Bản án số 641/2026/HS-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 641/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 641/2026/HS-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 641/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 641/2026/HS-PT Bản án số 641/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 641/2026/HS-PT Bản án số 641/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Hiếu
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Chương
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Bảy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 354/2026/TLPT-HS ngày
10/6/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 343/2026/QĐXXPT-
HS ngày 22/6/2026, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị T và bị hại Phạm
Quyết T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 265/2026/HS-ST ngày 09/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Hoàng Thị T, sinh năm 1988; Đăng
ký thường trú: TDP số A, phường M, quận N (Nay là phường T), Thành phố Hà
Nội; Chỗ ở hiện tại: Số E Đ, phường P, Thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa:
12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn
giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Hoàng Văn Đ và con bà Hoàng Thị C; Chồng
là Nguyễn Đình L và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn D - Công ty L3. Vắng
mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Phạm Quyết T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn D,
xã D, huyện H (N là xã H), Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Thị H –
Công ty L4. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2024, anh Trần Văn O (Sinh năm 1972, Địa chỉ: Thôn
B, T, S, Hà Nội - nay là xã N, Thành phố Hà Nội) – hiện làm lái xe tại Hải Phòng,
có nhu cầu vay ngân hàng nhưng không có tài sản thế chấp nên không vay được.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 641/2026/HS-PT
Ngày: 29/9/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
2
Thông qua một người bạn xã hội tên là D (có quen biết Hoàng Thị T, chưa xác
định nhân thân) thì anh O có nhờ T hỗ trợ. T nhận lời và hứa hẹn sẽ làm thẻ tín
dụng cho anh O với hạn mức 200 triệu (chi phí là 20% hạn mức thẻ, sau 1 tháng sẽ
có thẻ tín dụng). Để thực hiện việc mở thẻ, T sử dụng hình ảnh căn cước công dân
của anh O để đăng ký mở tài khoản trực tuyến số tài khoản 987358956 tại Ngân
hàng V1 mang tên Trần Văn O (nhưng thực tế T là người sử dụng tài khoản này,
thông tin giao dịch của tài khoản được báo về App ngân hàng trên điện thoại và số
điện thoại 0987358956 của T). Do không có tiền để chuyển vào tài khoản này nên
T rủ anh Phạm Quyết T1 (Sinh năm 1982, Địa chỉ: Thôn D, D, H, Hà Nội) góp tiền
để mở thẻ tín dụng cho anh O, hẹn sau 1 tháng sẽ nhận lại gốc và 20% lãi. Anh T1
đồng ý, ngày 23/4/2024, anh T1 chuyển 190.000.000 đồng từ tài khoản số
4270654717 tại Ngân hàng B mang tên Phạm Quyết T1 đến số tài khoản số
2601302962 tại Ngân hàng B mang tên Hoàng Thị T.
Ngay sau khi anh T1 chuyển khoản vào tài khoản của T thì T đã chia nhỏ giao
dịch và chuyển thử tiền vào tài khoản của anh O (là tài khoản mới mở cho anh O
nhưng T sử dụng). T chuyển khoản 185.300.000 đồng (gồm 2 giao dịch là
90.000.000 đồng và 95.300.000 đồng) vào tài khoản Ngân hàng V1 của anh Trần
Văn O (do T mở cho anh O để phát sinh giao dịch). Ngay trong ngày 23/4/2024, T
lại dùng tài khoản của anh O để chuyển vào tài khoản của Nguyễn Văn L1 (tài
khoản này do T đang quản lý, sử dụng) số tiền 50.000.000 đồng nhằm phát sinh
giao dịch. Sau đó T tiếp tục đặt lệnh chuyển khoản, tuy nhiên T không chuyển
khoản được nữa vì theo quy định của ngân hàng thì đối với tài khoản Online chỉ
được giao dịch giới hạn 50.000.000 đồng/tháng, nên T gọi điện nói với anh O:
“anh cầm căn cước công dân ra ngân hàng C1 thông tin cá nhân giúp em sau đó
chuyển lại cho em căn cước công dân của anh để em làm tiếp công việc” thì anh O
nói “anh chưa sắp xếp được thời gian và căn cước công dân thì anh vẫn phải giữ
để đi làm công trình”. Lúc đó, T thấy việc anh O không cập nhật thông tin cá nhân
tại quầy ngân hàng thì T không thực hiện được các giao dịch quá 50.000.000
đồng/1 tháng, mặt khác việc anh O không đưa căn cước công dân cho T thì có rủi
ro đó là anh O có thể mang căn cước công dân của anh O đến ngân hàng để rút tiền
tại quầy, trong khi đó số tiền này không phải của anh O nên T nói với anh O:
“Ngày mai em sẽ xuống Hải Phòng để anh chuyển lại tiền cho em, khi nào anh về
Hà Nội thì anh em mình làm tiếp”.
Ngày 24/4/2024, T cùng bạn là anh D đi về Hải Phòng, T hẹn anh O ra phòng
giao dịch Ngân hàng V1 tại L, TP Hải Phòng để anh O sử dụng căn cước công dân
và chuyển lại cho T số tiền *********** đồng vào tài khoản của Nguyễn Văn L1
(do T đang sử dụng). Tại ngân hàng, sau khi chuyển lại số tiền 135.300.000 đồng
anh O có hỏi nhân viên ngân hàng thì được biết nếu rút tiền mặt từ thẻ tín dụng để
chi tiêu thì phải chịu lãi cao nên ngay trong ngày 24/4/2024 anh O đã thông báo
cho T về việc không làm thẻ tín dụng nữa.
Sau khi anh O không làm thẻ nữa và đã chuyển trả lại tiền thì T không nói
việc này với anh T1 mà sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân hết (cụ thể: ngày
23/4/2024 chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản A số 020040185924 mang tên
“Phạm Tan T2”; chuyển 35.000.000 đồng vào tài khoản V2 số 100872393435
mang tên “Tran Van Ky”. Ngày 24/4/2024, chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản
3
V3 số 1041951732 mang tên “Phan Thanh T3”; chuyển 20.000.000 đồng vào tài
khoản MB số 0886281555 mang tên Nguyen Dinh L2 (chồng của T là người dùng
tài khoản này) và chuyển 20.000.000 đồng vào tài khoản MB số 0358168888 của
Hoàng Thị T). Đến hết thời hạn 01 tháng (như thỏa thuận), anh T1 hỏi T về thẻ của
O và yêu cầu T trả lại tiền gốc và lãi cho anh T1 thì T nói dối “Em đang đợi, em
đang nuôi thêm” (tức là cần có thêm thời gian để ngân hàng xét duyệt mở thẻ)
nhưng thực tế T không mở thẻ cho anh O, T không nói cho anh T1 biết là O không
mở thẻ nữa. Sau đó anh T1 liên tục gọi điện thoại, nhắn tin hỏi T yêu cầu trả tiền
nhưng T không trả và trốn tránh không nghe điện thoại của anh T1 nên ngày
16/7/2024 anh T1 đã nộp đơn tố giác Hoàng Thị T tại Cơ quan điều tra.
* Ngoài giao dịch 190.000.000 đồng nêu trên, Hoàng Thị T còn nhận ba
khoản tiền khác của anh Phạm Quyết T1. Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã
xác định các khoản tiền này thuộc quan hệ dân sự; cụ thể:
- Đối với số tiền 150.000.000 đồng, anh T1 chuyển cho T vào ngày
18/03/2024:
Vào khoảng đầu năm 2024, các anh Phạm Hữu D1 (Sinh năm 1981, Địa chỉ:
H, B, Hải Dương), Phạm Xuân Đ1 (Sinh năm 1985, Địa chỉ: T, T, Hải Dương),
Phạm Văn H1 (Sinh năm 1986, Địa chỉ: H, B, Hải Dương) có nhu cầu đi xuất khẩu
lao động tại Hàn Quốc trong thời hạn 5 năm. Do là đồng hương, quen biết từ trước
nên các anh D1, Đ1, H1 nói chuyện và nhờ anh Phạm Quyết T1 lo thủ tục xin visa
đi Hàn Quốc. Anh T1 không làm được visa đi Hàn Quốc nên nói chuyện với anh
Nguyễn Tuấn H2 (Sinh năm 1967, nhân viên điều hành xe điện tại sân bay N cùng
nơi làm việc với anh T1). Anh H2 đã giới thiệu anh T1 đến gặp Hoàng Thị T để tư
vấn.
Đến đầu tháng 3/2024, anh T1 gặp T để nhờ T hướng dẫn thủ tục làm visa cho
các anh D1, Đ1, H1. Ban đầu, T báo chi phí để làm visa loại đi xuất khẩu lao động
Hàn Quốc cho từng người là khoảng 200 triệu đồng/người nhưng anh T1 nói là chi
phí cao quá nên muốn làm visa đi du lịch. T nói bản thân không làm visa đi du lịch
mà sẽ tư vấn, hướng dẫn thủ tục, nếu đi thành công thì sẽ lấy công khoảng 20 triệu
đồng/người. Anh T1 đồng ý.
Sau đó, T tìm hiểu trên Web của Ngân hàng S thì được quảng cáo rằng nếu
khách hàng mở loại thẻ Platinum tại ngân hàng S, thì sẽ được ưu tiên, một số người
được miễn thị thực (visa) khi đi du lịch Hàn Quốc. Do đó, T hướng dẫn anh T1 bảo
03 người đồng hương chuẩn bị giấy tờ tùy thân, xin hộ chiếu và chuyển tiền cho T,
mỗi người 50 triệu đồng để làm thẻ tín dụng Platinum tại ngân hàng S. Anh T1 đã
nói lại nội dung này với các anh D1, Đ1, H1 sau đó mỗi người đã chuyển cho anh
T1 50 triệu đồng. Ngày 18/3/2024, anh T1 đã chuyển cho T 150 triệu đồng. Từ
ngày 18/3/2024 đến ngày 20/03/2024, T đã đưa các anh D1, Đ1, H1 đến Ngân
hàng S chi nhánh P1 (phường T, Hà Nội) để mở thẻ tín dụng. Trong đó, anh D1
được T đăng ký mở tài khoản, mở sổ tiết kiệm, còn anh Đ1, H1 được T mở tài
khoản. Sau khi các anh D1, Đ1, H1 đăng ký xong thủ tục, T yêu cầu ngân hàng
chuẩn bị giúp giấy ủy quyền với nội dung: các anh D1, Đ1, H1 ủy quyền cho T
được nhận, đóng, sử dụng số tài khoản, sổ tiết kiệm và thẻ tín dụng của những
người trên. Trong thời gian đợi nhận thẻ tín dụng, T hướng dẫn anh T1 đưa các anh
D1, Đ1, H1 đi du lịch ở một số nước Đ để có dấu trong hộ chiếu sẽ dễ xin visa
4
hơn. Anh T1 nghe lời và tổ chức cho các anh D1, Đ1, H1 đi du lịch Thái Lan 3
ngày (từ 09/4/2024 đến ngày 11/4/2024). Các anh D1 và H1 đã chuyển cho anh T1
mỗi người 6 triệu đồng để đi du lịch Thái Lan, riêng anh Đ1 chuyển 30 triệu đồng
(về việc này, anh Đ1 khai thời điểm đó anh T1 nói sẽ tổ chức đi vài nước để làm
đẹp hộ chiếu, anh Đ1 hỏi tổng chi phí hết bao nhiêu thì anh T1 nói chi phí khoảng
30 triệu nên anh Đ1 chuyển luôn 30 triệu cho những lần sau).
Thời điểm này, T tiếp tục tìm hiểu quy định của Ngân hàng S thì điều kiện mở
thẻ tín dụng loại Platinum là sổ tiết kiệm phải có khoảng 5.000 USD. Do đó, số
tiền T bảo mỗi người chuẩn bị 50 triệu (tổng số 150 triệu) chỉ đủ để mở thẻ tín
dụng Platinum cho từng người một, T nói với anh T1 trước tiên làm cho anh Phạm
Hữu D1. Sau khi anh D1 đã được cấp thẻ tín dụng và tài khoản tiết kiệm, T đã
nhận và sử dụng thẻ tín dụng của anh D1. Mỗi tháng T sử dụng thẻ này khoảng
hơn 100 triệu và đều thanh toán đầy đủ.
Đến ngày 09/7/2024, do thấy các việc T làm chưa có kết quả, anh T1 yêu cầu
T dừng không làm visa cho các anh D1, Đ1, H1 nữa thì T đã sử dụng hơn 112 triệu
trong thẻ tín dụng của anh D1. Ngân hàng S đã lấy số tiền trong tài khoản tiết kiệm
của anh D1 để thanh toán thẻ tín dụng cho D1.
Ngày 12/09/2024, Ngân hàng S có công văn trả lời cơ quan điều tra như sau:
Trường hợp anh Phạm Văn H1 đã mở số tài khoản 70031832118 vào ngày
20/03/2024. Trường hợp anh Phạm Xuân Đ1 đã mở số tài khoản 70031831322 vào
ngày 20/03/2024. Trường hợp anh Phạm Hữu D1 đã mở số tài khoản 70031803376
vào ngày 18/03/2024; mở sổ tiết kiệm số 703007686010 ngày 26/03/2024 đóng
ngày 08/07/2024; mở thẻ tín dụng số 4696-7300-1659. 7893 ngày 28/03/2024 và
đóng ngày 09/07/2024.
Ngày 03/12/2024, Cục L5, Bộ N có Công văn số 5240 trả lời như sau: Công
dân Phạm Xuân Đ1 có nộp hồ sơ xin visa du lịch ngày 17/5/2023 nhưng đã bị từ
chối cấp. Hai công dân Phạm Văn H1 và Phạm Hữu D1 chưa tra cứu được lịch sử
đăng ký xin visa. Việc xét duyệt hồ sơ xin visa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó năng lực tài chính là một yếu tố quan trọng để quyết định việc cấp visa cho cá
nhân. Việc sở hữu thẻ Platinum của Ngân hàng S hay việc tài sản đặt ở đâu không
ảnh hưởng đến kết quả xét duyệt visa.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 bản giấy A4 thể hiện nội dung đặc quyền của
ngân hàng S1 khi khách hàng đăng ký thẻ tín dụng loại Platinum là “đặc quyền thị
thực nhập cảnh Hàn Quốc” do T cung cấp.
Bản án sơ thẩm đã nhận định: Do việc T nhận mở tài khoản, mở sổ tiết kiệm
và mở thẻ tín dụng cho các anh D1, Đ1, H1 vẫn đang tiếp diễn, đến 09/7/2024 anh
T1 báo dừng nên T không làm nữa. T không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt
số tiền 150 triệu của anh T1 trong vụ việc này. Việc T chưa trả số tiền 150 triệu
đồng cho anh T1 (tính đến thời điểm trình báo) là giao dịch dân sự. Do đó không
xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Thị T trong vụ việc này.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng anh T1 chuyển cho T vào ngày
02/04/2024:
Cuối tháng 3/2024, Nguyễn Văn L1 (Sinh năm 1996, Địa chỉ: K, P, S, Hà
Nội) có nhu cầu làm thẻ tín dụng với hạn mức cao (200 triệu đồng) để tiêu dùng
nhưng không đủ điều kiện nên nhờ Hoàng Thị T. T nhận lời và không nêu chi phí
5
mà chỉ nói khi nào làm được thẻ thì tính phí sau, đồng thời yêu cầu L1 đưa tài
khoản Ngân hàng T6 của L1 cho T dùng để tài khoản phát sinh nhiều giao dịch, đủ
điều kiện để mở thẻ tín dụng hạn mức cao. L1 đồng ý và đưa tài khoản Ngân hàng
T6 của mình cho T sử dụng từ cuối tháng 3/2024. Sau khi nhận lời L1, T không có
tiền nên rủ anh T1 góp vốn để mở thẻ tín dụng cho L1, sau khoảng 3 tháng sẽ lấy
được tiền gốc và khoản lãi 20%. Anh T1 đồng ý nên ngày 02/04/2024, đã chuyển
vào tài khoản số 1996688886 tại Ngân hàng T6 của Nguyễn Văn L1 60 triệu đồng
và đưa 01 thẻ tín dụng hạn mức 40 triệu đồng cho T để T rút tiền mặt. T giải thích
để mở được thẻ tín dụng hạn mức cao thì tài khoản ngân hàng cũng phải có số dư
lớn, do T không có tiền nên đã bảo anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của L1.
Về thẻ tín dụng của Nguyễn Văn L1, T cầm thẻ tín dụng này để sử dụng nhằm
phát sinh nhiều giao dịch. Đến đầu tháng 8/2024, T dùng tài khoản ngân hàng của
L1 vào ứng dụng Ngân hàng T6 kiểm tra thì vẫn chưa đủ điều kiện để mở thẻ tín
dụng hạn mức cao. Do đợi lâu nên L1 không làm thẻ tín dụng nữa và đòi lại tài
khoản ngân hàng từ T để sử dụng.
Ngày 25/09/2024, Ngân hàng T6 có Công văn số 175/2024 trả lời về nội
dung: Không tiếp nhận hồ sơ đăng ký mở thẻ tín dụng cho khách hàng tên Nguyễn
Văn L1. Việc T nhận mở thẻ tín dụng và T đã thực hiện nhiều giao dịch trong tài
khoản của L1 mục đích nhằm phát sinh nhiều giao dịch để đủ điều kiện để mở thẻ
tín dụng hạn mức cao. Tháng 7/2024 thì anh T1 đòi lại tiền góp vốn chung. Đến
đầu tháng 8/2024, T dùng tài khoản ngân hàng của L1 vào ứng dụng Ngân hàng T6
kiểm tra thì vẫn chưa đủ điều kiện để mở thẻ tín dụng hạn mức cao. Tháng 8/2024,
L1 đòi lại tài khoản nên T trả lại tài khoản ngân hàng cho L1.
Bản án sơ thẩm đã nhận định: Việc T chưa trả lại số tiền 100 triệu đồng của
anh T1 góp vốn là giao dịch dân sự. Do đó không xem xét trách nhiệm hình sự đối
với Hoàng Thị T trong vụ việc này.
- Đối với số tiền 1.100.000.000 đồng anh T1 chuyển cho T vào ngày
10/05/2024:
Năm 2021, bà Phạm Thị X (Sinh năm 1960; Địa chỉ: số C, ngõ A đường Đ,
Đ, B, Hà Nội) mua thửa đất số 339 tờ bản đồ số 21 có diện tích 125,6m2 tại xã P,
huyện Q, TP Hà Nội (đứng tên Nguyễn Xuân Q, con trai bà X) sau đó bà X dùng
sổ đỏ này để thế chấp Ngân hàng H4.
Năm 2022, Hoàng Thị T thỏa thuận mua lô đất trên của bà X giá 2 tỷ đồng và
mượn sổ đỏ này để thế chấp Ngân hàng H4 vay số tiền 1,1 tỷ đồng để chi trả việc
cá nhân. Thời điểm đó, T và con trai bà X là Nguyễn Xuân Q làm hợp đồng mua
bán mảnh đất trên, hai bên ký điểm chỉ nhưng chưa có dấu của văn phòng công
chứng (khi nào xuất trình được sổ đỏ thì mới công chứng được). Đến tháng
03/2024, T đã trả cho bà X được 800 triệu đồng tiền mặt. T hỏi nhân viên Ngân
hàng H4 thì được biết số nợ còn lại ở ngân hàng mà T phải trả là 1,1 tỷ đồng thì
mới được tất toán khoản vay và rút được sổ đỏ ra.
Khoảng đầu tháng 5/2024, sau khi anh T1 đưa các anh D1, Đ1, H1 đi du lịch
Thái Lan về, T và anh T1 bàn với nhau lo việc xin visa cho từng người một, trước
tiên là anh D1 bằng cách: T đang được ủy quyền sử dụng thửa đất số 339 tờ bản đồ
số 21 tại xã P, huyện Q, TP Hà Nội, T sẽ để anh D1 đứng tên thửa đất để anh D1
được trong diện có tài sản giá trị, thuận lợi trong việc xin Visa. Hiện thửa đất này
6
đang thế chấp ngân hàng, cần 1,1 tỉ đồng để giải chấp thì mới sang tên cho anh D1
được.
Lúc này, bản thân anh T1 cũng có khoản 1,1 tỷ đồng chuẩn bị đáo hạn ngân
hàng nên nói với T “sắp tới anh đáo hạn Ngân hàng B đối với khoản vay 1,1 tỷ,
anh sẽ cho em vay khoản này”. T nói “anh cho em vay 1,1 tỷ đồng để giải chấp
thửa đất trên trước, sau đó em sang tên thửa đất cho anh D1 rồi lại yêu cầu anh D1
thế chấp ngân hàng, lấy tiền trả lại anh, sau 1 tháng sẽ xong hết các thủ tục, em sẽ
không lấy công xin visa của anh D1 (tức khoảng 20 triệu đồng) và trả lãi cho anh
theo giá thị trường”. Anh T1 đồng ý và ngày 10/05/2024 đã chuyển 1,1 tỷ đồng
cho T từ số tài khoản 10520053110012 tại Ngân hàng T6 mang tên Phạm Quyết
T1 đến số tài khoản 2601302962 tại Ngân hàng B mang tên Hoàng Thị T.
Ngày 10/5/2024, T bảo anh T1 gọi anh Phạm Hữu D1 đến Văn phòng T7
cùng T để lập vi bằng thể hiện thỏa thuận nội dung: Hoàng Thị T (bên A) thực hiện
thủ tục chuyển nhượng, sang tên thửa đất số 339 tờ bản đồ số 21 có diện tích
125,6m2 tại xã P, huyện Q, TP Hà Nội cho anh Phạm Hữu D1 (bên B) đứng tên
thực chất là nhờ anh D1 đứng hộ để anh D1 thực hiện thủ tục thế chấp vay vốn tại
ngân hàng hộ T.
Đến ngày 10/6/2024 sau 01 tháng (là hạn anh T1 phải đáo hạn ngân hàng
khoản 1,1 tỷ đồng), nhưng T vẫn chưa lo được thủ tục để trả lại anh T1 1,1 tỷ
đồng. T đã nhờ anh Nguyễn Duy T4 (Sinh năm 1986; HKTT; Thôn C, H, xã M,
huyện M, Hà Nội) cho anh T1 vay 1,1 tỷ đồng đáo hạn ngân hàng, đồng thời T
chuyển khoản 25 triệu đồng tiền lãi khoản vay 1,1 tỷ đồng của anh T1 vào tài
khoản của T4 (đây là tiền lãi 1 tháng từ 10/5/2024 đến 10/6/2024) để anh T1 trả
tiền phí đáo hạn cho T4. T định trả tiền tất toán cho Ngân hàng H4 để lấy sổ đỏ đã
thế chấp ra nhưng phía ngân hàng báo số tiền gốc, lãi và tiền phạt trả chậm mà T
phải thanh toán tổng là 1,247 tỷ đồng. Do chưa có đủ tiền để tất toán nên T đã
dùng số tiền này để trả 500 triệu đồng tiền mua đất cho bà X, số còn lại T chi trả
một số việc khác. Sau đó, T vay của anh Nguyễn Duy T4 số tiền 1,4 tỷ đồng để
giải chấp khoản vay. Khi vay, T hứa hẹn với T4 sau khi giải chấp sẽ thế chấp thửa
đất này để lấy tiền trả cho T4, nếu không thực hiện được sẽ sang tên thửa đất cho
T4.
Đến ngày 13/6/2024, anh T1 thấy các hứa hẹn của T đều không thực hiện
được, việc sang tên đất, làm visa không có tiến triển nên yêu cầu T viết giấy cam
kết với nội dung đã nhận đủ số tiền 1,1 tỷ đồng của anh T1 để đặt cọc mua đất cho
anh Phạm Hữu D1 và hẹn đến ngày 25/6/2024 sẽ có giấy thông báo của Phòng T8
về việc sang tên được thửa đất cho anh D1, nếu không sẽ trả lại anh T1 50% số tiền
đã nhận. Đến ngày 25/6/2024, T không trả lại tiền cho anh T1. Lúc này anh T1 yêu
cầu T trả lại toàn bộ số tiền đã nhận, không nhờ T làm visa hay bất cứ hoạt động gì
khác thì T nói nếu không nhờ việc cho anh D1 nữa thì bảo anh D1 đến Văn phòng
T7 để hủy vi bằng đã lập ngày 10/5/2024, còn tiền của anh T1 thì T hẹn sau khi
giải quyết xong việc bán đất sẽ trả anh T1 sau. Ngày 03/7/2024, anh D1 đi cùng T
đến Văn phòng T7 để hủy vi bằng đã lập trước đó ngày 10/5/2024.
Ngày 16/7/2024, T và T4 đến Ngân hàng để giải chấp, lấy lại sổ đỏ thửa đất.
T4 là người giữ sổ đỏ. Để thực hiện việc thế chấp ngân hàng, T nhờ Nguyễn Văn
L1 đứng tên hộ thửa đất rồi nhờ L1 mang giấy tờ đến ngân hàng để thế chấp. L1
7
đồng ý. Ngày 29/7/2024, T và L1 ký hợp đồng công chứng ủy quyền về việc T
chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho L1 mục đích để L1 thế chấp thửa đất với
ngân hàng để vay số tiền khoảng 1,7 tỷ đồng trả lại tiền cho anh T1 và T4. Ngày
05/8/2024, T đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất trên cho L1. Tuy
nhiên, L1 không làm thủ tục thế chấp sổ đỏ hộ T nữa vì sự việc khi đó đã được
trình báo cơ quan công an. Sau đó, đến ngày 05/12/2024, T đã bán được mảnh đất
này giá 2,3 tỷ đồng, T đã trả phí môi giới mua bán đất là 100 triệu đồng, trả cho T4
1,6 tỷ đồng, trả cho anh T1 300 triệu, còn lại T chi trả việc cá nhân. Số nợ còn lại
của anh T1, T xin anh T1 cho trả dần.
Bản án sơ thẩm nhận định: Do việc T nhận 1,1 tỷ đồng từ anh T1 để đặt cọc
mua đất cho anh Phạm Hữu D1 là có thật, được thể hiện qua việc T cùng anh D1
cùng lập vi bằng ngày 10/5/2024. Khi anh T1 không đồng ý nhờ T nữa thì T và anh
D1 đã lập vi bằng ngày 03/7/2024 để hủy vi bằng ngày 10/5/2024 với mục đích T
nhờ người khác đứng tên và thế chấp sổ đỏ mảnh đất của T để trả lại tiền cho anh
T1. Nên việc T chưa trả anh T1 số tiền 1,1 tỷ đồng (tính đến thời điểm anh T1 trình
báo ngày 16/7/2024) là giao dịch dân sự. Do đó không xem xét trách nhiệm hình
sự đối với Hoàng Thị T trong vụ việc này.
- Tại Bản kết luận giám định số 8068 ngày 19/11/2024 của Phòng PC09 –
Công an Thành phố H, kết luận: “ Chữ ký, chữ viết đúng tên Hoàng Thị T trên
giấy cam kết đặt cọc đất đề ngày 1.../6/2024 là của Hoàng Thị T”.
- Xác minh tài khoản A số 020040185924 mang tên “Pham Tan Thanh”. Xác
định không tồn tại số tài khoản trên (do chủ tài khoản đã đóng tài khoản).
- Xác minh tài khoản V2 số 100872393435 mang tên “Tran Van Ky”, xác
định chủ tài khoản là anh Trần Văn K (Sinh năm 1972, NKTT: ấp L, xã L, huyện
Đ, tỉnh Long An). Tại cơ quan điều tra anh K khai không quen biết T và không sử
dụng số tài khoản này từ năm 2018, do đó xác định anh K không biết về giao dịch
35.000.000 đ ngày 23/4/2024.
- Xác minh tài khoản V3 số 1041951732 mang tên “Phan Thanh T3”. Xác
định chủ tài khoản là chị Phan Thanh T5 (Sinh năm 2003, HKTTT: Khu phố D,
phường L, tỉnh Tây Ninh). Tại cơ quan điều tra chị T5 khai có đăng ký sử dụng số
tài khoản 1041951732 V3 từ tháng 10/2023, đến tháng 02/2024 thấy ngân hàng trừ
nhiều loại phí nên chị T5 xóa App ngân hàng trên điện thoại và không sử dụng
nữa, đến tháng 6/2024 chị T5 mới đến ngân hàng để làm thủ tục cắt giao dịch. Chị
T5 không quen biết T và không sử dụng số tài khoản này từ tháng 02/2024 nên
không biết về giao dịch 50.000.000 đ ngày 24/4/2024.
- Xác minh tài khoản MB số 0886281555 mang tên Nguyen Dinh L2. Xác
định chủ tài khoản là anh Nguyễn Đình L (chồng của T), tại thời điểm chuyển
khoản T là người sử dụng trực tiếp tài khoản này, anh L không biết gì về các giao
dịch trong tài khoản.
Về dân sự: Bản án sơ thẩm nhận định Hoàng Thị T đã khắc phục trả anh T1
190.000.000 đồng đã chiếm đoạt của anh Phạm Quyết T1. Ngoài ra T đã trả cho
anh T1 số tiền 234.000.000 đồng là một phần tiền trong tổng số tiền đã nhận từ anh
T1. Anh T1 yêu cầu T phải hoàn trả tổng số tiền 1.540.000.000 đồng (trừ đi tổng
số tiền 424.000.000 đồng).
Ngày 29/9/2025 và ngày 23/02/2026 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội đã
8
trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị T, Viện
kiểm sát đã có các công văn trả lời số 01/CV-VKS-KV4 ngày 07/10/2025 và số
05/CV-VKS-KV4 ngày 02/02/2026.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 265/2026/HS-ST ngày 09/4/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; Điểm b, s, n
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị
T 05 (năm) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Hoàng Thị T đã tự nguyện khắc phục
hậu quả, bồi thường cho anh Phạm Quyết T1 số tiền 190.000.000 đồng; anh T1
không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Không xem xét giải quyết đối với số tiền 1.116.000.000 đồng (Một tỉ, một
trăm mười sáu triệu đồng) trong vụ án này. Anh Phạm Quyết T1 có quyền khởi
kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/4/2026 bị cáo Hoàng Thị T có đơn kháng cáo
xin được giảm hình phạt và cho hưởng án treo.
Ngày 21/4/2026, bị hại anh Phạm Quyết T1 kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm
kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị T theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật
Hình sự và yêu cầu Hoàng Thị T hoàn trả toàn bộ khoản tiền đã chiếm đoạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội nhận định đơn kháng
cáo của bị cáo, bị hại làm trong thời hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Hoàng Thị T và bị hại anh Phạm Quyết T1 về hình thức.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo Hoàng Thị T đã đưa ra các thông tin
gian dối về khả năng làm visa đi Hàn Quốc, mở thẻ tín dụng hạn mức cao và thực
hiện thủ tục giải chấp, sang tên quyền sử dụng đất để anh Phạm Quyết T1 tin tưởng
chuyển tiền nhiều lần, tổng cộng 1.540.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, bị cáo
không thực hiện đúng cam kết mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị
cáo có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ
luật Hình sự. Cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” đối với số tiền 190.000.000 đồng là chưa đánh giá đầy đủ hành
vi phạm tội. Ngoài ra, việc xác minh số tiền gửi tiết kiệm, sử dụng thẻ tín dụng và
các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất chưa được làm rõ; một số yêu cầu
điều tra bổ sung chưa được thực hiện đầy đủ. Những thiếu sót này không thể khắc
phục tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để
điều tra lại.
- Bị hại anh Phạm Quyết T1 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng ý
với việc cấp sơ thẩm xác định bị cáo Hoàng Thị T chiếm đoạt số tiền 190.000.000
đồng. Tuy nhiên, đối với các khoản tiền còn lại, bị cáo đã đưa ra nhiều thông tin
gian dối về khả năng làm visa đi Hàn Quốc, mở thẻ tín dụng hạn mức cao và thực
hiện thủ tục giải chấp, sang tên quyền sử dụng đất để bị hại tin tưởng giao tiền. Sau
khi nhận tiền, bị cáo không thực hiện đúng các thỏa thuận, sử dụng tiền vào mục
9
đích khác và không trả lại tiền. Đặc biệt, đối với khoản tiền 1.100.000.000 đồng
giao để giải chấp, sang tên quyền sử dụng đất, bị cáo đã sử dụng 600.000.000 đồng
không đúng mục đích nhưng chưa làm rõ được việc sử dụng số tiền này. Bị hại cho
rằng hành vi của bị cáo có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc cấp sơ thẩm
chỉ xử lý hình sự đối với số tiền 190.000.000 đồng là chưa đầy đủ, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét lại bản án sơ thẩm, làm rõ toàn bộ hành vi của bị cáo và buộc
bị cáo hoàn trả số tiền còn chiếm đoạt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – Luật sư Nguyễn Thị H
trình bày: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ngày 13/6/2024, bị cáo Hoàng Thị T
viết giấy cam kết đã nộp hồ sơ làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho anh
Phạm Hữu D1; tuy nhiên, tài liệu điều tra thể hiện trước thời điểm này bị cáo đã
hứa bán thửa đất cho anh Nguyễn Duy T4. Luật sư đồng ý với quan điểm của đại
diện Viện kiểm sát về việc cấp sơ thẩm chưa điều tra, làm rõ đầy đủ hành vi của bị
cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo, bị hại có đơn kháng
cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
- Về việc xét xử vắng mặt bị cáo Hoàng Thị T: Tòa án đã tống đạt giấy triệu
tập hợp lệ 02 lần, tuy nhiên bị cáo đều vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo
không vì lý do bất khả kháng và không gây trở ngại cho xét xử. Căn cứ Điều 290
của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo
quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa xét xử ngày 29/9/2026, Luật sư Nguyễn Văn D bào chữa cho
bị cáo Hoàng Thị T nộp các tài liệu gồm: 01 bản photo Biên lai nộp án phí hình sự
sơ thẩm 200.000 đồng và 01 bản photo Phiếu tạm thu của Bệnh viện T9 thu
1.000.000 đồng của Hoàng Thị T ngày 25/9/2026; đồng thời tại Đơn đề nghị: Luật
sư trình bày bị cáo Hoàng Thị T đang điều trị tại Khoa thần kinh – Bệnh viện T9 -
Hà Nội.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị T:
Bị cáo Hoàng Thị T và anh Phạm Quyết T1 quen biết nhau từ đầu năm 2024.
Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024, do tin tưởng các thông
tin và lời hứa hẹn của bị cáo Hoàng Thị T nên anh Phạm Quyết T1 đã 04 lần
chuyển tổng số tiền 1.540.000.000 đồng cho bị cáo Hoàng Thị T, cụ thể:
- Ngày 18/3/2024 anh T1 chuyển 150.000.000 đồng mục đích làm Visa anh
cho các anh Phạm Hữu D1, Phạm Xuân Đ1, Phạm Văn H1 đi Hàn Quốc.
- Ngày 02/04/2024 anh T1 chuyển 100.000.000 đồng mục đích góp vốn làm
thẻ tín dụng cho anh Nguyễn Văn L1 sau 03 tháng sẽ lấy được tiền gốc và khoản
lãi 20%.
- Ngày 23/04/2024 anh T1 chuyển 190.000.000 đồng mục đích góp vốn làm
thẻ tín dụng cho anh Trần Văn O sau 01 tháng sẽ lấy được tiền gốc và khoản lãi
20%.
10
- Ngày 10/5/2024 anh T1 chuyển 1.100.000.000 đồng mục đích để giải chấp
thửa đất thửa đất số 339 tờ bản đồ số 21 có diện tích 125,6 m
2
tại xã P, huyện Q,
Thành phố Hà Nội (đứng tên Nguyễn Xuân Q, con trai bà Phạm Thị X) sau đó
sang tên cho anh Phạm Hữu D1 nhằm chứng minh tài sản của anh D1 khi xin visa;
sau đó sẽ thế chấp lại thửa đất để hoàn trả tiền cho anh T1 trong khoảng thời gian
một tháng.
Tuy nhiên, sau khi nhận tổng số tiền 1.540.000.000 đồng của anh Phạm Quyết
T1, Hoàng Thị T không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận, sử dụng tiền để
chi tiêu cá nhân không đúng mục đích cam kết và không hoàn trả đầy đủ cho anh
T1.
Bản án hình sự sơ thẩm số 265/2026/HS-ST ngày 09/4/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 – Hà Nội đã tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với số tiền 190.000.000 đồng mục đích góp vốn làm
thẻ tín dụng cho anh Trần Văn O và nhận định các khoản tiền còn lại là quan hệ
dân sự là chưa đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện nội dung vụ án.
2.1 Anh Phạm Quyết T1 chuyển 150.000.000 đồng và 1.100.000.000 đồng
nhằm mục đích làm Visa cho các anh Phạm Hữu D1, Phạm Xuân Đ1, Phạm
Văn H1 đi Hàn Quốc:
Khoảng đầu năm 2024, các anh D1, Đ1, H1 muốn xin Visa đi xuất khẩu lao
động Hàn Quốc, nên nhờ anh Phạm Quyết T1 giúp. Anh T1 gặp Hoàng Thị T để tư
vấn. Lúc đầu, T báo chi phí cho 01 người là 200.000.000 đồng, nhưng anh T1 thấy
chi phí cao nên muốn làm Visa đi du lịch: T hứa hẹn tư vấn hướng dẫn thủ tục để
cho đi Hàn Quốc thành công thì lấy công 20 triệu/1 người.
Sau khi hứa hẹn giúp anh Phạm Quyết T1 làm Visa đi Hàn Quốc cho các anh
D1, Đ1, H1. Bị cáo dẫn dụ, yêu cầu các anh T1, D1, Đ1, H1 làm các công việc
như: (1) Muốn đi Hàn Quốc thì phải mở loại thẻ P tại ngân hàng S để được ưu tiên
miễn thị thực và muốn ngân hàng miễn thị thực phải chuẩn bị giấy tờ tùy thân, xin
hộ chiếu và chuyển tiền cho T, mỗi người 50.000.000 đồng. (2) T nói với anh T1 tổ
chức cho các anh D1, Đ1, H1 đi du lịch Thái Lan 3 ngày (từ 09/4/2024 đến ngày
11/4/2024) để có dấu trong hộ chiếu sẽ dễ xin visa hơn. (3) Đầu tháng 5/2024, T
nói cần 1,1 tỷ đồng để giải chấp thửa đất, sau đó sang tên cho anh Phạm Hữu D1
nhằm chứng minh tài sản của anh D1 khi xin visa; sau đó sẽ thế chấp lại thửa đất
để hoàn trả anh T1 trong khoảng một tháng.
- Đối với số tiền 150.000.000 đồng: Do tin tưởng thông tin của Hoàng Thị T,
anh Phạm Quyết T1 đã chuyển cho T 150.000.000 đồng mục đích làm thủ tục visa
đi Hàn Quốc. Các tài liệu, chứng cứ và nội dung tin nhắn Zalo của anh Phạm
Quyết T1 đều thể hiện mục đích chuyển tiền để làm visa: “ngày 18.3 T1 CK 150tr
cho T để làm thủ tục visa”. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm lại nhận định Tâm nhận
150.000.000 đồng để làm thủ tục mở thẻ tín dụng là không đúng: “Do việc T nhận
mở tài khoản, mở sổ tiết kiệm và mở thẻ tín dụng cho các anh D1, Đ1, H1 vẫn
đang tiếp diễn, đến 09/7/2024 anh T1 báo dừng nên T không làm nữa. T không
dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 150 triệu của anh T1 trong vụ việc
này. Việc T chưa trả số tiền 150 triệu đồng cho anh T1 (tính đến thời điểm trình
11
báo) là giao dịch dân sự. Do đó không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng
Thị T trong vụ việc này.”
Sau khi các anh D1, Đ1, H1 đăng ký xong thủ tục, T yêu cầu ngân hàng chuẩn
bị giúp giấy ủy quyền với nội dung: Các anh D1, Đ1, H1 ủy quyền cho T được
nhận, đóng, sử dụng số tài khoản, sổ tiết kiệm và thẻ tín dụng của những người
trên. Đến ngày 09/7/2024, do thấy các việc T làm chưa có kết quả, anh T1 yêu cầu
T dừng không làm visa cho các anh D1, Đ1, H1 nữa thì T đã sử dụng hơn 112 triệu
trong thẻ tín dụng của anh Phạm Hữu D1.
Ngày 03/12/2024, Cục L5, Bộ N có Công văn số 5240 trả lời: Hai công dân
Phạm Văn H1 và Phạm Hữu D1 chưa tra cứu được lịch sử đăng ký xin visa. Việc
xét duyệt hồ sơ xin visa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực tài chính là
một yếu tố quan trọng để quyết định việc cấp visa cho cá nhân. Việc sở hữu thẻ
Platium của Ngân hàng S hay việc tài sản đặt ở đâu không ảnh hưởng đến kết quả
xét duyệt visa.
- Đối với số tiền 1.100.000.000 đồng: Hoàng Thị T hứa hẹn vay anh Phạm
Quyết T1 1.100.000.000 đồng để giải chấp thửa đất, sau đó sang tên cho anh Phạm
Hữu D1 nhằm chứng minh tài sản của anh D1 khi xin visa; sau đó sẽ thế chấp lại
thửa đất để hoàn trả tiền cho anh T1 trong khoảng một tháng. Nhưng sau khi T
được anh T1 chuyển 1.100.000.000 đồng, T không thực hiện theo lời hứa mà chi
tiêu 1.100.000.000 đồng vào việc cá nhân: T dùng 500 triệu để trả tiền mua đất cho
bà Phạm Thị X, còn lại 600 triệu dùng để chi tiêu cá nhân.
Các chứng cứ, tài liệu thể hiện Hoàng Thị T đưa ra thông tin, hứa hẹn vay tiền
để giải chấp thửa đất, anh Phạm Quyết T1 đã tin tưởng giao tiền: Anh T1 khai
chuyển tiền cho T là để T “giải chấp, sang tên cho anh D1”; Bị cáo T cũng khai
phù hợp với lời khai của anh T1 về mục đích giao tiền: “Tôi nhận 1,1 tỷ đồng của
anh T1 là để giải chấp thửa đất và sang tên cho anh Phạm Hữu D1.”; lời khai của
anh T1 và T phù hợp nội dung T nhắn tin: “Em đang có đất và xe sang tên đấy”;
“Làm luôn cái tài sản 1.3 tỷ”; “Em sang tên cho a D1 luôn.”; phù hợp với Văn bản
thỏa thuận và cam kết ngày 10/5/2024 giữa T với vợ chồng anh D1 thể hiện: T thực
hiện thủ tục sang tên tài sản cho anh D1 đứng tên hộ; sau khi đứng tên, anh D1 sẽ
thế chấp tài sản vay ngân hàng và tiền giải ngân do T sử dụng. T nhắn: “Em xác
nhận đã nhận 1.1 tỷ VND chuyển vào cọc đất. A D2 vay ngân hàng X1 chuyển lại
cho anh nhé.”. Tại “Giấy cam kết đặt cọc đất” Tâm viết “Tôi cam kết nhận đủ số
tiền mà ông T1 đã chuyển khoản vào tài khoản của tôi để mua nhà cho ông D2 và
tôi cam kết vào ngày 05 tháng 07 năm 2024 thì có sổ mang tên ông D2…” T cam
kết đến ngày 25/6/2024 sẽ bàn giao trả kết quả của Phòng T8; nhưng T thừa nhận:
“Thực tế tôi chưa giải chấp được sổ đỏ nên không có giấy tờ gì”.
Sau khi nhận 1.100.000.000 đồng, bị cáo đã chiếm đoạt tiền của anh T1; thể
hiện qua các chứng cứ, tài liệu sau: T nhắn cho anh T1 đang làm nhanh thủ tục giải
ngân: “Bên kia là 10/6 a”; “Giải ngân xong hoàn tiền a.”, mục đích T nhắn cho
anh T1 tin rằng thủ tục sang tên, vay ngân hàng đang được triển khai và sẽ hoàn
tiền, trong khi thực tế T không sử dụng tiền để giải chấp như cam kết. T khai: “Số
tiền 1,1 tỷ đồng tôi nhận từ anh T1 ngày 10/5/2024, tôi đã rút 500 triệu tiền mặt để
thanh toán tiền mua đất cho mẹ của Q.” “Số tiền 1,1 tỷ đồng tôi nhận từ anh T1,
12
tôi dùng 500 triệu để trả tiền mua đất, còn lại 600 triệu tôi dùng để tiêu xài vào
các mục đích khác.”. T khai: “Tôi xác nhận tôi không dùng số tiền anh T1 chuyển
cho tôi để giải chấp thửa đất nêu trên mà từ ngày 10/5/2024 đến ngày 03/7/2024,
tôi chỉ trả tiền mua đất cho Q.”.
Sau khi T sử dụng 1.100.000.000 đồng của anh Phạm Quyết T1 để chi tiêu cá
nhân, T tiếp tục hứa hẹn và vay của anh Nguyễn Duy T4 1,4 tỷ đồng để giải chấp
thửa đất (T khai sau ngày 03/7/2024 mới tìm được anh Nguyễn Duy T4 cho vay;
ngày 16/7/2024 anh T4 cùng T đến H4 giải chấp). Việc T thỏa thuận với anh
Nguyễn Duy T4 cũng không thông báo cho anh Phạm Quyết T1 biết, T xác nhận
thời điểm đó “chưa nói việc này với anh T1”. T khai sau khi giải chấp được thửa
đất, có thể bán theo giá thị trường để trả 1,1 tỷ đồng cho anh T1, “nhưng tôi đã cố
tình không làm như vậy”.
Như vậy, bị cáo đã hứa hẹn giúp anh Phạm Quyết T1 làm V đi Hàn Quốc cho
các anh D2, Đ1, H1. Bị cáo dẫn dụ, yêu cầu các anh T1, D2, Đ1, H1 làm các công
việc như: Mở thẻ P tại ngân hàng S để được ưu tiên miễn thị thực và nhận
150.000.000 đồng; nhận của anh Phạm Quyết T1 số tiền 1,1 tỷ đồng để giải chấp
thửa đất, sau đó sang tên cho anh Phạm Hữu D1 nhằm chứng minh tài sản của anh
D1 khi xin visa; sau đó sẽ thế chấp lại thửa đất để hoàn trả anh T1 trong khoảng
một tháng. Tuy nhiên, bị cáo đều không thực hiện theo cam kết, không đạt được
kết quả, chiếm đoạt tiền của anh Phạm Quyết T1. Ngoài ra, bị cáo còn thỏa thuận
với anh T1 góp vốn để mở thẻ tín dụng cho anh Nguyễn Văn L1 (Số tiền góp
100.000.000 đồng) và anh Trần Văn O (Số tiền góp 190.000.000 đồng) để anh T1
được hưởng tiền gốc và khoản lãi 20%, tuy nhiên bị cáo cũng không thực hiện theo
cam kết và chiếm đoạt tiền của anh T1.
2.2 Hành vi của Hoàng Thị T hứa hẹn mở thẻ tín dụng cho các anh
Nguyễn Văn L1 (100.000.000 đồng) và anh Trần Văn O (190.000.000 đồng):
- Số tiền 100.000.000 đồng để làm thẻ tín dụng cho anh Nguyễn Văn L1:
Ngày 02/4/2024, Hoàng Thị T nhận của anh Phạm Quyết T1 số tiền
100.000.000 đồng mục đích góp vốn để mở thẻ tín dụng cho Nguyễn Văn L1, sau
03 tháng sẽ lấy được tiền gốc và khoản lãi 20%. Bị cáo nhận tiền nhưng không làm
thủ tục gì với Ngân hàng: Ngày 25/09/2024, Ngân hàng T6 có Công văn số
175/2024 trả lời về nội dung: Không tiếp nhận hồ sơ đăng ký mở thẻ tín dụng cho
khách hàng tên Nguyễn Văn L1. Quá thời hạn 03 tháng, bị cáo không thực hiện
được cam kết và chiếm đoạt tiền của anh T1. Tháng 7/2024, anh Phạm Quyết T1
đã tố giác đến Cơ quan Công an.
- Số tiền 190.000.000 đồng để làm thẻ tín dụng cho anh Trần Văn O:
Ngày 23/4/2024, Hoàng Thị T nhận của anh Phạm Quyết T1 số tiền
190.000.000 đồng theo thỏa thuận góp vốn để mở thẻ tín dụng cho anh Trần Văn
O, thời hạn thực hiện là 01 tháng. Ngày 24/4/2024, anh Trần Văn O không nhờ
Hoàng Thị T làm thẻ tín dụng nữa, nhưng Hoàng Thị T không thông báo lại cho
anh Phạm Quyết T1, không hoàn trả tiền, mà sử dụng số tiền 190.000.000 đồng chi
tiêu cá nhân. Khi hết thời hạn thỏa thuận 01 tháng, anh T1 yêu cầu hoàn trả tiền thì
T tiếp tục đưa ra thông tin không đúng sự thật về việc đang chờ ngân hàng xét
duyệt, cần thêm thời gian để mở thẻ tín dụng; sau đó không thực hiện nghĩa vụ
hoàn trả, né tránh việc liên lạc với anh T1 và chiếm đoạt tiền của anh T1; đến ngày
13
16/7/2024 anh Phạm Quyết T1 đã tố giác đến Cơ quan Công an.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giao dịch
với anh Phạm Quyết T1, Hoàng Thị T đã nhiều lần đưa ra các thông tin, lời hứa
hẹn làm thủ tục xin thị thực đi Hàn Quốc, mở thẻ tín dụng hạn mức cao và thực
hiện thủ tục giải chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất để anh T1 tin tưởng giao
cho T tổng số tiền 1.540.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, T không thực
hiện đúng các nội dung đã cam kết, sử dụng tiền không đúng mục đích thỏa thuận,
tiếp tục đưa ra những thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản. Các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Trường hợp có đủ căn
cứ xác định bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 1.540.000.000 đồng
thì hành vi thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cấp
sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử Hoàng Thị T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự đối với số tiền 190.000.000
đồng, đồng thời xác định các khoản tiền còn lại là quan hệ dân sự là chưa đánh giá
đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn một số vấn đề chưa được làm rõ: Đối với
khoản tiền 150.000.000 đồng Tâm hứa hẹn làm thẻ tín dụng cho anh D3, Động H3,
chưa xác minh đầy đủ tại Ngân hàng S về số tiền thực tế gửi tiết kiệm mang tên
anh Phạm Hữu D1, số tiền ngân hàng đã khấu trừ để thanh toán dư nợ thẻ tín dụng
và số dư còn lại; chưa làm rõ quá trình quản lý, sử dụng số tiền và thẻ tín dụng của
anh D1.
Đối với khoản tiền 1.100.000.000 đồng, chưa điều tra, xác minh đầy đủ bản
chất giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa T với bà Phạm Thị X và anh
Nguyễn Xuân Q; chưa làm rõ việc T đã thanh toán 800.000.000 đồng, sau đó tiếp
tục thanh toán 500.000.000 đồng tiền mua đất trong khi giá chuyển nhượng thỏa
thuận là 2.000.000.000 đồng; nguồn tiền thực tế sử dụng để tất toán khoản vay
1.247.000.000 đồng tại Ngân hàng H4 và mối liên hệ với khoản tiền 1.400.000.000
đồng Tâm vay của anh Nguyễn Duy T4 để giải chấp thửa đất. Đối với số tiền
600.000.000 đồng, bị cáo khai đã sử dụng vào mục đích cá nhân nhưng chưa được
điều tra, xác minh làm rõ.
Đây là những tình tiết quan trọng trong việc xác định bản chất hành vi, ý thức
chiếm đoạt tài sản, số tiền bị chiếm đoạt và trách nhiệm hình sự của bị cáo. Những
thiếu sót này không thể khắc phục được tại cấp xét xử phúc thẩm. Vì vậy, cần hủy
Bản án hình sự sơ thẩm số 265/2026/HS-ST ngày 09/4/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 4 - Hà Nội để điều tra lại theo thủ tục chung, bảo đảm việc giải quyết vụ
án được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Tại phiên tòa xét xử ngày 29/9/2026, Luật sư Nguyễn Văn D bào chữa cho
bị cáo Hoàng Thị T có nộp Đơn đề nghị về việc bị cáo Hoàng Thị T đang điều trị
tại Khoa thần kinh – Bệnh viện T9 - Hà Nội. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp
phúc thẩm cần điều tra, xác minh làm rõ.
[3] Về án phí:
Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại nên người kháng cáo
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
14
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố
tụng hình sự:
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 265/2026/HS-ST ngày 09/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Hà Nội để điều tra lại theo thủ tục chung.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Thành phố H để
giải quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm f, khoản 2
Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án:
Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Về hiệu lực thi hành bản án:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hà Nội
- CQCSĐT- Công an Thành phố Hà Nội
- VKSND khu vực 4 – Hà Nội
- TAND khu vực 4 – Hà Nội
- Bị cáo
- Bị hại
- Luật sư
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Đức Hiếu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 641/2026/HS-PT Bản án số 641/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 641/2026/HS-PT Bản án số 641/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất