộ C (Tránh thị xã C) thuộc một phần của thửa đất số 06, tờ
bản đồ số 01 (Bản đồ trích đo phục vụ giải phóng mặt bằng địa phận phường S). Phần
diện tích này đã được thống kê, kiểm đếm ngày 22/04/2011 cho ông (bà) Trương Văn
D - Sầm Thị L1. Sau đó được UBND thị xã C (nay là UBND thành phố C) phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 3429/OD-UBND ngày 24/11/2011.
Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt UBND thành phố đã thực hiện
chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho ông Trương Văn D - Sầm Thị L1 vào ngày
05/02/2013.
7
Tại công văn số: 1046/UBND-KTHTĐT ngày 23/10/2025, Ủy ban nhân dân
phường T có ý kiến: Tại Công văn số: 592/CV-TA ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Cao Bằng nêu ông Nông Ích N có hợp đồng số: 48/HĐTR-PAM ngày
18/6/2000 thuộc lô 06 (không có khoảnh) từ tháng 06/2000 đến tháng 9/2000 thực
hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc gia đình ông đã trồng rừng (thông)
theo chương trình PAM, tuy nhiên do tài liệu không được gửi theo công văn nên
UBND phường T chưa có cơ sở để kiểm tra và nhận định. Trong trường hợp tài liệu
trên không được xác định là giấy tờ theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024 thì
việc xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng cần có thời gian thực hiện lấy ý
kiến dân cư và niêm yết công khai theo quy định.
Căn cứ Quyết định số: 411/QĐ-UBND ngày 08/4/2025 của UBND tỉnh C về
việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thành phố C: diện
tích đất tranh chấp 5.560,5m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45, bản đồ địa chính
năm 2018 phường S nằm trong quy hoạch khu A (N34). Theo sổ mục kê đất đai, thửa
đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính 2018) không có tên chủ sử dụng đất.
Việc xác định chủ rừng được xác định dựa trên quyết định giao đất, giao rừng
của cấp có thẩm quyền, do đó việc theo danh sách lô kiểm kê của chủ rừng nhóm 1
ghi nhận “lô 14, khoảnh 1, tiểu khu B, diện tích 1,46 ha, trạng thái rừng DKH, mục
đích sử dụng: MDK; lô 22, khoảnh A, tiểu khu B, diện tích 6,25ha, trạng thái rừng
RTG, mục đích sử dụng: SXGN” chủ rừng là UBND không đủ cơ sở để xác định chính
xác chủ sử dụng đất đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm
2024 mà được xác định dựa trên quyết định giao đất, giao rừng của cấp có thẩm quyền.
Tại công văn số: 317/BQL-GPMB ngày 02/12/2025, Ban quản lý dự án phường
T có ý kiến: Ban quản lý dự án phường T nhất trí với các nội dung trả lời của Trung
tâm phát triển quỹ đất và giải phóng mặt bằng thành phố C tại công văn số: 49/QĐMB-
GPMB ngày 14/02/2025 và không bổ sung thêm ý kiến gì.
Tại biên bản xác minh ngày 29/9/2023, Hạt Kiểm lâm thành phố C có ý kiến:
Hạt Kiểm lâm thành phố không có bản đồ giấy hiện trạng rừng 2015. Qua rà soát
kiểm tra trên phần mềm chuyên ngành xác định được lô 14, khoảnh 1, tiểu khu B
thuộc quản lý của UBND phường S, không có tên người sử dụng, nằm trong ranh giới
quy hoạch 3 loại rừng theo Quyết định số: 415/QĐ-UBND ngày 31/3/2015 của
UBND tỉnh C, mục đích sử dụng chính: rừng sản xuất; mục đích sử dụng là mục đích
sản xuất khác, diện tích 1,46ha.
Tại công văn số 77/TL-HKL ngày 05/6/2024, Hạt Kiểm lâm thành phố C có ý
kiến: Căn cứ để Hạt Kiểm lâm thành phố kết luận trong biên bản làm việc số 01/BB-
LAMVIEC ngày 25/4/2019 thửa đất tranh chấp giữa gia đình ông N và gia đình bà T
có vị trí nằm trong diện tích 01ha đất ông Nông Ích N trồng rừng PAM là căn cứ vào
Hợp đồng trồng rừng PAM số: 48/HĐTR-PAM ngày 05/4/2000 của ông Nông Ích N
do Đoàn điều tra quy hoạch rừng tỉnh Cao Bằng thiết kế. Thành phần tham gia làm
việc ngày 25/4/2019 có ông P, ông Í, bà D1 đều công nhận ông N trồng rừng PAM
tại vị trí trên và được nhận gạo theo dự án PAM. Tại hiện trường vẫn còn sót lại 03
cây thông đường kính 30cm và một số cây keo, cho thấy cây thông đã được trồng từ
lâu, phù hợp với trình bày của ông Nông Ích N có trồng rừng PAM vào những năm
8
2000 và nhận gạo của dự án PAM. Hạt Kiểm lâm thành phố C phải là cơ quan thực
hiện dự án nên không có hồ sơ lưu giữ về các dự án.
Tại biên bản làm việc ngày 05/5/2026, Hạt Kiểm lâm K2 có ý kiến: Căn cứ sơ
đồ trích đo địa chính thửa đất do Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng cung cấp
liên quan đến vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nông Thị T và ông Nông
Ích N qua đối chiếu với bản đồ hiện trạng rừng phường T năm 2025 theo quyết định
số: 142/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 về việc công bố hiện trạng rừng phường T năm
2025, vị trí đất tranh chấp thuộc lô 14, khoảnh A, tiểu khu B, chủ quản lý UBND
phường, chức năng rừng sản xuất.
Tại công văn số 1574/SNN-VP ngày 24/6/2024, Sở N9 có ý kiến: Qua kiểm tra
tài liệu hồ sơ được lưu trữ năm 2000 toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Hợp đồng
trồng rừng giữa Ban quản lý dự án PAM 5322 thị xã C với gia đình ông Nông Ích N
không có bản lưu tại kho lưu trữ của Sở.
Tại công văn số 1573/VPĐKĐĐ-PĐKCG ngày 02/12/2025, Văn phòng đăng
ký đất đai – Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh C có ý kiến: GCNQSDĐ số CK
184177 do Sở T (nay là Sở N) cấp ngày 08/12/2017 thửa đất số 136, tờ bản đồ số 7
được cấp đổi từ giấy chứng nhận số phát hành N 891856 do UBND tỉnh C ngày
27/3/2000 được thực hiện đúng theo trình tự quy định.
Tại biên bản xác minh ngày 18/7/2024, người làm chứng ông Lục Hữu P trình
bày: Ông sinh năm 1940, nguyên là phổ cập viên của dự án PAM - 5322 giai đoạn
2000 thực hiện việc kiểm tra chất lượng cây giống cấp cho hộ trồng rừng PAM, cấp
gạo và kiểm tra sự phát triển của cây giống PAM đã cấp. Ông là người trực tiếp cấp
cây giống và kiểm tra sự phát triển của cây giống cho ông Nông Ích N. Căn cứ theo
sổ cấp phát lương thực ông cấp cây giống cho ông N. Sau khi kiểm tra việc phát triển
của cây giống đạt chất lượng để nghiệm thu, ông tham gia cùng thành phần nghiệm
thu cây giống và cấp đủ gạo theo biên bản nghiệm thu cho ông N. Bản thân ông chỉ
là phổ cập viên nên không tham gia vào việc xác định ranh giới các phần đất được
cấp theo hợp đồng PAM mà việc xác định ranh giới này theo ông được biết thành lập
hội đồng có đầy đủ thành phần để xác định ranh giới của các hộ trồng rừng PAM. Đối
với các hộ được trồng rừng PAM trong đó có hộ ông N đều được cấp hợp đồng trồng
rừng PAM và có sổ cấp phát lương thực. Nguồn gốc đất đang tranh chấp là đất hoang
được ông N khai phá nằm hoàn toàn trong diện tích đất ông N được cấp theo hợp
đồng trồng rừng PAM năm 2000.
Ông N được cấp cây giống và trồng thông lấy nhựa. Theo ông biết ngoài hợp
đồng trồng rừng PAM các hộ trồng rừng PAM còn được cấp quyết định giao đất. Khi
ông trực tiếp giao cây giống cho ông N ông được ông N và cơ quan chức năng chỉ
(xác định) ranh giới đất ông N trồng rừng PAM. Bản thân ông khi giao cây giống cho
các hộ trồng rừng PAM không được giao hồ sơ thiết kế lô khoảnh liên quan đến phần
đất ông N trồng rừng PAM. Ông được biết bà T tự ý chặt phá cây của ông N đã trồng
theo hợp đồng PAM. Việc chặt cây của bà T đã bị Công an thị xã C lập biên bản vào
thời điểm đó. Phần đất ông N trồng PAM có các hộ giáp ranh: ông Sầm L2, bãi tha
ma, ông S1, ông H1 (bà N5). Theo ông đất đang tranh chấp là của ông N khai phá
nằm trong hợp đồng PAM ông N được cấp năm 2000 và ông N đã được nghiệm thu,
9
cấp phát lương thực theo thực tế và sổ cấp phát lương thực được cấp đối với ông N
trồng rừng PAM (có biên bản kèm theo).
Tại biên bản làm việc ngày 02/8/2024, người làm chứng Nông Văn H1 trình
bày: Ông sinh năm 1944, trước đây ông là quyền chủ nhiệm hậu cần trung đoàn 694
đóng tại Cao Bằng. Khi ông đang là chủ nhiệm hậu cần ông Lương Minh C2 – chồng
bà T đang là cơ yếu của trung đoàn F. Theo ông được biết, khi ông C2 còn làm cơ
yếu ông C2 đã khai phá một phần diện tích đất đang tranh chấp. Sau đó, ông C2
chuyển về công tác tại cửa khẩu S4. Ông C2 giao lại phần đất đã khai phá cho ông N
sử dụng. Thời điểm đó ông N đang công tác tại trung đoàn F – là trợ lý vận động quần
chúng. Sau khi ông N được ông C2 giao lại phần đất ông C2 khai phá ông N tiếp tục
khai phá thêm một phần đất nữa lên phía trên phần đất ông C2 khai phá. Đến khoảng
năm 1997, khi có dự án PAM - 5322 ông N đã thực hiện trồng PAM trên diện tích đất
ông C2 khai phá và phần đất ông N khai phá. Qua thông tin ông được biết ông C2 có
làm đơn xác nhận nguồn gốc đất và mang cho ông N ký, ông N đã ký vào đơn này
trong tình trạng không minh mẫn do sử dụng rượu. Sau đó, dựa vào đơn xác nhận
nguồn gốc đất của ông C2 nên bà T cho rằng phần đất đang tranh chấp là đất của ông
C2 và bà T đã chặt toàn bộ cây thông ông N đã trồng theo dự án PAM, sự việc đã
được Công an thị xã C lập biên bản. Đối với các hộ giáp ranh với phần đất tranh chấp
gồm ông Trương Văn D, ông Nông Văn N3, bà Nông Thị B1 (đã chết). Theo ông
phần đất đang tranh chấp có một phần đất của ông C2, một phần đất của ông N. Ông
xác định ông không có đất giáp ranh với phần đất đang tranh chấp. Trước đây giữa
phần đất đang tranh chấp và phần đất ông Sầm Đăng L2 đang sử dụng có 01 hào rộng
khoảng 01m.
Tại biên bản xác minh ngày 27/01/2024, người làm chứng ông Nông Chấn Í
trình bày: Ông sinh năm 1940 tại địa bàn tổ C, phường S từ năm 1995 đến nay. Theo
ông được biết, phần đất đang tranh chấp giữa ông Nông Ích N và bà Nông Thị T nằm
trong phần đất ông N khai phá và tăng gia một thời gian. Thời điểm ông C2 còn làm
bí thư đảng ủy phường S do là họ hàng (ông C2 gọi ông N là cậu) nên khi ông C2 có
nhu cầu trồng trọt ông C2 đã xin ông N một phần đất để canh tác. Ông N do tin tưởng
nên đã cho ông C2 mượn đất để canh tác (trồng khoai sọ) trên đất. Ông xác nhận phần
đất ông C2 mượn của ông N thuộc đất đang tranh chấp giữa bà T và ông N. Thời điểm
nhà nước có chủ trương trồng rừng PAM - 5322 để phủ xanh đồi núi trọc ông N đã
ký hợp đồng trồng rừng PAM với Nhà nước. Ông được biết ông N đã cho toàn bộ đất
rừng của ông N (trong đó có phần đất đang tranh chấp) vào hợp đồng trồng rừng PAM
để lấy gạo về ăn. Bản thân ông không biết tại sao bà T lại xảy ra tranh chấp đất đai
với ông N.
Tại biên bản xác minh ngày 11/7/2025, người làm chứng ông Nguyễn Thanh
V1 – nguyên cán bộ kỹ thuật dự án PAM 5322 của UBND thị xã C cho biết: Dự án
PAM - 5322 bắt đầu thực hiện từ khoảng năm 2000 là kết thúc dự án. Theo ông được
biết khi xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án Ban quản lý dự án thông báo về nội
dung hồ sơ và dự án PAM 5322 đến các hộ dân đang có đất, có nhu cầu trồng rừng
theo dự án. Thủ tục để được tham gia dự án PAM - 5322 là các hộ dân có đất, có nhu
cầu trồng rừng theo dự án phải có đơn xin tham gia dự án, có quyết định giao đất của
Hạt Kiểm lâm thành phố, có bản thiết kế trồng rừng. Sau khi đầy đủ các giấy tờ thủ
10
tục trên các hộ dân được xét duyệt mới được dự án cấp cây giống để trồng cây. Dự án
PAM - 5322 theo ông được biết có hồ sơ thiết kế trồng rừng, có sơ đồ kèm theo (tại
sơ đồ thể hiện tên hộ, diện tích được giao đất, số lô, số khoảnh). Việc biên tập, thực
hiện sơ đồ theo dự án được Ban quản lý dự án thực hiện xem xét, đo đạc tại thực địa,
có sự tham gia chỉ trực tiếp ranh giới của các hộ được giao đất và đồng thời có sự
tham gia của đại diện UBND xã phường nơi hộ dân được cấp đất (xác định bằng sự
chỉ của các hộ dân). Tại biên bản nghiệm thu trồng rừng PAM - 5322 năm 2000 ngày
28/11/200 tại rừng trồng hộ gia đình ông Nông Ích N ông nằm trong ban nghiệm thu.
Biên bản nghiệm thu trồng rừng này thực hiện theo thực tế, nghiệm thu tại thực địa.
Sau khi nghiệm thu xong Ban Quản lý dự án dự vào kết quả nghiệm thu để cấp gạo
cho các hộ thực hiện dự án PAM.
Tại biên bản xác minh ngày 10/12/2025, người làm chứng ông Nguyễn Chí N2
trình bày: Ông và ông Lương Minh C2 làm cùng trung đoàn 694 đóng quân ở khu vực
dốc giao giữa Đề T5 và Sông H. Khoảng năm 1983-1984, ông C2 (chồng bà T) tranh
thủ nghỉ thứ 7, chủ nhật tự khai phá một phần đất nhỏ (khoảng 100m
2
) có một bụi tre
ở phía trước. Sau khi khai phá ông C2 chỉ trồng được một vụ khoai lang sau đó cho
ông N trông giúp. Ông cũng khai phá được một phần đất gần phần đất đang tranh
chấp (cách một khoảng đất ông H1). Ông N cũng tự khai phá được một khoảng đất
khá rộng (không biết chính xác bao nhiêu m
2
chỉ biết khoảng 2000m
2
, sau đó có nghe
nói ông N mua thêm ruộng). Theo ông phần đất ông C2, ông N khai phá thuộc đất
quốc phòng do bộ đội đóng quân ở đó. Theo ông được biết đất ông C2 khai phá là
phần nhỏ, không trồng cây chỉ có phần đất diện tích lớn của ông N là trồng PAM.
+ Ông Lương Minh Công trình B: Nguồn gốc đất tranh chấp do bố ông – ông
Lương Minh C2 khai phá. Trong đơn xác nhận nguồn gốc đất ngày 19/07/2002 của
bố ông có chữ ký của các hộ giáp ranh, thể hiện ý chí của người ký đặc biệt có xác
nhận của UBND phường S. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N đưa ra chứng cứ
là hợp đồng PAM, ông đề nghị xem xét hợp đồng PAM có đúng với diện tích trồng
PAM không. Theo danh sách lô kiểm kê của chủ rừng nhóm I phường S, thành phố
C năm 2015, đất tranh chấp thuộc lô 14, khoảnh 1 tiểu khu B, diện tích 1,46ha do
UBND phường T quản lý. Theo kết luận của UBND phường đã trả lời lô này không
thuộc quyền sử dụng của ông N. Liên quan đến diện tích 168,1m
2
ông Trương Văn D
cho rằng đất tranh chấp đang lấn vào và yêu cầu trả lại ông không nhất trí với yêu cầu
của ông D. Trên đất đang tranh chấp hiện nay có cây và 03 ngôi mộ trong đó 02 ngôi
mộ ông bà ngoại ông, còn lại là mộ của con gái ông Sầm Văn K. Số tiền bồi thường
801.768 đồng thu hồi diện tích đất 72,1m
2
gia đình ông không yêu cầu nhận. Quá
trình giải quyết vụ án, bị đơn chỉ sai lệch vị trí đất tranh chấp, phần đất tranh chấp
trên bản đồ không giáp đất ông D mà giáp đất nhà ông. Tứ cận này khác so với tứ cận
gia đình ông N đã trình bày tại các văn bản. Đất đang tranh chấp không giáp đất ông
Sầm Đăng L2 mà giáp bãi tha ma, đường dân sinh (đã bỏ hoang 24 năm không canh
tác). Ông nhất trí với diện tích đất tranh chấp (theo nét xanh) 4.827,4m
2
– (16,6m
2
–
34,8m
2
– 9,2m
2
– 21,3m
2
) = 4.745,5m
2
sau khi xem xét thẩm định tại chỗ ngày
22/01/2026 và yêu cầu ông N trả lại diện tích đất này.
+ Bà Lương Thị V trình bày: Toàn bộ đất đang tranh chấp do bố bà – ông
Lương Minh C2 khai phá năm 1979 với diện tích khoảng 5000m
2
được chứng minh
11
bởi giấy đề nghị có xác nhận của hộ giáp ranh, ông N và UBND phường S. Do có
quan hệ họ hàng nên gia đình bà thuê ông N trồng thông trên đất tranh chấp. Diện tích
trồng rừng PAM ông N trồng thông không liên quan đến đất tranh chấp. Năm 2000,
gia đình bà trồng khoảng 600 cây thông nhưng không thuộc dự án PAM. Năm 2009,
giữa hai gia đình không có tranh chấp xảy ra do ông N vu khống gia đình bà thuê
người chặt cây thông. Những cây thông đã chặt năm 2009 trên đất của gia đình bà là
của gia đình bà. Hiện nay trên đất có các cây lấy gỗ, bạch đàn, thông, tai tượng (các
cây này trồng từ lâu khoảng năm 2001-2002) và 03 ngôi mộ (mộ của ông bà ngoại bà
và ngôi mộ của nhà ông K - nhất trí cho giữ nguyên). Diện tích đất đang tranh chấp
không liên quan đến ông Sầm Đăng L2. Việc ông N đưa ra chứng cứ hợp đồng PAM
số 48 ngày 18/6/2000 là cơ sở để chứng minh mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu của
mình bộc lộ nhiều điểm gian dối. Hợp đồng PAM thể hiện có 1ha =10.000m
2
, quy
cách trồng thông cây cách cây 2m, hàng cách hàng 2m. Trong đơn đề nghị gửi UBND
phường S ngày 19/5/2009 ông N khai có 2.500m
2
đất lại có 2.500 cây thông 9 tuổi
trong khi đó hợp đồng PAM - 5322 có diện tích trồng thông là 1ha = 10.000m
2
như
vậy có hợp lý không. Thực tế mảnh đất bố bà khai phá khoảng 5.000m
2
. Nếu giả sử
chiều dài và chiều rộng đều nhau (dài 70,5m x rộng 70,5m) diện tích đất gần 5.000m
2
.
Theo ông N tự nhận ông có 2.500m
2
thì theo quy cách mật độ trồng là 2.500cây/1ha
cây cách cây 2m, hàng cách hàng 2m như trong hợp đồng thể hiện 2.500m
2
của ông
N chỉ trồng được 625 cây thông trong khi đó ông N khai khống ký kết hợp đồng PAM
- 5322 có diện tích 1ha với số lượng cây thông là 2.500 cây tại khu vực N trong khi
đó mảnh đất gia đình bà thuộc khu vực K. Hợp đồng PAM - 5322 năm 2000 ông N
đưa ra nhằm mục đích chứng minh mảnh đất đó là của mình vậy sao ông lại xác nhận
thửa ruộng của mình tiếp giáp với mảnh đất của gia đình bà trong đơn đề nghị bố bà
lập ngày 19/7/2002. Việc ông N tự nhận toàn bộ số đất của gia đình bà đang quản lý,
sử dụng khoảng 5000m
2
trong buổi xác định ranh giới đất đai do Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố C tổ chức ngày 26/7/2018, ông lại tự nhận mình có khoảng 3500m
2
trong mảnh đất mà gia đình bà đang quản lý, sử dụng trong phiên họp kiểm tra việc
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải do Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng tổ
chức ngày 06/8/2020. Như vậy, bản thân ông chưa xác định được mảnh đất của mình
có diện tích chính xác là bao nhiêu. Bà nhất trí với diện tích đất tranh chấp (theo nét
xanh) 4.827,4m
2
– (16,6m
2
– 34,8m
2
– 9,2m
2
– 21,3m
2
) = 4.745,5m
2
sau khi xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 22/01/2026 và yêu cầu ông N trả lại diện tích đất này.
+ Bà Nông Thị Kim L (con ông N) trình bày: Nguồn gốc đất đang tranh chấp
do bố bà khai phá năm 1998 có xác nhận của ông Sầm Đăng L2, ông Nguyễn Chí N2,
ông Nông Văn H1, ông Lục Hữu P, ông Hoàng Văn V3, ông Nông Văn N3, bà
Nguyễn Hồng D1. Bố bà có Hợp đồng trồng rừng PAM năm 2000. Khi trồng cây theo
dự án PAM gia đình được đi chỉ đất để trồng cây. Gia đình bà đã trồng cây trên toàn
bộ diện tích đất tranh chấp. Gia đình bà không có quyết định giao đất, giao rừng. Các
hộ xung quanh như gia đình ông H1 cũng trồng rừng PAM (có hợp đồng trồng rừng)
nhưng không biết có quyết định giao đất, giao rừng không. Ngoài trồng theo dự án
PAM, gia đình bà không trồng theo dự án khác. Gia đình nguyên đơn có một phần đất
tại đất tranh chấp. Phần đất phía trên của ông N khai phá, còn một mảnh nhỏ của gia
đình ông C2. Theo sơ đồ trích đo địa chính, diện tích đất ông C2 khai phá là 745,4m
2
.
12
Tranh chấp phát sinh năm 2009 khi bà T chặt phá cây và bố bà đã làm đơn đến UBND
phường. Tại biên bản xác định sự việc năm 2009 xác định số cây bị chặt là 2.352 cây.
Từ khi có sự việc chặt cây thông năm 2009, theo biên bản làm việc tại UBND phường
S gia đình đã giữ nguyên hiện trạng không trồng cây trên đất. Hiện tại trên đất chỉ có
tre; 03 cây thông, nhóm cây thông năm 2000 trồng còn sót lại nếu nhìn từ ruộng lên
bên trái, 03 mộ (02 mộ của bố mẹ bà T do ông C2 sang đặt vấn đề chôn cất với bố bà,
một ngôi mộ không biết của ai). Bà không có ý kiến theo danh sách lô kiểm kê của
chủ rừng nhóm I phường Sông H, thành phố C năm 2015, phần tranh chấp thuộc lô
14, khoảnh 1 tiểu khu B, diện tích 1,46ha do UBND phường T quản lý. Đối với số
tiền bồi thường thu hồi diện tích đất 72,1m
2
bà không yêu cầu. Các ngôi mộ trên đất
bà cũng không yêu cầu di dời. Bà nhất trí với diện tích đất tranh chấp (theo nét xanh)
nguyên đơn đã xác định là 4.827,4m
2
– (16,6m
2
– 34,8m
2
– 9,2m
2
– 21,3m
2
) =
4.745,5m
2
sau khi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/01/2026 và không nhất trí yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Bà Nông Thị T1, Nông Thị Thanh H (con ông N) trình bày: Bà cũng nhất trí
với ý kiến nội dung trình bày của bà L.
+ Ông Nguyễn Minh C1 trình bày: Ông và ông Lương Minh C2, ông Nông Ích
N cùng là đồng đội, chỉ quen biết nhau qua công tác hậu cần cho đơn vị của ông C2
và ông N. Năm 1982-1985, ông công tác tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, sau đó điều về
Trường Quân sự tỉnh. Khu vực đất đang tranh chấp hầu hết là của Bộ chỉ huy quân sự
tỉnh quản lý dùng để các đại đội huấn luyện quân sự. Khoảng năm 1985, các đơn vị
giải thể đất này được tạm giao cho một số hộ dân đều công tác ở bộ đội trong đó có
hộ ông C2, ông N, bà D1 (ông N6), ông Nguyễn N2, ông H1 ở. Thời điểm đó ông C2
chưa có nhà, ông N6 và ông N2 có nhà. Sau đó, ông chuyển công tác nên không biết
quá trình sử dụng như thế nào. Ông chỉ biết dự án PAM khoảng năm 1995, tuy nhiên
ông không biết phần đất giao cho ai để trồng PAM. Tại đơn xin xác nhận đề ngày
19/7/2002 của ông C2 có xác nhận của ông năm 2008 do thời điểm đó ông đang là
Chủ tịch UBND phường S. Thời điểm ông làm chủ tịch từ năm 2004 đến tháng
9/2009, ông C2 làm bí thư Đảng ủy phường S. Trước khi xác nhận ông được cùng
ông C2, ông N đến thực địa; ông C2 và ông N chỉ tứ cận tiếp giáp. Ngoài ông N, ông
và ông C2, không có ai khác tham gia. Tại đơn xác nhận, ông B2 là tổ trưởng, ông T7
là khối trưởng phụ trách khối 1A. Ông xác nhận ông C2 có khu đất tại tổ E, phường
S để làm thủ tục tính toán đền bù cho gia đình theo quy hoạch do khi đó đất tại khu
vực này không thể làm được bìa đỏ. Ông xác nhận để nếu có dự án nào thì lấy đó làm
căn cứ cho gia đình.
+ Ông Lục Hữu P trình bày: Đất đang tranh chấp quy hoạch theo khu G nhưng
không ai ở, chỉ có ông N, ông N2 ở. Năm 2001, ông là Chủ tịch Hội Nông dân, là phổ
cập viên làng PAM có 25 hộ, có bản đồ quy hoạch cụ thể trong đó có hộ ông N. Ông
là phổ cập viên trực tiếp phát cây giống và gạo cho các gia đình nằm trong quy hoạch
PAM. Năm 1998, phường S thực hiện dự án PAM, ông đôn đốc, giám sát các gia đình
nhận cây, trồng đúng quy định, phát gạo cho 3 năm, đảm bảo số cây trên diện tích đất
còn sống. Gia đình ông N được giao 1ha, 2000 cây, khoảng cách trồng các cây 2m.
Đất quy hoạch trồng rừng PAM do đoàn quy hoạch Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn giao, khi giao có tên trên bản đồ, có quyết định giao đất của UBND thị xã
13
C cho hộ cá nhân. Bản đồ quy hoạch trồng rừng PAM có đất ông H1, ông N liền nhau,
không có đất của ông C2.
Vụ án đã được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải đối thọai nhưng không
thành vì các bên không thỏa thuận được nội dung giải quyết tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2026/DS-ST ngày 26/6/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 1 – Cao Bằng đã quyết định: Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều
273 (sửa đổi, bổ sung 2025); Điều 5, Điều 26, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều
166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị T đối với
bị đơn ông Nông Ích N. Bà Nông Thị T được quyền quản lý sử dụng diện tích 745,4m²
thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45, diện tích 10.723,6m
2
(bản đồ địa chính năm 2019)
tại tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ dân phố S, phường T, tỉnh
Cao Bằng).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nông Ích N
(bà Nông Thị N1, bà Nông Thị T1, bà Nông Thị Kim L, bà Nông Thị Thanh H) được
quản lý sử dụng diện tích 4.000,1m
2
thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45, diện tích
10.723,6m
2
(bản đồ địa chính năm 2019) tại tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao
Bằng (nay là tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng).
Tứ cận tiếp giáp phần đất nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng như sau:
- Phía Đông giáp diện tích đất 4.000,1m
2
những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của bị đơn ông Nông Ích N được quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 5, tờ
bản đồ số 45 (bản đồ địa chính năm 2019).
- Phía Tây giáp diện tích đất 4.000,1m
2
những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của bị đơn ông Nông Ích N được quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 5, tờ
bản đồ số 45 (bản đồ địa chính năm 2019).
- Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa
chính 2019); một phần đất ông Nông Ích N.
- Phía Bắc giáp diện tích đất 4.000,1m
2
những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của bị đơn ông Nông Ích N được quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 5, tờ
bản đồ số 45 (bản đồ địa chính năm 2019).
Tứ cận tiếp giáp phần đất những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
bị đơn ông Nông Ích N được quyền quản lý, sử dụng như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 84, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính 1995) nay là
một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính 2019).
- Phía Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa
chính 2019).
- Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa
chính 2019); một phần đất ông Nông Ích N.
14
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa
chính 2019).
(Có sơ đồ trích đo địa chính thửa đất kèm theo)
Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trương Văn D và bà Sầm Thị L1 yêu cầu trả lại diện tích 168,1m² thuộc thửa đất số
136, diện tích 790m
2
, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính 1995) nay là thửa đất số 4, diện
tích 926,6m
2
, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính 2019) địa chỉ tổ dân phố S, phường
T, tỉnh Cao Bằng do rút yêu cầu.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy định của
pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu di dời 03 ngôi mộ của những người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Ích N trên diện tích đất 4000,1m
2
thuộc
thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính năm 2019) tại tổ C, phường S, thành
phố C, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng), những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Ích N được quyền quản lý, sử dụng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án
phí và quyền kháng cáo của các bên theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị
đơn không kháng cáo bản án; Ngày 09/7/2026 nguyên đơn Nông Thị T kháng cáo và
yêu cầu xét xử lại toàn bộ bản án, làm rõ các chứng cứ tài liệu mà nguyên đơn cung
cấp, đặc biệt quy định về dự án trồng rừng PAM, và giá trị pháp lý của hợp đồng này
mà ông N tự ý ký kết khi không có quyết định giao đất giao rừng, diện tích, địa chỉ
không trùng khớp với thực địa, quy cách trồng thông không đúng, làm rõ sự gian dối
và hủy bỏ giá trị pháp lý của Hợp đồng PAM - 5322 mà ông N7 đưa ra làm căn cứ
chứng minh quyền sử dụng đất, bổ sung vào quá trình giải quyết tranh chấp và công
nhận quyền sử dụng đất của Nông Thị T.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị đơn và người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng.
Nguyên đơn, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, sửa bản án sơ thẩm số 75/2026/DS-ST ngày 26/6/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 1 – Cao Bằng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nông Thị N1 trình
bày và đề nghị: Bà Nông Thị T và người thừa kế của ông Lương Minh C2 yêu cầu
được quản lý, sử dụng và công nhận, đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích
khoản 5.000m² đang tranh chấp theo sơ đồ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp kèm
theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/10/2024 là hoàn toàn không có căn
cứ pháp luật bởi các lý do sau:
15
Thửa đất đang tranh chấp chưa được cấp GCNQSDĐ, chưa được đăng ký kê
khai quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai theo kết quả xác minh ngày 21/9/2023. Nguyên
đơn không có giấy tờ pháp lý nào thể hiện mình là chủ sử dụng đất được Nhà nước
giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp. Nguyên đơn
không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất tranh chấp theo quy định
tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2024 đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân không
có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Theo lời khai của nguyên đơn, của người làm chứng,
giấy đề nghị ngày 19/7/2002 của ông C2 chỉ tự khai và tự nhận nguồn gốc là khai phá
từ năm 1979 nhưng không chứng minh việc sử dụng đất ổn định, liên tục, lâu dài;
trong đó gia đình ông Nông Ích N là người đang sử dụng đất để trồng thông.
Tại đơn đề nghị ngày 06/8/2018 của bà T ghi là đơn đề nghị về việc làm rõ
nguồn gốc đất đai (chứ không làm rõ được thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định, liên
tục, ai là người trực tiếp đang quản lý, sử dụng đất vào thời điểm đăng ký kê khai,
thời điểm bắt đầu tranh chấp). Nguyên đơn chỉ có chứng cứ là lời khai và xác nhận
của người làm chứng về nguồn gốc đất do gia đình ông C2 và bà T khai phá, tuy nhiên
khai phá diện tích bao nhiêu, ranh giới, mốc giới đến đâu, quá trình quản lý sử dụng
đất ổn định liên tục lại không có căn cứ. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2024,
điều kiện cấp GCNQSDĐ ngoài điều kiện về nguồn gốc đất (căn cứ xác lập quyền sử
dụng đất) còn phải có quá trình quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục, lâu dài.
Ngược lại ông N và người thừa kế của ông N có chứng cứ chứng minh là chủ
sử dụng đất rừng đang tranh chấp với diện tích theo kết quả thẩm định tại chỗ là phần
đất có cây thông gia đình ông Nông Ích N đã bị chặt 2.653,2m² + 1.764,7m² =
4.417,9m² và là người đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ đối với phần đất gia đình đã quản
lý, sử dụng đó là: Theo lời khai của ông N và lời khai của những người làm chứng là
chủ sử dụng đất liền kề, những người cao tuổi sinh sống ổn định lâu dài gần khu đất
đang tranh chấp xác nhận gia đình ông N bắt đầu sử dụng đất đang tranh chấp từ năm
1998, sử dụng một phần đất của ông C2 khai phá giao lại cho sử dụng và sử dụng đất
tự khai phá mở rộng thêm lên phía trên và xung quanh thửa đất của ông C2 đã khai
phá từ trước.
Ông N có các chứng cứ chứng minh gia đình ông là người đang sử dụng đất ổn
định tại thời điểm đất bị tranh chấp đó là hợp đồng trồng rừng PAM; biên bản nghiệm
thu trồng rừng PAM, biên bản xác minh ông Nguyễn Thanh V1 - nguyên cán bộ kỹ
thuật dự án PAM; biên bản xác minh tại Hạt Kiểm lâm thành phố xác nhận: Thửa đất
đang tranh chấp có vị trí nằm trong diện tích 01 ha đất ông N trồng rừng theo hợp
đồng trồng rừng PAM - 5322 năm 2000. Các chứng cứ trên chứng minh được gia đình
ông N là người sử dụng đất để trồng, chăm sóc, bảo vệ cây thông trên đất. Tại thời
điểm gia đình ông N bắt đầu sử dụng đất năm 1998, thửa đất trên là đất chưa có ai
đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ, do đó việc sử dụng đất của gia đình ông N không
phải là sử dụng đất do lấn chiếm trái pháp luật (Chứng cứ là số mục kê của phường S
thể hiện thửa đất đang tranh chấp là một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 45, tờ bản đồ
địa chính năm 2019 không có tên người đăng ký quản lý, sử dụng đối với thửa đất số
05). Như vậy, gia đình ông N có căn cứ về nguồn gốc sử dụng đất là đất khai hoang
chưa có chủ, bắt đầu sử dụng đất ổn định liên tục để trồng cây sa mộc và trồng thông
trên phần đất đang tranh chấp từ năm 1998 đến năm 2009 bị chặt phá và tranh chấp,
16
là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất vào thời điểm tranh chấp đủ điều kiện
cấp GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2024.
Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn Nông Thị T và người thừa kế của ông C2 về việc yêu cầu được sử dụng
toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp. Buộc bà T và người thừa kế của ông C2 không
được tranh chấp, cản trở, xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của bà N1 là
người thừa kế hợp pháp của ông N với diện tích mà gia đình ông N đã sử dụng đất để
trồng thông.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên thực hiện
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại khoản 1, 4 Điều 157, Điều 158
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật sư Phạm Ngọc
A trình bày và đề nghị:
Tranh chấp giữa bà Nông Thị T và phía ông Nông Ích N liên quan đến diện
tích đất khoảng 5.000 m² tại khu vực đồi K, trước đây thuộc phường S, thành phố C;
ông N cho rằng diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất ông N trồng rừng theo
Dự án PAM-5322. Hợp đồng trồng rừng PAM thể hiện ông Nông Ích N nhận trồng
01 ha rừng tại khu vực N. Biên bản làm việc của cơ quan Kiểm lâm ngày 25/4/2019
xác định diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích 01 ha đất ông Nông Ích N trồng
rừng PAM và xác định diện tích 4.969,45 m². Đây là tài liệu có ý nghĩa quan trọng
trong việc xem xét nguồn gốc và quyền sử dụng đất trong vụ án. Tuy nhiên, theo các
tài liệu phía nguyên đơn cung cấp, khu đất tranh chấp được xác định tại đồi Khau
Slung. Đặc biệt, nguyên đơn hiện đã tìm thấy bản gốc Giấy thỏa thuận ngày
11/4/2008, trong đó có chữ ký của ông Nông Ích N và nội dung ghi nhận khu đất
khoảng 5.000 m² tại Khau Slung là của ông C2 - chồng bà Nông Thị T. Ngoài ra, hồ
sơ kê khai đất năm 2002 của ông Lương Minh C2 cần được đối chiếu với vị trí, ranh
giới đất tranh chấp và nội dung xác nhận của các hộ giáp ranh. Cần làm rõ: khu vực
“Nà Cáp” ghi trong Hợp đồng trồng rừng PAM và khu vực “đồi Khau Slung” ghi
trong các tài liệu về đất của gia đình bà T có phải là cùng một khu vực hay không;
nếu không hoàn toàn trùng nhau thì có, chồng lấn ở đâu và diện tích bao nhiêu. Đồng
thời căn cứ tài liệu gốc nào đã được cơ quan Kiểm lâm sử dụng để kết luận diện tích
đất tranh chấp tại Khau Slung nằm trong diện tích 01 ha đất trồng rừng PAM của ông
N tại N. Việc xác định chính xác các vấn đề trên có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đánh
giá giá trị chứng minh của Hợp đồng PAM, Biên bản Kiểm lâm năm 2019 và giải
quyết quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp.
Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ, xác minh, thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài
liệu và bổ sung chứng cứ tại cấp phúc thẩm, đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu
thập các tài liệu, chứng cứ sau đây:
17
1. Đối với UBND cấp xã/phường hiện đang quản lý địa bàn có khu đất tranh
chấp và cơ quan chuyên môn quản lý hồ sơ địa chính: Vị trí, phạm vi địa lý của khu
vực Nà C3 và đồi Khau Slung qua các thời kỳ, đặc biệt tại các thời điểm năm 2000,
2002, 2008 và 2019; Nà Cáp và Khau S có phải là hai tên gọi của cùng một địa điểm
hay không; nếu không phải cùng một địa điểm thì hai khu vực có chồng lấn với nhau
hay không; Trường hợp có sự thay đổi tên gọi, địa giới, tổ dân phố hoặc đơn vị hành
chính thì cung cấp tài liệu thể hiện quá trình thay đổi; Xác định trên bản đồ địa chính,
bản đồ địa giới hành chính hoặc tài liệu quản lý nhà nước khác vị trí của khu vực N
và đồi Khau Slung; Xác định khu đất đang tranh chấp trong vụ án hiện nay thuộc địa
danh nào; Cung cấp bản sao bản đồ, sơ đồ, sổ mục kê, hồ sơ địa chính hoặc tài liệu
khác có khả năng xác định vị trí, ranh giới của hai khu vực nói trên. Đề nghị cơ quan
chuyên môn nêu rõ căn cứ tài liệu, bản đồ và hồ sơ quản lý nhà nước được sử dụng
để đưa ra ý kiến, không chỉ xác nhận chung theo tên gọi địa phương.
2. Đối với cơ quan Kiểm lâm: Hợp đồng trồng rừng PAM và hồ sơ gốc liên
quan; Hồ sơ thiết kế lô, khoảnh được dẫn chiếu trong Hợp đồng PAM; Bản đồ, sơ đồ
thiết kế trồng rừng PAM; Hồ sơ giao, nhận hoặc chỉ giao đất ngoài thực địa cho hộ
ông Nông Ích N, nếu có; Biên bản nghiệm thu trồng rừng và các tài liệu thể hiện vị
trí, ranh giới diện tích trồng rừng; Tọa độ, dữ liệu GPS, bản đồ nền và các dữ liệu kỹ
thuật được sử dụng khi xác minh ngày 25/4/2019; Các tài liệu khác được sử dụng để
xác định vị trí 01 ha đất PAM của ông Nông Ích N.
Căn cứ tài liệu nào để xác định diện tích đất tranh chấp tại Khau Slung nằm
trong diện tích 01 ha đất PAM ghi địa điểm tại N? Tại thời điểm xác minh năm 2019,
cơ quan Kiểm lâm có hồ sơ, bản đồ, tọa độ hoặc tài liệu nào xác định được ranh giới
diện tích 01 ha PAM tại thời điểm năm 2000 hay không? Việc sử dụng thiết bị G 650
năm 2019 nhằm đo tọa độ hiện trạng khu đất tranh chấp hay nhằm xác định lại ranh
giới khu đất PAM năm 2000? Nếu không có bản đồ, tọa độ hoặc hồ sơ giao đất ngoài
thực địa của Dự án PAM thì căn cứ và phương pháp nào được sử dụng để kết luận
khu đất tranh chấp nằm trong diện tích PAM của ông Nông Ích N? Việc ông Nông
Ích N ký Hợp đồng trồng rừng PAM thể hiện việc nhận trồng rừng hay còn có hồ sơ
khác thể hiện việc được giao quyền sử dụng đất đối với diện tích 01 ha; nếu có, đề
nghị cung cấp tài liệu.
3. Đối với hồ sơ “Giấy xác nhận đất khai phá” của ông Nông Ích N lập năm
2010: Đề nghị Tòa án yêu cầu U hiện đang lưu trữ hồ sơ cung cấp toàn bộ hồ sơ gốc
liên quan đến Giấy xác nhận đất khai phá do ông Nông Ích N lập năm 2010 đối với
diện tích khoảng 3.500 m² tại khu vực K, bao gồm: giấy xác nhận; tài liệu xác minh
nguồn gốc và quá trình sử dụng đất; sơ đồ vị trí, tứ cận; bản đồ; biên bản kiểm tra
hiện trạng; ý kiến của tổ dân phố/khu dân cư; tài liệu thể hiện việc chính quyền địa
18
phương xác nhận và toàn bộ tài liệu kèm theo (nếu có). Đề nghị cơ quan đang quản
lý hồ sơ cho biết căn cứ nào được sử dụng để xác nhận nội dung trình bày của ông
Nông Ích N trong tài liệu năm 2010; việc xác nhận của chính quyền chỉ xác nhận chữ
ký, tình trạng sử dụng thực tế hay có xác nhận về nguồn gốc, vị trí và quyền sử dụng
đất. Xác định trên bản đồ vị trí diện tích mà ông Nông Ích N kê khai năm 2010 và đối
chiếu với diện tích 01 ha tại Nà Cáp trong Hợp đồng PAM năm 2000; diện tích khoảng
5.000 m² tại Khau Slung trong Giấy thỏa thuận năm 2008; Diện tích 4.969,45 m² được
cơ quan Kiểm lâm xác định năm 2019; và diện tích 4.000,1 m² mà Bản án sơ thẩm
tuyên cho ông Nông Ích N, nếu có chồng lấn, đề nghị xác định vị trí và diện tích
chồng lấn cụ thể.
Đề nghị triệu tập người có thẩm quyền quản lý đất đai tại địa phương tham gia
phiên tòa để giải thích về địa danh, hồ sơ địa chính, bản đồ và quá trình thay đổi địa
giới, tên gọi tại khu vực có đất tranh chấp. Đồng thời, đề nghị triệu tập cán bộ Kiểm
lâm trực tiếp tham gia việc xác minh, đo đạc hoặc lập Biên bản ngày 25/4/2019 để
làm rõ phương pháp và căn cứ xác định khu đất tranh chấp nằm trong diện tích PAM
của ông N. Trường hợp cần thiết, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành hoặc yêu cầu cơ
quan chuyên môn đối chiếu, chồng ghép các bản đồ, sơ đồ và dữ liệu không gian qua
các thời kỳ để xác định chính xác vị trí diện tích 01 ha tại Nà Cáp ghi trong Hợp đồng
PAM; khu đất khoảng 5.000m² tại K được thể hiện trong các tài liệu của gia đình ông
Lương Minh C2; và diện tích đất hiện đang tranh chấp.
Việc ông N có tham gia trồng thông và việc xác định hiện trạng khu đất bằng
GPS năm 2019 không tự thân giải quyết được câu hỏi về vị trí, ranh giới của diện tích
01 ha được ghi nhận trong hồ sơ PAM từ năm 2000. Mặt khác, hiện nay nguyên đơn
xuất trình bản gốc Giấy thỏa thuận ngày 11/4/2008 có chữ ký của ông Nông Ích N,
trong đó ghi nhận khu đất khoảng 5.000m² tại K là của ông C2. Tài liệu này cần được
đánh giá cùng với hồ sơ kê khai năm 2002, Hợp đồng PAM và các tài liệu địa chính
để xác định khách quan nguồn gốc, vị trí đất tranh chấp. Do hồ sơ PAM, bản đồ địa
chính, hồ sơ địa giới và dữ liệu chuyên môn trên đang do các cơ quan nhà nước quản
lý, bà T không tự mình thu thập đầy đủ, đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập theo quy định
pháp luật.
Ngoài ra, Giấy xác nhận đất khai phá năm 2010 thể hiện ông Nông Ích N kê
khai xác nhận diện tích khoảng 3.500 m² tại K. Tài liệu này cần được đối chiếu với
Hợp đồng PAM 01 ha tại N, Giấy thỏa thuận năm 2008 và Biên bản Kiểm lâm năm
2019 để xác định liệu các tài liệu có cùng chỉ một khu đất hay không và lý do có sự
khác nhau đáng kể về diện tích.
Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng chấp nhận yêu cầu thu thập, xác minh
bổ sung tài liệu, chứng cứ; hồ sơ địa chính cung cấp tài liệu, bản đồ và có văn bản xác
19
định về vị trí giữa Nà C3 và Khau S2; Yêu cầu cơ quan Kiểm lâm cung cấp toàn bộ
hồ sơ làm căn cứ cho Biên bản ngày 25/4/2019 và có văn bản giải trình căn cứ xác
định đất tại K nằm trong diện tích PAM tại N;
Việc thu thập các tài liệu trên có ý nghĩa trực tiếp đến việc đánh giá chứng cứ,
xác định nguồn gốc, vị trí và quyền sử dụng đất của các bên; kính đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét, giải quyết trước khi quyết định nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công
thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ việc; thời hạn chuẩn
bị xét xử đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội
đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng
từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm chuẩn bị xét xử đã chấp hành đúng, đầy đủ
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc giải quyết vụ án dân sự
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Nguyên đơn
bà Nông Thị T cho rằng diện tích đất đang tranh chấp khoảng 5.000m² là do năm 2000
gia đình bà thuê ông Nông Ích N trồng cây thông và từ đó ông N chiếm đất của gia
đình nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh nội dung trên. Theo Hợp đồng số 48/HĐTR-PAM ngày 18/6/2000, bị
đơn ông N là người được giao trồng rừng, đến ngày 20/11/2000 Hội đồng đã nghiệm
thu và ông N được cấp sổ phát lương thực.
Theo biên bản xác định vị trí đất trồng rừng PAM ngày 25/4/2019 của Hạt
Kiểm lâm thành phố C kết luận: thửa đất đang tranh chấp giữa gia đình ông N và bà
T có vị trí nằm trong diện tích 01 ha đất trồng rừng PAM theo Hợp đồng 48/HĐTR-
PAM ngày 18/6/2000, diện tích thực tế là 4.969,45m². Ngoài ra, việc ông N trồng cây
được thực hiện vào năm 2000, thời điểm đó không xảy ra tranh chấp với các hộ giáp
ranh và các hộ có đất xung quanh, trong đó có gia đình bà T, đến năm 2009 mới xảy
ra sự việc cây trồng trên diện tích đất tranh chấp bị chặt và tranh chấp đất giữa gia
đình bà T và gia đình ông N.
Theo sơ đồ trích đo địa chính thửa đất, diện tích đất tranh chấp (sau khi trừ đi
diện tích bị giải phóng mặt bằng và các ngôi mộ trên đất) là 4.745,5m², những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn N đều xác định trong diện tích đất tranh
chấp có 745,4m² là của gia đình nguyên đơn khai phá, quản lý và sử dụng.
Quá trình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ xác định nguyên đơn cũng có
quá trình khai phá, quản lý và sử dụng một phần diện tích đất trong tổng diện tích đất
tranh chấp. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà T.
20
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đều xác định địa danh Khau S2
và Nà C3 là cùng một vị trí.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông
Trương Văn D và bà Sầm Thị L1, trước khi mở phiên tòa ông D bà L1 có đơn rút yêu
cầu độc lập nên Cấp sơ thẩm đã đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông D và bà L1.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn Nông Thị T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 75/2026/DS-St
ngày 26/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – cao Bằng;
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp
nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến trình bày của các đương sự,
quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2020, bà Nông Thị T yêu cầu ông Nông Ích N
trả lại diện tích 5.000m² địa chỉ: tổ C, phường S, thành phố C. Đây là vụ án tranh chấp
về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng) được quy định tại khoản 9
Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2025).
[1.2]. Tư cách tham gia tố tụng, sự vắng mặt của các đương sự:
+ Tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã
xác định đúng tư cách của các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nông Thị N1, ông Sầm Văn K, bà Phan Thị M, Ban Quản lý dự án đầu tư
và xây dựng phường T, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C, UBND phường T có yêu
cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[1.3]. Về đơn yêu cầu ngày 15/8/2020 của bị đơn ông Nông Ích N.
Ngày 15/8/2020, ông N có đơn đề nghị yêu cầu nguyên đơn bồi thường chặt
phá cây thông. Ông N đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu bà T bồi thường số tiền chênh
lệch giá trị tài sản tương ứng với số tiền 14.269.600 đồng theo giá trị do Hội đồng
định giá tài sản ngày 21/10/2009 của UBND thị xã C cụ thể là 28.593.200 đồng là
tiền tính được từ 35,674m³ x 800.000đ/m³ năm 2020. Tuy nhiên, ngày 11/9/2020 ông
N có đơn xin rút đơn và sẽ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại việc bà T chặt cây
bằng một vụ án khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[1.4]. Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trương Văn D, bà Sầm Thị L1
21
Tại sơ đồ trích đo địa chính khu đất đề tháng 10/2024 thể hiện diện tích đất
tranh chấp lấn vào đất của ông D, bà L1 là 168,1m
2
(3,5m
2
+ 95m
2
+ 69,6m
2
). Tại
biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 10/3/2025, ông D, bà L1 xác định diện tích
đất 168,1m
2
tại phần phía Đông của sơ đồ là đất của ông bà đứng tên Trương Văn D
đã được cấp GCNQSDĐ; chưa được bồi thường giải phóng mặt bằng hiện nay gia
đình vẫn đang quản lý, sử dụng. Do vậy, ngày 10/3/2025 ông D, bà L1 có đơn yêu
cầu độc lập yêu cầu trả lại diện tích đất 168,1m
2
này.
Tại sơ đồ trích đo địa chính thửa đất ngày 15/12/2025 Trung tâm điều tra, đo
đạc, quy hoạch tài nguyên nông lâm nghiệp đã lồng ghép bản đồ địa chính 1995 lên
sơ đồ trích đo địa chính thửa đất. Qua lồng ghép bản đồ địa chính 1995 xác định được
ông D quản lý, sử dụng thửa đất số 84, diện tích 897m
2
(loại đất: đất màu). Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng đã tiến hành xác minh với Văn phòng đăng ký đất
đai – Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định được thửa đất số 84, tờ bản đố số 7
(bản đồ địa chính 1995) tại sổ mục kê đất đai phường S tên người sử dụng là “Trương
Văn R”, diện tích 897m
2
, loại đất: đất màu. Thửa đất 84, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa
chính 1995) nay là một phần của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính
2019).
Qua xác minh cũng xác định được, tại khu vực đất tranh chấp ông D, bà L1
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh
C) cấp GCNQSDĐ số CK 184177 ngày 08/12/2017 đối với thửa đất số 136, diện tích
790m
2
, tờ bản đồ số 7. Thửa đất số 136, diện tích 790m
2
, tờ bản đồ số 7 là thửa đất số
4, tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính 2019). GCNQSDĐ số CK 184177 được cấp đổi
từ giấy chứng nhận số phát hành N 891856 do UBND tỉnh C ngày 27/3/2000. Thửa
đất 136 chưa được cấp đổi GCNQSDĐ theo bản đồ địa chính 2019. Hiện nay, chưa
có chỉnh lý biến động, chưa đăng ký thế chấp.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/12/2025, ông D và bà L1 xác
định ông bà là người sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính 1995).
Tại sơ đồ thể hiện phần đất đang tranh chấp lấn vào thửa đất 84 diện tích 1,1m
2
. Ông
bà xác định không yêu cầu giải quyết diện tích 1,1m
2
và đề nghị giữ nguyên theo hiện
trạng quản lý sử dụng đất.
Như vậy, qua việc xác minh thu thập tài liệu chứng cứ có thể nhận thấy ông D,
bà L1 đã có sự nhầm lẫn vị trí thửa đất khi có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Ngày
16/12/2025, ông D rút đơn yêu cầu độc lập nên cần đình chỉ.
[2]. Về nội dung vụ án
[2.1]. Vị trí, diện tích thửa đất
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/10/2024 xác định thửa đất
tranh chấp theo bản đồ địa chính 1995 thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 6; theo bản
đồ địa chính 2019 thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45. Diện tích đất nguyên đơn xác
định là 5.388,9m
2
, có tứ cận tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp đất ông Trương Văn D2.
- Phía Tây giáp đất chưa xác định được chủ sở hữu.
- Phía Nam giáp ruộng ông Nông Ích N và ông Nông Văn N3.
22
- Phía Bắc giáp đường lên mộ (nghĩa địa).
Diện tích đất bị đơn chỉ là 4.636,9m
2
, có tứ cận tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp đất ông Trương Văn D2.
- Phía Tây giáp đất chưa xác định được chủ sở hữu.
- Phía Nam giáp đất bà Nông Thị T, một phần đất ông Nông Ích N và một phần
đất ông Nông Văn N3.
- Phía Bắc giáp đường lên mộ (nghĩa địa).
Tài sản, vật kiến trúc trên đất gồm:
+ 03 ngôi mộ: 01 ngôi mộ chôn cất năm 2017 (mộ chưa sang tiểu); 01 ngôi mộ
đất mang tên Nông Văn T6 chôn cất năm 2001 (mộ chưa sang tiểu); 01 ngôi mộ đất
mang tên Lò Thị Í1 chôn cất năm 2020 (mộ chưa sang tiểu).
+ Một số cây keo, cây thông, cây ăn quả. Các đương sự thống nhất nếu trường
hợp Tòa án tuyên phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý và sử dụng của ai thì người
đó được quyền quản lý, sử dụng định đoạt các cây trên đất.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/01/2026: Tiến hành đo đạc lại
phần tiếp giáp với đất ông Sầm Đăng L2 đang sử dụng.
Về tài sản trên đất: Nguyên đơn xác định trên diện tích đất nguyên đơn xác định
có 03 ngôi mộ đã được thể hiện tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ trước đó. Đối
với cây cối trên đất nguyên đơn không đề nghị kê khai.
Diện tích tranh chấp xác định là 4.827,4m
2
– (16,6m
2
+ 34,8m
2
+ 9,2m
2
+
21,3m
2
) = 4.745,5m
2
.
Bà Nông Thị Kim L – người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nông
Ích N có đơn trình bày đề ngày 24/6/2026 gửi Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng
xác định đồng nhất với vị trí đất tranh chấp nguyên đơn xác định ngày 22/01/2026
(đường nét màu xanh) và xác nhận trong diện tích đất này gia đình nguyên đơn có
745,4m
2
đất do giữa hai gia đình đã có ranh giới rõ ràng, nguyên đơn có quá trình
quản lý, sử dụng. Tại phiên tòa ngày 26/6/2026, nguyên đơn vẫn giữ nguyên những ý
kiến này.
Việc xác định diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất theo bản đồ địa chính
1995 và bản đồ đất rừng.
Tại sơ đồ trích đo địa chính khu đất đề tháng 10/2024 thể hiện thửa đất tranh
chấp theo bản đồ địa chính 1995 thuộc thửa đất số 33, diện tích 17.690m
2
, tờ bản đồ
số 6. Qua xác minh tại Văn phòng Đ – Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định được
thửa đất số 33, diện tích 17.690m
2
, tờ bản đồ số 6 tại sổ mục kê đất đai phường S
1995 mang tên Hoàng Thị N8 chưa được cấp GCNQSDĐ.
Tại sơ đồ trích đo địa chính thửa đất đề ngày 15/12/2025, đề tháng 01/2026 thể
hiện thửa đất tranh chấp theo bản đồ địa chính 1995 thuộc thửa đất số 67, tờ số 01,
diện tích 298.686m
2
. Thửa đất số 33 không còn thể hiện tại bản vẽ đề ngày
15/12/2025, đề tháng 01/2026 do khi tiếp biên bản đồ có sự sai lệch về tọa độ (thửa
đất số 33 được xác định theo bản đồ địa chính Sông H tỷ lệ 1/1000). Thửa đất số 67,
tờ số 01, diện tích 298.686m
2
được thể hiện trên bản vẽ thuộc bản đồ đất rừng phường
Đ tỷ lệ 1/10.000 tháng 12/2003.
23
Tại sơ đồ trích đo địa chính thửa đất đề ngày 18/6/2026, thể hiện thửa đất tranh
chấp theo bản đồ địa chính 1995 thuộc thửa đất số 71, diện tích 228.744m
2
. Tháng
12/2005 bản đồ đất rừng phường Đ tỷ lệ 1/10.000 hoàn thành thửa đất số 67, tờ bản
đồ số 01, diện tích 298.686m
2
được tách thành thửa đất số 67, tờ bản đồ số 01, diện
tích 53.710m
2
(NTD – đất nghĩa địa) và thửa đất số 71, tờ bản đồ số 01, diện tích
228.744m
2
(RPN – II – đất rừng).
Do vậy, diện tích đất tranh chấp được xác định là 4.745,5m
2
(trong đó bị đơn
thừa nhận nguyên đơn có diện tích đất 745,4m
2
) thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45
(bản đồ địa chính 2019).
[2.2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn Nông Thị T:
Nguyên đơn yêu cầu xét xử lại toàn bộ bản án, làm rõ các chứng cứ tài liệu mà
nguyên đơn cung cấp, đặc biệt quy định về dự án trồng rừng PAM, và giá trị pháp lý
của hợp đồng này mà ông N tự ý ký kết khi không có quyết định giao đất giao rừng,
diện tích, địa chỉ không trùng khớp với thực địa, quy cách trồng thông không đúng,
làm rõ sự gian dối và hủy bỏ giá trị pháp lý của Hợp đồng PAM 5322 mà ông N đưa
ra làm căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất, bổ sung vào quá trình giải quyết tranh
chấp và công nhân quyền sử dụng đất của Nông Thị T.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại sổ mục kê của phường S năm 2019, thửa đất tranh chấp là thửa đất số 05,
tờ bản đồ số 45 (bản đồ địa chính 2019) không có tên người sử dụng, quản lý đất, diện
tích đất 10.723,6m
2
; loại đất: CLN. Như vậy, thửa đất đang tranh chấp chưa được cấp
GCNQSDĐ, chưa được đăng ký kê khai quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu ông N
trả lại diện tích đất 4.745,5m².
Nguyên đơn bà Nông Thị T cho rằng diện tích đất tranh chấp do chồng bà khai
phá từ năm 1979 và đến năm 2000 gia đình bà thuê ông Nông Ích N trồng cây thông
và từ đó ông N chiếm đất của gia đình bà. Ông C2 là chồng bà T có giấy đề nghị ngày
19/7/2002 có xác nhận của những hộ sử dụng đất liền kề trong đó có ông N và của
UBND phường S. Về nội dung thuê ông N trồng cây trên đất, nguyên đơn không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Ngày 19/7/2002, ông C2 có Giấy đề nghị gửi UBND và địa chính phường S,
thị xã C với nội dung: “Tháng 4 năm 1979 tôi sơ tán đến khu đất có tên gọi là Khau
S2 nay thuộc tổ E khối I A phường S. Để đảm bảo cuộc sống gia đình, tôi đã tự khai
phá đất hoang để trồng lúa nương và màu, có diện tích khoảng 5000 mét vuông (có
sơ đồ kèm theo). Trên đám đất tôi khai phá này hiện nay còn mộ ông của tôi và nhiều
cây thông, cây tre, cây ăn quả do tôi trồng và quản lý, không có tranh chấp đất và hoa
màu. Để đảm bảo cho việc quản lý, sở hữu đất lâu dài đề nghị UBND và cơ quan có
thẩm quyền tiến hành đo vẽ và xét cấp GCNQSDĐ (bìa đỏ) cho gia đình”. Giấy đề
nghị này có xác nhận của các hộ tiếp giáp Nông Ích N, Nông Văn N3, Trương Văn
D; xác nhận của 02 tổ trưởng (Đoàn Minh T7 và Hoàng Văn V3). Như vậy, tại giấy
đề nghị này ông C2 tự khai và nhận nguồn gốc đất là khai phá từ năm 1979.
Đối với việc xác nhận của ông N tại giấy đề nghị này, ông N cho rằng bà T đã
lợi dụng lúc ông không tỉnh táo để cho ông ký giáp ranh, đây không phải là ý chí của
24
ông. Về vấn đề này ông Nông Văn H1 cũng xác nhận theo thông tin ông được biết
ông N ký trong tình trạng không minh mẫn do sử dụng rượu. Về phía ông Hoàng Văn
V3 (tổ trưởng tổ 5 thời điểm đó) tại biên bản hòa giải ngày 02/01/2014 tại UBND
phường S có ghi ý kiến như sau: Khi xác nhận đơn của gia đình bà T vì tất cả mọi
người đã ký nên tôi cũng ký xác nhận.
Giấy đề nghị của ông C2 viết ngày 19/7/2002 tuy nhiên đến ngày 28/5/2008
ông Nguyễn Minh C1 với tư cách là Chủ tịch UBND phường S mới xác nhận với nội
dung: “Đúng gia đình ông Lương Minh C2 có khai phá đất tại tổ E, phường S, hiện
nay gia đình ông đang quản lý và sử dụng, có xác nhận của tổ dân phố, có người làm
chứng. Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục tính toán đền bù cho gia đình
theo như quy hoạch”. Như vậy, gần 6 năm sau giấy đề nghị của ông C2 mới được
chính quyền địa phương xác nhận.
Tuy nhiên, qua nội dung đề nghị được thể hiện tại giấy đề nghị ông C2 và lời
xác nhận của ông C1 nhận thấy có sự mâu thuẫn. Giấy đề nghị ông C2 gửi UBND và
địa chính phường S, thị xã C đề nghị “UBND và cơ quan có thẩm quyền tiến hành đo
vẽ và xét cấp GCNQSDĐ (bìa đỏ) cho gia đình” nhưng ông C1 lại xác nhận nội dung
“Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục tính toán đền bù cho gia đình theo
như quy hoạch”.
Theo tài liệu trong hồ sơ, tại Quyết định số: 522/QĐ-UBND ngày 07/4/2008
của UBND tỉnh C về việc thu hồi đất xây dựng công trình Đường Q với QL3 (Tránh
thị xã C), phần đất đang tranh chấp giữa Lương Minh C2, Nông Thị T và Nông Ích
N, Nông Thị N1 bị thu hồi 72,1m
2
đất. Mặt khác, tại phiên tòa ông C1 trình bày: Tại
đơn xin xác nhận đề ngày 19/7/2002 của ông C2 có xác nhận của ông năm 2008 do
thời điểm đó ông đang là Chủ tịch UBND phường S. Thời điểm ông làm Chủ tịch từ
năm 2004 đến tháng 9/2009, ông C2 làm bí thư Đảng ủy phường S (từ năm 2006-
2008). Ông xác nhận ông C2 có khu đất tại tổ E phường S để làm thủ tục tính toán
đền bù cho gia đình theo quy hoạch do khi đó đất tại khu vực này không thể làm được
bìa đỏ. Ông xác nhận để nếu có dự án nào thì lấy đó làm căn cứ cho gia đình.
Như vậy, về thời điểm xác nhận và nội dung xác nhận của UBND phường S tại
giấy đề nghị năm 2002 chưa thể khẳng định được diện tích đất tranh chấp do gia đình
nguyên đơn Nông Thị T khai phá.
Tại đơn đề nghị về việc làm rõ nguồn gốc đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai
và cấp GCNQSDĐ đề ngày 06/8/2018 của bà Nông Thị T có nội dung “Theo nội dung
Biên bản xác định ranh giới ngày 26 tháng 7 năm 2018, thửa đất của tôi tiếp giáp với
03 hộ gia đình. Trong đó hộ ông Nông Văn N3 và hộ ông Trương Văn D đã có ý kiến
khẳng định thửa đất đó là của chồng tôi khai phá”.
Tại Biên bản về việc xác định ranh giới gia đình bà Nông Thị T đất tại tổ E,
phường S, thành phố C ngày 26/7/2018 của Văn phòng Đ chi nhánh thành phố ông
Nông Văn N3 - hộ sử dụng đất liền kề có ý kiến: “Năm 1985, ông C2 làm Biên phòng
khai phá có san gạt đất cả khu đất giáp đất ruộng của gia đình. Năm 1986 là bãi chăn
trâu sau đó ông C2 trồng khoai sọ” và bà Sầm Thị L1 - hộ sử dụng đất liền kề có ý
kiến: “Năm 1990 sinh sống, ông C2 làm rẫy ở đoạn dưới, trên chưa trồng gì. Về sau
ông N trồng cây toàn bộ khu đất trên”.
25
Tuy nhiên, tại văn bản Góp ý kiến về việc tranh chấp đất đai giữa bà T và ông
N gửi Văn phòng Q chi nhánh thành phố C (không đề ngày) ông Nông Văn N3 có ý
kiến như sau: “Nhận giấy mời những người có đất tiếp giáp chiều ngày 26/7/2018 tôi
có đến dự tại nơi thực địa. Khi vào việc có 1 người trong tổ nhóm hỏi tôi vì thấy tôi
là người cao tuổi biết về khu vực đất đai trước đây. Tôi cũng cho biết hồi năm 1985-
1986 ông K1 có san gạt đất mé trên ruộng nhưng về sau thấy bỏ hoang. Vì tai tôi điếc
nặng, các ý kiến của bộ phận làm việc cũng như khi đọc văn bản tôi không nghe được.
Về nội dung văn bản viết và nêu những vấn đề gì tôi hoàn toàn không biết nhưng tôi
có ký tên vào chỗ người có đất tiếp giáp. Nay tôi có những ý kiến như sau: Hồi năm
1985 – 1986, thời kỳ bộ đội biên phòng đóng quân quanh khu vực ông K1 san đất và
đẩy phần đất xuống ruộng (thời kỳ còn HTX) nhưng san rồi chỉ bỏ hoang (hàng ngày
tôi đi chăn trâu tôi biết). Đến cuối thập niên 90 (khoảng năm 1997-98) thì ông N trồng
cây nhưng đến khi cây to lớn thì gia đình bà T đến chặt hết rồi trở thành đất tranh
chấp giữa 2 bên. Nếu tính từ khi san gạt đất đến bỏ hoang cho đến khi ông N trồng
cây với thời gian hơn chục năm. Rối tính từ lúc ông N trồng cây, cây phát triển to lớn
rồi chặt với thời gian cũng ngót chục năm. Tổng thời gian kéo dài trên 2 chục năm thì
xảy ra tranh chấp. Vì tai điếc nên kết thúc buổi làm việc tại thực địa tôi không biết”.
Như vậy, việc ghi nhận ý kiến của ông N3 tại biên bản làm việc của Văn phòng Đ chi
nhánh T chưa được khách quan.
Tại đơn đề nghị làm rõ nguồn gốc đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai và cấp
GCNQSDĐ đề ngày 06/8/2018 của bà Nông Thị T cũng đề cập đến nội dung đề nghị
của ông C2 lập ngày 19/7/2002 phù hợp và đủ điều kiện quy định tại Điều 100 Luật
đất đai năm 2013 “Cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền
sử dụng đất” và điểm k khoản 2 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết
thi hành một số điều của luật đất đai “Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký”.
Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định:“Hộ gia đình, cá nhân đang
sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng
đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của N10,
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và N11;
b) GCNQSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên
trong Sổ đăng ký ruộng đất, S3 địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất
ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử
dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc
sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
26
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp
cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo
quy định của Chính phủ”.
Đối chiếu với quy định trên giấy đề nghị năm 2002 của ông C2 không phải là
một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất. Và xác nhận của chủ tịch UBND
phường S năm 2008 cũng không phải là xác nhận để làm căn cứ xác định việc sử dụng
đất ổn định vì ông Nguyễn Minh C1 - Chủ tịch UBND phường S xác nhận năm 2008
đất tại khu vực này không thể làm được bìa đỏ.
Bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn xác định
diện tích đất đang tranh chấp do gia đình khai phá năm 1998 có người xác nhận như
ông Sầm Đăng L2, ông Nguyễn Chí N2, ông Nông Văn H1, ông Lục Hữu P, ông
Hoàng Văn V3, ông Nông Văn N3, bà Nguyễn Hồng D1 và gia đình có Hợp đồng
trồng rừng PAM năm 2000. Theo Hợp đồng trồng rừng PAM số: 48/HĐTR-PAM
ngày 18/6/2000 của Ban Q – 5322 Thị xã C, ông N được giao trồng rừng 1ha (lô 6
ngày 05/4/2000 do Đoàn điều tra quy hoạch rừng thiết kế). Ngày 20/11/2000, Hội
đồng đã nghiệm thu thể hiện bằng biên bản nghiệm thu và gia đình ông N được cấp
sổ phát lương thực.
Tại đơn đề nghị về việc làm rõ nguồn gốc đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai
và cấp GCNQSDĐ đề ngày 06/8/2018 của bà Nông Thị T, bà T cho rằng ông N đưa
hợp đồng PAM số 48/HDTK-PAM ngày 18/6/2000 ra làm căn cứ nên đề nghị làm rõ
hợp đồng PAM đó có phải thuộc vị trí đất mà gia đình bà đang quản lý sử dụng không,
diện tích trồng rừng ghi trên hợp đồng có đúng với ngoài thực địa không.
Theo sơ đồ trích đo địa chính thửa đất, diện tích đất tranh chấp là 4.745,5m².
Trong quá trình quản lý, sử dụng hai bên không xác định được mốc giới cụ thể và
không có mốc giới thực tế để phân biệt rõ ràng diện tích sử dụng của từng bên. Bị đơn
thực hiện việc trồng rừng PAM năm 2000 qua xác minh với những người trực tiếp
liên quan đến dự án này thấy rằng những người trồng rừng theo dự án này đều được
giao đất giao rừng tuy nhiên hiện tại không có sơ đồ quy hoạch PAM, đo đạc thời
điểm đó còn thủ công. Phần diện tích nguyên đơn khai phá cũng không rõ diện tích,
ranh giới. Tuy nhiên, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Nông
Ích N đều xác định trong diện tích đất tranh chấp có 745,4m² là của gia đình nguyên
đơn khai phá, quản lý và sử dụng. Ngoài bị đơn thừa nhận việc nguyên đơn có diện
tích đất khai phá quản lý sử dụng trong phần đất tranh chấp, trong quá trình xác minh
thu thập xây dựng hồ sơ vụ án cũng có những người làm chứng sinh sống lâu năm tại
khu vực đất tranh chấp thừa nhận. Do vậy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đối với diện tích 745,4m
2
.
[2.3]. Đối với diện tích đất 72,1m² khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất dự án
đường nối Quốc lộ C với Quốc lộ D (tránh thị xã C) thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ
số 01 (Bản đồ trích đo giải phóng mặt bằng địa phận phường S) và được bồi thường
số tiền 801.768 đồng. Tại phiên tòa các đương sự không yêu cầu nhận nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[2.4]. Về tài sản, công trình trên đất tranh chấp
27
Bà T chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất khoản 5000m
2
không có yêu cầu
giải quyết về tài sản (cây) trên đất.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/10/2024, xác định tài sản, vật
kiến trúc trên đất gồm: 03 ngôi mộ trong đó 01 ngôi mộ chôn cất năm 2017 (mộ chưa
sang tiểu), 01 ngôi mộ đất mang tên Nông Văn T6 chôn cất năm 2001 (mộ chưa sang
tiểu), 01 ngôi mộ đất mang tên Lò Thị Í1 chôn cất năm 2020 (mộ chưa sang tiểu); một
số cây keo, cây thông, cây ăn quả. Các đương sự thống nhất nếu trường hợp Tòa án
tuyên phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý và sử dụng của ai thì người đó được
quyền quản lý, sử dụng định đoạt các cây trên đất.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/01/2026, xác định tài sản, vật
kiến trúc trên đất gồm: Nguyên đơn xác định trên diện tích đất nguyên đơn có 03 ngôi
mộ đã được thể hiện tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ trước đó. Đối với cây cối
trên đất nguyên đơn không đề nghị kê khai.
Tại phiên tòa, các đương sự cũng không có yêu cầu giải quyết phần cây trên
đất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 03 ngôi mộ trên đất, tại phiên tòa bị đơn nhất trí giữ nguyên hiện trạng
các ngôi mộ này, không yêu cầu di dời nên cần ghi nhận ý kiến của bị đơn.
Hội đồng xét xử xác định trong tổng diện tích đất tranh chấp 4.745,5m
2
có
745,4m
2
là do nguyên đơn quản lý, còn lại 4.000,1m
2
là do những người thừa kế của
phía bị đơn quản lý.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn Nông Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số
75/2026/DS-ST ngày 26/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng là có căn
cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Ý kiến của nguyên đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm không được Hội đồng xét xử chấp
nhận vì không có căn cứ.
[5] Ý kiến của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn và người bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Nông Thị N1 không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm được Hội đồng xét xử chấp nhận vì
có căn cứ.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận,
nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
28
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn Nông Thị T, giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 75/2026/DS-ST ngày 26/6/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 1 - Cao Bằng.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản
1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về phí và lệ phí Tòa án: Kháng cáo của bà Nông Thị T không
được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm để nộp
Ngân sách nhà nước. (Xác nhận bà Nông Thị T đã nộp 300.000đ, tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên lai thu tiền tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000057 ngày 14/7/2026. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí
dân sự phúc thẩm).
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- TAND khu vực 1, Cao Bằng;
- VKSND khu vực 1, Cao Bằng;
- PhòngTHADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Tòa dân sự;
- Lưu tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hoàng Văn Thụ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 61/2026/DS-PT Bản án số 61/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 61/2026/DS-PT Bản án số 61/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất